Sự kiện & Bình luận

Giông bão đêm trước thời Đổi mới. Bút ký của Bảo Ninh

Bảo Ninh
Bút ký phóng sự 09:12 | 18/02/2026
Baovannghe.vn- Sau ngày toàn tuyến hỏa xa xuyên Việt được khai thông, hầu như năm nào tôi cũng ít nhất một lần đáp tàu Thống Nhất vào Nam.
aa

Tới nay vẫn đều đặn vậy, thường xuyên tàu hỏa chứ rất hiếm khi máy bay hay xe đò. Mỗi năm mỗi chuyến tàu là mỗi chuyến ngược về quá khứ. Trên chuyến tàu hôm nay mà tôi thấy lại mồn một trong tâm trí chuyến tàu quân sự đưa tiểu đoàn rời Hà Nội vào Vinh, đi Bê, và rồi 6 năm sau, chuyến khứ hồi rời Sài Gòn đưa thương binh và lính giải ngũ ra Bắc.

Tôi cũng nhớ nằm lòng những chuyến tàu khổ ải thời ngăn sông cấm chợ, tôi và nhóm bạn cựu chiến binh cùng phố “ba lô lộn ngược xuôi tàu Bắc Nam” làm những áp-phe vụn vặt qua từng chặng ga để kiếm miếng cơm manh áo đặng đắp đổi qua ngày trong suốt cái thời cả nước nhọc nhằn khốn khó ấy.

Giông bão đêm trước thời Đổi mới. Bút ký của Bảo Ninh
Minh hoạ: Đỗ Dũng

Và nhất là, tôi đặc biệt nhớ chuyến tàu giông bão hồi tháng 10 năm 1985. Chuyến ấy tôi không đi kiếm tiền mà đi việc hỉ, và chỉ vào Huế thôi, để dự đám cưới con trai một người bạn. Một chuyến tàu giông bão, theo đúng nghĩa đen.

Hồi đấy, từ ga Hàng Cỏ vào ga Bình Triệu mà may mắn không gặp trắc trở thì tàu Thống Nhất chạy ì ạch 72 tiếng, nếu chỉ tới ga Huế thì mất chừng hơn một nửa số giờ ấy. Chuyến đó, lúc ngang Đồng Hới đã gặp trắc trở, gió mạnh mưa lớn, tàu phải dừng cả tiếng. Nghe qua radio bán dẫn của người ngồi bên, tôi được biết là bão đang vào vùng biển Bình Trị Thiên. Nhưng hồi đó cái sự thời tiết tốt xấu không có mấy ý nghĩa đối với bàn dân thiên hạ đang tất thảy bất chấp hên xui liều thân kiếm sống. Bão, kệ, hành khách chẳng xá gì, nhà tàu cũng chẳng xá gì, vẫn chuyển bánh chạy tiếp. Song đến đêm thì không thể liều hơn được nữa, đoàn tàu bị những cơn cuồng phong chặn đứng tại ga Đông Hà. Không khác nào là bị thảm bom B52 táng xuống cách mình chỉ chừng trăm thước, và liên miên, vùi dập, không dứt, đến tận sáng. Về sau khi biết trận bão số 8 ấy mạnh trên cấp 12, là siêu bão thế kỉ, tôi cứ lấy làm lạ, không hiểu nhờ đâu mà đêm đó các toa tàu ọp ẹp không bị gió xô đổ và xé nát, mặc dù ga Đông Hà nằm ngay bên rìa tâm bão.

Sáng ra, 16 tháng 10, gió giảm cường độ nhưng mưa càng lớn, lút trời ngập đất. Đông Hà mười năm sau chiến tranh lại như một lần nữa chiến tranh. Từ nhà ga đền gần hết thị xã chẳng còn cái mái nhà nào. Tất cả tan hoang, và chìm lụt. Ngày đó đã gặp khốn thì khốn cùng. Hành khách trên chuyến tàu tất thảy ướt mèm, rét run, đói và sợ, nhưng nhà tàu chỉ có thể lo ăn và chỗ trú cho người già, trẻ nhỏ, phụ nữ, còn đàn ông tự thân vận động. Quay trở ra Bắc thì không thể vì phải bơi, mà đi vào cũng vậy, mênh mông biển nước tràn bờ của sông Thạch Hãn, sông Thác Ma, Mỹ Chánh, Ô Lâu…

Tôi may mắn có người bạn ngày trước cùng đơn vị công tác ở tỉnh đội Quảng Trị nên đi nhờ được xe lội nước của công binh trên đường vào ứng cứu đồng bào nam Hải Lăng, do vậy mà đã rẽ sóng trót lọt được qua hơn 30 cây số của “đại lộ Kinh Hoàng”. Nhưng từ nam cầu Mỹ Chánh thì phải đội mưa lội bộ. Quốc lộ Một chìm dưới nước, còn có mỗi đường hỏa xa như con đê để đi từ Phong Điền vào Huế, nhưng con đê độc đạo này cũng bị giông tố làm cho lở lói trồi sụt, đoạn còn đoạn mất. Chỉ 40 cây mà lệt bệt lết từ chiều 16 mãi sáng 17 đúng ngày làm lễ cưới ghi trong thiệp mời (4/9 âm lịch) tôi mới lội nước lần đến được nhà anh Thung bạn tôi, là nhà trai, ngay bờ sông Hương, gần phố chợ Bao Vinh.

Nhưng còn nhà nào, phố nào, bờ sông nào nữa. Vẫn đang mưa trắng trời, nước sông Hương và sông Đông Ba ào ạt tràn bờ. Thành phố Huế, cả bờ bắc lẫn bờ nam sông Hương nhà sập cây đổ tan hoang tanh bành. Nhà anh Thung thì chỉ mới tốc mất mái chứ chưa sập, nhưng cảnh tượng vẫn rất thảm và cả dễ sợ nữa, bởi toàn bộ diện tích vườn cây phía sau nhà đã bị lở hết xuống sông, bị xoáy nước cuốn đi, mép sông chờm sát chân tường và sóng nước sầm sầm xô qua thềm ập vào nhà. Trong nhà đồ đạc tư trang, rương hòm, gạo mì, các thức đồ ăn thức uống nổi lềnh phềnh trên nền gạch vỡ. Gia đình anh Thung nửa đêm thoát thân ra ngoài mưa, và lúc bấy đang co ro tụm lại với nhau dưới mái nilon của một cái lều dựng tạm bợ bên rìa lộ. Nhìn thấy tôi, ông khách Hà Nội đã chí tử xông pha mưa gió vào ăn cưới cho bằng được, anh Thung cảm động ôm chầm lấy, và khóc, rớm nước mắt trong mưa. Dĩ nhiên là còn cưới xin gì, lo cái ăn cho lũ trẻ chưa xong. Mà nhà gái, ở làng Chuồn ngoài phá Tam Giang, không biết sống chết thế nào. Chú rể, thằng con cả của anh, từ hôm qua khi vừa ngớt bão đã lặn lội ra đấy, vẫn chưa tin tức gì về…

Anh Thung trước giải phóng đồn trú ở Cam Ranh, lính quân vận, lon trung sĩ; đầu tháng 4 năm 1975 bị bắt rồi được thâu nạp làm tài xế cho quân ta. Trong suốt cuộc hành quân của Quân đoàn 3 từ Cam Ranh vòng trở lại Buôn Ma Thuột rồi xuôi xuống Đông Nam bộ để tiến đánh Sài Gòn, tiểu đội tôi ngự trên chiếc GMC do Thung cầm lái. Ngay buổi đầu, hỏi chuyện, tôi đã vừa vui vừa ngỡ ngàng được biết anh chẳng những đồng hương Đồng Hới mà còn là bà con với mình, cùng họ khác chi. Hơn một tuần đường trường bên nhau, tôi mỗi ngày một thêm thân tình và quý mến Thung. “Ngụy mà lành”.

Hòa bình, Thung trở lại Huế trú quán của gia đình anh từ di cư 1954. Tôi thì từ sau giải ngũ lần nào vào Huế cũng tới thăm anh. Thuở ban đầu, gia đình anh rất đỗi gieo neo. Đi kinh tế mới lên A Lưới, rồi bỏ về, đã bị mất nhà trong phố nên đành sống vất vưởng bên rìa sân bay Tây Lộc, anh lúc làm phu hồ khi đạp xích lô, chị buôn thúng bán mẹt, nuôi đàn con lau nhau năm đứa. Quẫn bách, năm 1982, dù tuổi đã ngoài bốn mươi anh vẫn liều theo người ta đi phu đào đãi vàng trong các “bửng” ở miền tây Quảng Nam. Được trời thương, cho trúng mánh, cuối năm 1984 trở ra với vợ con, mặc dù dặt dẹo ốm liệt giường mất mấy tháng, nhưng anh đã có tiền, đủ để tính chuyện đổi đời. Tậu sào đất bên sông Hương gần Bao Vinh, vợ chồng anh dựng nhà, không phải nhà rường nhưng cũng đàng hoàng tường gạch mái ngói, sân sướng vườn tược, chẳng giàu nhưng cũng xe máy, ti vi và nhất là đủ lực dạm vợ cho thằng cả.

Nhưng mà rồi ông trời lại ngoảnh mặt, chẳng thương cho nữa. Ngày 14 tháng 9 năm 1985, đổi tiền! Một đồng mới ăn 10 đồng cũ, mà mỗi hộ gia đình chỉ được đổi 2 vạn cũ lấy 2 ngàn mới. Số tiền tích cóp còn tồn lại trong rương cho dù có là bạc triệu cũng để xó đó, xét sau. Đã chạm ngõ, đã ăn hỏi, ngày lành tháng tốt đã chọn, đùng một cái cơn “bão tiền”, còn trơ ra có hai ngàn đồng, bàng hoàng, song hai gia đình vẫn nhất quyết đám cưới đúng ngày giờ. Song sự đời họa vô đơn chí, đúng một tháng sau, lại đùng một cái, trận bão số 8 bất thần như trời sập, không chỉ tiệc cưới đã sẵn sàng đó mà cả nhà cửa, vườn tược, của nả đều bị thiên lôi hà bá nuốt sạch…

Vậy là thay vì làm đám cưới, gia đình anh Thung phải di tản. Dù nước đang dần rút và chưa cần chính quyền yêu cầu, bản thân anh đã tự giác. Bởi không thể vì tiếc của mà liều mạng bám lấy mấy thước nền nhà còn sót lại chênh vênh ngay kề mép bờ sông đang sụt lở. Tôi thì thay vì ăn cưới, phải è cổ phụ anh thu vén của nả chuyển nhà. Thật ra cũng chỉ là mấy cái bao tải nhồi nhét nồi niêu với quần áo chăn mùng chứ của nả còn gì mà thu vén. Nhà thì cũng đâu còn mà chuyển, chẳng qua là chạy thoát thân. Vợ chồng con cái dắt díu nhau lên Thượng Thành chiếm dụng bất hợp pháp một vạt chừng bốn chục thước vuông, dựng phứa lên một cái gọi là nhà, với mái và ba bức vách quây tôn, bức còn lại thì mượn bờ tường của kinh thành nhà Nguyễn. “Cung điện của hành khất”, Thung đặt tên cho cái cơ ngơi mới mẻ của gia đình mình như vậy.

Hai tuần sau đường sắt được khôi phục, Thung qua sông ra ga tiễn tôi. Bắt tay anh, tôi nói lời tạm biệt. Thung giữ tay tôi không buông ngay và bảo chắc từ đây mình từ biệt nhau chứ chẳng tạm đâu. Sức đã kiệt không xoay xở nổi nữa mà tình cảnh thế này đường cùng rồi, chỉ còn một ngả là ra biển, anh bảo vậy, và lầm rầm thổ lộ điều bí mật, rằng, với số tiền cũ còn đọng lại chưa được đổi đợi đến “khi nào được đổi” sẽ lập tức tìm mua vàng để chung với người ta đóng thuyền vượt biên.

Tôi khuyên Thung đừng thoát thân ngả ấy, bỏ đất mẹ đâm đầu ra ngoài đó tức là đi xa hơn vào đường cùng, là chìm sâu hơn xuống vực. Vốn dĩ chẳng bao giờ chính trị chính em với ai, vậy mà lạ thay lúc đấy tôi lại đã rất chi là quan điểm lập trường với Thung. Tuy nhiên không phải là tôi làm bộ, bởi vì khuyên nhủ bạn mà thực ra là tự nhủ mình. Có thể là từ vô thức nhưng không phải là sự động viên lấy được, khi đấy tôi dự đoán chắc nịch với Thung rằng đã đường cùng rồi thì sẽ thấy ra con đường mới, đã sa xuống đáy rồi tất sẽ tìm được lối lên, cho nên, hãy kiên tâm nhẫn nại, gồng mình lên làm lụng và xoay xở, chịu đựng thêm một thời gian nữa, vận hội sáng sủa nhất định sẽ đến với cuộc đời chúng mình.

*

Nhiều năm sau, khi đất nước đã vững bước trên tiến trình Đổi Mới, lắm khi ngẫm lại tôi thấy tự thán phục lời dự đoán của mình ngày ấy trên sân ga Huế. “Vận hội sáng sủa nhất định sẽ đến!”, vào một cái tình cảnh như thế, một cái năm như thế, làm thế nào mà mình có thể khẳng định được như vậy? Trong kí ức của tôi, những năm nửa đầu thập niên 1980 không khác nào một chuỗi toa tàu y chang nhau, cũ kĩ và xám xịt, nối nhau chạy chậm rề. Y chang nhau, song toa cuối, năm 1985, vẫn “nổi trội” lên vì sự tiều tụy, sự trống rỗng, ọp ẹp và han rỉ. Ấy là năm của thiên tai dữ dội, bão lụt hoành hành. Năm mà địch họa đè nặng hai đầu đất nước, năm cao điểm của cuộc bao vây cấm vận. Và đấy là năm của trận Giá - Lương - Tiền với đỉnh điểm là cuộc đổi tiền mùa thu, dẫn đến lạm phát, đẩy nền kinh tế và đời sống của muôn dân cả nước như là tụt dốc không phanh.

Tuy nhiên, nào phải là tôi có tài tiên tri. Chẳng qua đó là dự cảm của muôn người. Chẳng qua cũng như tất cả mọi người, chính tình cảnh khốn đốn năm 1985 lại đã khiến tôi cảm nhận thấy ánh sáng cuối đường hầm, mặc dù chưa thực sự nhìn thấy. Tôi nhớ, tết ấy từ Ất Sửu sang Bính Dần, rét mướt và thiếu thốn, mà Bài ca Hi vọng của nhạc sĩ Văn Ký được phát liên tục trên đài phát thanh. “Đổi mới”, khi đấy chưa có từ đó, song đã là nguyện vọng và ý chí dâng trào trong lòng người, muôn người như một. Chừng như chính nhờ sự khốn khó của 1985 mới có sự bừng sáng của 1986, tôi nghĩ vậy.

Bản thân tôi từ năm 1986 đã dám viết dòng đầu tiên của truyện ngắn đầu tiên, chưa biết có thành hay không, nhưng là đã quyết từ bỏ lối sống vụn vặt được chăng hay chớ ngày trước để đi con đường mới của người cựu binh. Còn anh Thung, không hiểu có phải là do lời khuyên của tôi hay không, đã không vượt biên. Anh vừa chốt lại trên Thượng Thành vừa cố gắng xoay xở với chút xíu phần đất còn dính lại ở Bao Vinh bên bờ sông Hương. Không rõ số tiền bị kẹt hồi đổi tiền có được giải tỏa hay không, tôi không hỏi, chỉ thấy tới năm 91 thì anh đã rời khỏi Thượng Thành mua nhà vườn trong làng Kim Lăng, ung dung sống cuộc sống điền viên.

Giờ đây từng này tuổi rồi tôi vẫn hàng năm ngược xuôi tàu Bắc Nam, khi vào Thành phố Hồ Chí Minh khi chỉ tới Đồng Hới, hoặc Huế. Các bạn tôi đùa tôi là “cây bút chuyên về tàu hỏa”. Đúng là như thế. Trên tàu, trừ khi thiếp ngủ, tôi hầu như chẳng rời mắt khỏi cửa sổ. Cái mà trong văn học vẫn được diễn đạt, theo một cách khá là mơ hồ và khó mường tượng, là “sự đồng hiện”, thì từ trên tàu hỏa trông ra, người ta có thể nhìn thấy và cảm thấu được qua từng cây số. Đoàn tàu lướt đi trong thực cảnh mà gọi về vô vàn những cảnh xưa chuyện cũ. Có thể nhìn thấy rõ mồn một những gì đã mất đi, những gì còn lại của quá khứ. Và tất nhiên, những đổi thay. Cứ vậy, chuyện này nối chuyện kia miên man hiện về.

Dấu xưa - Thơ Vũ Quần Phương

Dấu xưa - Thơ Vũ Quần Phương

Baovannghe.vn- Võng nhà đã bén ca dao/ gừng cay muối mặn đã vào lời ru
Giếng chùa - Thơ Trần Thị Nương

Giếng chùa - Thơ Trần Thị Nương

Baovannghe.vn- Bao năm ròng trở lại/ Đâu tuổi thơ khúc khích cạnh Giếng Chùa?
Sân khấu truyền thống “khoác áo mới” dịp Xuân về

Sân khấu truyền thống “khoác áo mới” dịp Xuân về

Baovannghe.vn - Hòa cùng không khí tươi mới của những ngày đầu xuân, sân khấu truyền thống hai miền Nam - Bắc cũng không ngừng tạo nên những bước chuyển đột phá trong nội dung, không gian biểu diễn.
Một trưa Phạm Gia Viên

Một trưa Phạm Gia Viên

Baovannghe.vn - 1. Xe xuất phát Tuy Hoà rạng sáng, đua vui dọc đường cùng bình minh biển, tới Quy Nhơn mặt trời chào đón ngang tầm mắt.
Hữu Vi vượt lên “nỗi buồn trăm sải”

Hữu Vi vượt lên “nỗi buồn trăm sải”

Baovannghe.vn - Quen biết anh em văn nghệ Nghệ - Tĩnh nhiều năm nay, tôi “nghiệm” thấy ý kiến một ai đó rằng, nhà thơ Thạch Quỳ sinh thời khó tính với bạn viết, thực ra chỉ là cái nhìn hiện tượng, không bản chất và thuyết phục.