Sau điểm tâm, chúng tôi khởi hành lên làng Mai thăm quê nhà thơ Phạm Hổ. Làng Mai là cách gọi thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, tỉnh Bình Định, nay là phường An Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai - “thủ phủ” mai vàng miền Trung.
|
Theo nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Phạm Hổ “là một món quà đặc biệt mà Tạo hoá đã thửa riêng, làm riêng để trao tặng các đấng con trẻ.” Với tôi, ông là người thầy dẫn dắt tôi làm thơ cho trẻ em.
Năm 1991, dự trại sáng tác tại Hà Nội, tôi may mắn được gặp nhà thơ Phạm Hổ. Đây là trại sáng tác văn học thiếu nhi đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam, sau khi đất nước thống nhất, quy tụ các tác giả của mọi miền. Nhà thơ Phạm Hổ khi ấy là Chủ tịch Hội đồng Văn học thiếu nhi - Hội Nhà văn Việt Nam. Các trại sáng tác tương tự tiếp tục được tổ chức, góp phần tạo nên giai đoạn “vàng” cho văn học thiếu nhi sau năm 1975. Tâm huyết của nhà thơ Phạm Hổ đã được Hội Nhà văn Việt Nam đặc biệt quan tâm trở lại mấy năm gần đây, với nhiều hoạt động cùng kết quả đáng mừng.
Cơ duyên tôi được nhà thơ Phạm Hổ ưu ái đọc, góp ý bản thảo. Ông dùng bút chì khuyên tròn chữ nên bỏ, gạch chân chữ cần xem xét, hoặc chú ý đến vần. Có chỗ ông dẫn ra lề để giải thích, hướng dẫn cách dùng từ, sử dụng hình ảnh… Làm biên tập, toà soạn quy định dùng bút đỏ, mỗi khi gạch ngang chữ cần bỏ, tôi luôn hình dung tới cách không làm “đau” con chữ của ông.
Bài thơ Làm cô dâu từ tập bản thảo của tôi được ông chọn in trong tuyển tập Văn học cho thiếu nhi (Văn học Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám), NXB Văn học 1995 và trong sách ông viết lời bình Những bài thơ em yêu, NXB Giáo dục 1997. Mãi tới năm 2013, khi được làm ông, tôi mới hoàn thiện tập thơ, đưa xuất bản, thành món quà tặng đích tôn (Tập đếm, NXB Kim Đồng). Tôi luôn nhớ ơn người thầy - nhà thơ Phạm Hổ chỉ dẫn, động viên, để tôi có được tập thơ đầu tay cùng niềm vui sáng tác cho thiếu nhi.
Đâu chỉ riêng tôi, nhà thơ Phạm Hổ đã để lại những kỉ niệm, ấn tượng khích lệ cho nhiều tác giả. Nhà thơ Lê Hồng Thiện nhớ lại: “Nếu ở trại sáng tác lần ấy không có nhà thơ Phạm Hổ nâng đỡ, dìu dắt, rồi tiếp tục chăm sóc, vun đắp thì sao có được một thế hệ nhà văn, nhà thơ viết cho thiếu nhi chúng tôi.” Tại trại sáng tác năm 1994, ông gợi ý cho nhà thơ Hoài Khánh đổi tên bài thơ Bé kim giây thành Đồng hồ báo thức, trở nên bài thơ hay, được đưa vào sách giáo khoa lớp 3 năm 2001. Nhà thơ Nguyễn Châu có bài thơ Gà mẹ đẻ trứng được ông khen “gọn hơn bài thơ Mười quả trứng tròn của tớ, ít chữ mà nói đầy đủ về “chú gà con” sinh sôi trưởng thành và ngoan ngay từ trong bụng mẹ…”
Từ Tuy Hoà của “xứ sở ghềnh đá”, chúng tôi sang miền “đất võ, trời văn”, “hội quân” ở Quy Nhơn, một điểm nhìn ra bãi tắm, chếch phải thấy rõ Ghềnh Ráng - Tiên Sa, nơi an nghỉ của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Chuyến đi được đẩy sớm một hôm, đúng ngày “lục bát” (6/8), nên thầy giáo, nhà thơ Trần Xuân Toàn, giảng viên Đại học Quy Nhơn đang ở xa, không về kịp để đi cùng. Vợ chồng thầy giáo Lê Nhật Ký đã chuẩn bị, sắp đặt, từ lễ vật đến hẹn trước với nơi tới. Và thật bất ngờ, vợ thầy chính là người vùng làng Mai, cũng dòng họ Phạm, tiến sĩ Phạm Thị Ngọc Hoa.
Từ Quy Nhơn chúng tôi thẳng lên Thanh Liêm, ngược con đường mà nhà thơ Phạm Hổ từ đó đi học, theo kháng chiến, rồi tập kết ra Bắc. Đây cũng là cung đường mà thầy giáo trẻ người Quảng Trị Lê Nhật Ký đến với vùng mai vàng sưu tầm văn học dân gian rồi “tầm” được người bạn đời - cô giáo Phạm Thị Ngọc Hoa.
Là người nghiên cứu và giảng dạy văn học thiếu nhi tại Đại học Quy Nhơn, tiến sĩ Lê Nhật Ký đã dành tâm huyết tìm hiểu cặn kẽ về nhà thơ Phạm Hổ với các tiểu luận: Phạm Hổ, viết cho thiếu nhi là một hạnh phúc; Dấu ấn văn hoá Phật giáo trong chuyện hoa, chuyện quả của Phạm Hổ; Truyện viết tiếp của Phạm Hổ và Võ Đức Thọ…
Lần đầu cùng các bạn của mình tới “thủ phủ” mai vàng, với vợ chồng thầy Lê Nhật Ký còn có nghĩa là trở về. Trời cao xanh ngưng từng cụm mây trắng, cảnh vật bên đường như đã từng qua, dáng người nào thân thương, gần gũi. Chỉ ra ngọn tháp nhỏ xa xa, thầy Lê Nhật Ký bảo “tháp Bánh Ít đấy”, rồi đọc Từ trời xanh/ Rơi/ Vài giọt tháp Chàm (Văn Cao). Quả là “đất võ, trời văn”, quê hương của anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - hoàng đế Quang Trung, và là nơi sinh, nuôi dưỡng, dừng chân những danh nhân văn hoá, thi nhân, nghệ sĩ nổi tiếng, đã đi vào lịch sử văn học, nghệ thuật nước nhà. Hẳn nhà thơ Phạm Hổ nhiều lần thấy “giọt tháp Chàm” kia, không rõ khi ấy ông đã nghĩ gì. Chỉ biết nhà thơ đã bộc lộ: Suốt đời tôi chỉ mơ/ Được làm cho các em/ Những bài thơ nho nhỏ/ Như những hòn bi xanh đỏ, các em chơi/ Như những quả quýt, quả cam các em tay bóc vỏ, miệng cười… (Những bài thơ nho nhỏ).
2. Trong lối rẽ có cổng chào hiện dòng chữ lớn “Làng nghề trồng mai cảnh”. Tưởng đã tới Thanh Liêm, nhưng dòng chữ nhỏ hơn phía dưới “thôn Háo Đức, xã Nhơn An”. Sau cuộc điện thoại xác định điểm hẹn của thầy Lê Nhật Ký, xe chúng tôi đã vòng lại, rồi ngoặt vào thôn Thanh Liêm.
Người đạp xe ra đón chúng tôi là ông Đào Viết Bửu, bà nội ông là cô ruột của nhà thơ Phạm Hổ. “Đây là nhà tôi, nhà cụ Phạm Hổ phải đi tiếp nữa”, ông nói khi đã dẫn chúng tôi vào nhà. Người cháu này của nhà thơ cũng làm thơ, là hội viên Hội VHNT của tỉnh. Nhà giáo, nhà thơ Đào Viết Bửu ký tặng từng người chúng tôi tập thơ Sự ẩn dụ của đá, trong đó có bài thơ về làng Thanh Liêm của mình: Thanh Liêm/ Sinh địa làng bản sắc/ Thời bần dân học chữ ở ca dao/… Những đời văn làm lành ruột mẹ đau/… Thế hệ chúng tôi sáng mắt nhìn tầm mở/ Biết ơn điều ước ông cha từ buổi đặt tên làng.
Gần trưa, từ nhà ông Đào Viết Bửu tới nhà của nhà thơ Phạm Hổ, một bên làng, một bên vườn, đúng hơn là cánh đồng hoa mai chuẩn bị ra nụ, từng cây trong chậu, cao tới vai người.
Xe dừng trước ngôi nhà vườn có cổng lớn trên phiến đất rộng. Đứng bên cổng chờ đón là ông Phạm Thế Sanh, cháu gọi nhà thơ Phạm Hổ bằng chú, cũng dáng cao to.
Ông nội của ông Sanh là bác ruột nhà thơ Phạm Hổ. Ngôi nhà xưa của các cụ đã được gia đình ông Sanh xây dựng lại, trên nền nhà cũ, cửa hướng nam, tít xa thấy núi. Phía trước nhà đặt viên đá lớn khắc chữ “Phạm Gia Viên”. Ông Sanh vui cười mời nước chúng tôi, rồi nhìn xa xăm kể, cơ ngơi “Phạm Gia Viên” này tiến hành thi công vào năm 2007, đang làm dở thì chú Phạm Hổ tôi mất ở Hà Nội, thọ ngoài tám mươi tuổi.
Chúng tôi dâng hương gia tiên, tưởng nhớ nhà thơ Phạm Hổ. Trải giây phút thành kính, chủ và khách cởi mở. Ông Phạm Thế Sanh giơ ngửa hai bàn tay, vẻ mặt tự hào nhắc tới các chú của mình. Câu chuyện tự nhiên cuốn vào những giai thoại chung quanh bài thơ Những ngày xưa thân ái của nhà thơ Phạm Hổ và ca khúc cùng tên của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, em trai nhà thơ. Bài thơ viết năm 1950, in trong tập thơ cùng tên năm 1957 ở miền Bắc của người anh. Cũng năm 1957, ca khúc được sáng tác và công bố của người em ở miền Nam, mà ca từ khởi nguồn từ bài thơ của người anh, với niềm thương luyến tiếc, khát khao đoàn viên. Có cả niềm thương ấy cùng hoài niệm tuổi thơ, quê hương trong chí nguyện làm thơ, viết văn cho trẻ em của nhà thơ Phạm Hổ: Gói cơm mo mẹ vắt xách tùng tơn/ Nón rộng thòng quai/ Trong túi hộp diêm nhốt dế… (Những ngày xưa thân ái).
Nói về nhà thơ Phạm Hổ thì không thể không nhắc đến nhà văn Phạm Văn Ký, anh trai cả và là người ảnh hưởng lớn đối với nhà thơ. Trước khi sang Pháp, nhà văn Phạm Văn Ký đã có vị trí nhất định trong văn đàn, báo chí ở Việt Nam. Năm 1939, sang Pháp khi 29 tuổi, ông viết tiểu thuyết, làm thơ và sáng tác kịch. Năm 1961, tác phẩm Mất nơi ở của ông được trao giải thưởng lớn về tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp. Ông qua đời tại Paris năm 1992, được báo chí ca ngợi là “hào kiệt văn chương”. Một năm sau khi ông mất, tập thơ Đường về nước, trong đó có bài thơ Đập đá ở Đại Yên, do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Rất có thể, dịp về Việt Nam năm 1970, với tư cách thành viên đoàn trí thức Việt kiều yêu nước, ông đã tới thăm vịnh Hạ Long nên biết tới mỏ đá Đại Yên mà có bài thơ này.
Trông nom “Phạm Gia Viên” chủ yếu là ông Sanh, nhà riêng ông ở mãi Quy Nhơn, cách khá xa. Khi nghỉ hưu từ ngành Công an, ông mới có nhiều thời gian đi lại, chăm sóc nơi thờ cúng tổ tiên. Thầy Lê Nhật Ký sau khi ngắm nhìn phòng khách, phòng thờ, cho rằng nên có một góc để trưng bày các tác phẩm của nhà thơ Phạm Hổ, “để nơi đây cũng là điểm đến để bồi đắp tình yêu văn học cho thiếu nhi”. Thầy mong muốn có được một thư viện mang tên nhà thơ Phạm Hổ. Thầy là người đề xuất đặt tên đường mang tên ông, nay trong tỉnh đã có hai đường “Phạm Hổ”, ở phường Quy Nhơn Nam và ở phường Bình Định.
Bước nhẹ trên sân tới khóm hoa hồng, nhà thơ Bảo Ngọc tay nâng hoa, mắt ngời lên thủ thỉ: Chị ơi vì sao/ Hoa hồng lại khóc?/ - Không phải đâu em!/ Đấy là hạt ngọc/ Người gọi là sương/ Sao đêm gửi xuống/ Tặng cô hoa hồng... (Bướm em hỏi chị - Phạm Hổ). Từ cổng nhà, tôi bước lên dấu chân thuở nhỏ nhà thơ Phạm Hổ cắp sách băng qua cánh đồng làng, lội sông sang xã bên để học nhờ, vì xã nhà chưa có trường. Khi tôi chụp ảnh phiến đá “Phạm Gia Viên” thì xuất hiện một bướm trắng to vòng qua, vòng lại. Nhìn theo cánh bướm, nhà thơ Bảo Ngọc nói “cụ về đấy, cụ biết hôm nay chúng mình tới đây”.
“Phạm Gia Viên” đang lưu giữ không gian tuổi thơ của ba anh em, một nhà văn, một nhà thơ và một nhạc sĩ, niềm tự hào của miền “đất võ, trời văn”: Phạm Văn Ký, Phạm Hổ, Phạm Thế Mỹ.
Nhìn từng lá mai rung lên trong gió, ông Bửu kể, cây mai đã có từ lâu trên đất Bình Định, nhưng việc trồng mai, tạo mai cảnh ở làng này, xã này, vùng này mới mấy chục năm nay, từ sau năm 1975, khi đời sống kinh tế cả nước khấm khá lên. Nhiều tên tuổi nghệ nhân cùng thương hiệu “Mai vàng Nhơn An” đã được cả vùng, cả nước biết đến. Cây mai cảnh từ đây đến với mọi miền, đặc biệt sản phẩm mai bonsai cao cấp luôn có vị trí độc tôn tại thị trường TP.Hồ Chí Minh.
Miền “đất võ, trời văn” rực rỡ hơn bởi có “sắc mai vàng”. Dù chưa quen thuộc với tên đơn vị hành chính mới, nhưng thương hiệu “Mai vàng Nhơn An” vẫn luôn chỉ dẫn tới thôn Thanh Liêm, nơi có “Phạm Gia Viên” - ngôi nhà tuổi thơ của nhà thơ Phạm Hổ.
3. Chia tay làng Mai giữa trưa nắng tràn, nắng trong vườn mai, mai trong vườn nắng. Hình như cái nắng ở làng Mai cũng khác, nó như vừa thách thức, vừa thúc giục niềm đam mê, đức kiên trì, sự khéo léo cùng phong phú trí tưởng tượng của người trồng mai, chăm mai, chơi mai.
Thầy Lê Nhật Ký - nhà “Bình Định học” đã giải thích, trả lời những vấn đề mọi người tìm hiểu. Vợ thầy, vừa nhanh nhẹn chụp ảnh các hoạt động, vừa tháo vát trong việc tổ chức chuyến đi. Tới quê hương nhà thơ Phạm Hổ, ba người cùng “tuổi Hổ” chúng tôi đã được quan tâm như thế.
Khi biết chuyến đi này, nhà văn Lê Phương Liên, nguyên Trưởng ban Văn học thiếu nhi - Hội Nhà văn Việt Nam, chia sẻ: Nhà thơ Phạm Hổ là người anh lớn của các nhà văn, nhà thơ viết cho thiếu nhi. Tôi đã được làm biên tập một trong những cuốn sách cuối cùng của ông. Đó là những bài viết hồi ức về quê hương và tuổi thơ. Năm 2006 tôi có vào Bình Định mà chưa được đến thăm quê của nhà thơ Phạm Hổ. Dịp ấy chỉ về thăm quê ngoại của nhà thơ Xuân Diệu, có các anh Trần Quốc Toàn, Cao Xuân Sơn cùng đi. Khi ông mất, tang lễ của ông được tổ chức rất đặc biệt, có các em Cung Thiếu nhi Hà Nội đứng hàng rào danh dự. Nhà văn Vũ Tú Nam đã gọi điện cho tôi bảo tổ chức như thế… Biết bao kỉ niệm một thời. Cảm ơn các anh, các chị đã đến thắp hương cho nhà thơ Phạm Hổ tại quê nhà. Thật cảm động!
Nhà thơ Phạm Hổ được vinh danh Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt đầu tiên, năm 2001. Theo bước cha mình, con út ông, nữ biên kịch phim hoạt hình Phạm Sông Đông đón nhận giải thưởng này năm 2022.
Về tới Tuy Hoà, tôi tiếp điện thoại chị Phạm Sông Đông. Chị nói “Rất vui lần đầu tiên có đoàn nhà văn thiếu nhi về thăm quê hương Ông Cụ. Tôi tin Cụ biết đấy và cũng rất vui. Trân trọng cám ơn mọi người.” Sau đó chị gửi về Quảng Ninh tặng ông cháu tôi tác phẩm Những truyện hay viết cho thiếu nhi của cha mình “để nhớ chuyến về thăm Bình Định, quê hương của Ông Cụ”.
Tôi rời “Phạm Gia Viên”, phần toại nguyện, phần bâng khuâng. Miên man nghĩ về những gì tôi đã biết, những gì mọi người nói về thầy - nhà thơ Phạm Hổ... Chỉ biết chắc chắn những cống hiến của nhà thơ đã làm nên một tên tuổi, và tôi đang bước tiếp con đường mà thầy đã chọn “viết cho các em là cả một hạnh phúc”.
Quảng Ninh, 28/11/2025