Năm 2025 khép lại, cũng là lúc kết thúc chặng đường tròn 50 năm thành lập và phát triển của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Thọ (1975-2025). Hôm nay, một ngày cuối đông, chúng tôi, những văn nghệ sĩ của ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình sau sáp nhập thành tỉnh Phú Thọ mới, có cuộc thăm viếng, tri ân các bậc cao niên của Hội. Đoàn do nhà thơ Lê Va - Chủ tịch Hội dẫn đầu. Tại gia đình cố nhà văn Sao Mai - Tân Khải Minh, sau khi thắp hương tưởng nhớ nhà văn, cùng ôn lại những kỷ niệm xưa với ông, nói về những tác phẩm của ông... Chợt tôi nhớ đến một bài thơ nhà thơ Huy Cận đọc tặng Sao Mai mà hôm ấy tôi được chứng kiến:
Hôm cũng là tôi, Mai cũng là tôi
Bao giờ cho hết kiếp sao trời
Dẫu sao thì cũng không sao cả
Cốt trả cho xong cái nợ đời.
(Huy Cận)
Thế rồi khiến tôi nhớ về ông - nhà thơ Huy Cận, cây đại thụ của văn học Việt Nam, một người luôn gắn bó với Hội Phú Thọ.
![]() |
| Chân dung nhà thơ Huy Cận - Ảnh: Tư liệu |
Huy Cận sinh ngày 31/5/1919 tại xã Phú An, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông hoạt động văn học từ đầu năm 1942, khi còn là học sinh trường Cao đẳng Nông Lâm. Hai tập thơ ra đời trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là Lửa thiêng và Vũ trụ ca, đã đưa Huy Cận lên vị trí những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Cũng như hầu hết thanh niên trí thức thời đó, mang trong mình tâm trạng bế tắc, quẩn quanh, không tìm ra ý nghĩa của cuộc đời, vì thế thơ Huy Cận nặng một nỗi buồn nhân thế:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
(Bài Tràng Giang trong tập Lửa thiêng)
Nhà nghiên cứu phê bình văn học Hoài Thanh trong tập Thi nhân Việt Nam đã nhận định:
| "Cái buồn của Lửa thiêng là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh... Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong, lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não" (trang 126). |
Nhưng khi bắt gặp ánh sáng của cách mạng, thanh niên Huy Cận đã bừng tỉnh và hòa mình vào với cuộc đấu tranh vĩ đại của nhân dân. Cùng với Nguyễn Đình Thi, Huy Cận là một trong những đại biểu trẻ nhất tham dự Đại hội đại biểu Quốc dân ở Tân Trào (tháng 7 năm 1945) và ông được bầu làm thành viên của Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc, rồi vào Huế cùng với các ông Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, thay mặt Chính phủ và Mặt trận Việt Minh tiếp nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại. Sau khi đất nước giành được độc lập, Huy Cận làm Bộ trưởng Bộ Canh nông lúc mới 26 tuổi, rồi Bộ trưởng đặc trách công tác Văn hóa, Nghệ thuật tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng và Thanh tra đặc biệt, Thứ trưởng Bộ Nội vụ của Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ năm 1946 trở đi, ông làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, kiêm Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông còn là đại biểu Quốc hội các khóa 1, 2, 7 và 8. Trong những năm gian khổ ở Việt Bắc, là thanh niên ưu tú của Chính phủ kháng chiến. Huy Cận được sống gần Bác Hồ và được Bác rất yêu quý, có lần còn được ngủ chung giường với Bác.
Nhắc đến Huy Cận, không chỉ nhắc đến một nhà thơ lớn mà còn nhắc đến một "Vũ trụ quan" độc đáo trong phong trào Thơ mới. Ông là sự giao thoa giữa nỗi sầu vạn cổ với tầm vóc vũ trụ, của nỗi sầu ảo não, cái sầu cô đơn. Trước Cách mạng Tháng Tám, Huy Cận bao trùm một nỗi buồn mênh mông, da diết. Khác hẳn cái "điệu" của Chế Lan Viên hay "rạo rực" của Xuân Diệu, buồn của Huy Cận mang tính triết học, nó là cái hồn không chỉ cá nhân mà là cái buồn từ ngàn xưa đọng lại. Ông luôn đặt con người trong thế đối lập với không gian rập rờn để tương phản về sự cô đơn, lạc lõng.
Củi một cành khô lạc mấy dòng
(Tràng Giang)
Thơ Huy Cận luôn có không gian của hội hoa ba chiều, có "tình" và "cảnh", khổ thơ thường mở rộng theo chiều cao, chiều rộng và chiều sâu; chứa đựng sự tĩnh mịch, vắng lặng của thiên nhiên với sóng ngầm bên trong; kết hợp giữa cổ điển và hiện đại, chất đường thi thể thất ngôn, ngắt nhịp truyền thống; chất thơ cách điệu, diễn đạt tâm trạng tinh tế, cách dùng từ mới mẻ, táo bạo...
![]() |
| Từ trái qua: Nhạc sĩ Trần Hoàn, nhà thơ Huy Cận, bà Phương Thảo - Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nhà lý luận phê bình Hà Xuân Trường, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Chi, họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng tại trụ sở Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002 |
Sau năm 1945, hồn thơ Huy Cận có bước ngoặt lớn. Từ cái tôi cô đơn chuyển sang cái tôi hòa nhập của cuộc đời mới, hình ảnh thơ trở nên ấm nóng lạc quan, ca ngợi công cuộc xây dựng đất nước.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
.
Cá nhụ, cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở: Sao lùa nước Hạ Long.
Là một nhà quản lý, hoạt động chính trị, xã hội lâu năm, nhưng trước hết Huy Cận là một nhà thơ lớn, ông từng là viện sĩ Viện Hàn lâm thơ thế giới. Ông đã vĩnh viễn ra đi giữa một ngày đầu xuân giá rét, ngày 19/2/2005 tròn 20 năm về trước cùng với Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi...
Huy Cận ra đi để lại cho nền văn học nước nhà gần 20 tập thơ, với hàng nghìn bài thơ và 10 tập văn xuôi, trong đó có những tập viết bằng tiếng Pháp và xuất bản ở Paris. Thơ Huy Cận được đánh giá cao về giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh (1990), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ngay đợt I (1996) và truy tặng Huân chương Sao vàng (2005) cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Với các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời... được sáng tác sau Cách mạng Tháng Tám, Huy Cận đã thay đổi giọng điệu thơ, cái buồn đã đi vào dĩ vãng, chỉ còn lại tiếng ca vui ngân vang trên thi đàn Việt Nam. Huy Cận còn là nhà thơ của thiếu nhi. Ông cũng đã mang đến cho tuổi thơ những món quà quý giá qua các tập Hai bàn tay em, Phù Đổng Thiên Vương. Đặc biệt, cuốn Hồi ký song đôi xuất bản năm 1997, có lẽ là tập cuối cùng của ông, ghi lại mối tình gắn bó đặc biệt suốt cuộc đời sáng tác văn chương của đôi bạn thi nhân lớn: XUÂN - HUY (Xuân Diệu và Huy Cận).
| Huy Cận - nhà thơ tiêu biểu cuối cùng của phong trào Thơ mới, người trí thức uyên bác, nhà văn hóa lớn của dân tộc đã sống trọn cuộc đời nghệ sĩ, để lại một gia tài văn thơ đồ sộ, sâu sắc, giàu tính nhân văn... |
Là người rất quan tâm đến phong trào văn nghệ địa phương. Những lần đến Phú Thọ dù ở cương vị nào của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, ông thường có những cuộc tiếp xúc trò chuyện thân tình với văn nghệ sĩ đất Tổ và để lại những kỷ niệm không bao giờ quên đối với giới văn nghệ sĩ Phú Thọ. Những lần về Hà Nội công tác, đến 51 Trần Hưng Đạo gặp ông, ông thường hỏi thăm về hoạt động của Hội Văn nghệ Phú Thọ, thấy ông khỏe và minh mẫn chúng tôi rất mừng. Nhớ có lần được trò chuyện cùng ông, ông bảo tôi: "Hội họa là môn nghệ thuật có sớm nhất, nó chính là nghệ thuật của nghệ thuật". Ông nói, ông đặc biệt khâm phục các danh họa thời kỳ Phục hưng như: Leonardo Da Vinci, Michelangelo, Raphael... Họ là những người khổng lồ của nghệ thuật thế giới. Nhớ dịp lên dự kỷ niệm 25 năm thành lập Hội Văn học nghệ thuật Phú Thọ (tháng 8 năm 2000), ông nói với chúng tôi: "Phú Thọ là nơi có đền thờ và lăng mộ các vua Hùng, nhân dân Phú Thọ rất vinh dự được thay mặt cả nước khói hương thờ phụng, do đó Phú Thọ được coi là người con trưởng giữ trọng trách Bảo hộ từ đường. Hoạt động sáng tác trên vùng đất cội nguồn, địa linh nhân kiệt, văn nghệ Phú Thọ nhất định sẽ tiến xa so với các địa phương khác". Trong những văn nghệ sĩ Phú Thọ lúc đó ông đặc biệt quý mến nhạc sĩ Cao Khắc Thùy, nhà văn Sao Mai và nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh.
Sau này, đích thân ông đã xin nhạc sĩ Cao Khắc Thùy về công tác tại Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Mỗi dịp lên công tác Phú Thọ gặp nhà văn Sao Mai, tôi thấy các ông thường ngồi với nhau cả giờ đồng hồ, say sưa đàm đạo văn chương, thế sự, hồi tưởng lại một thời đã qua.
![]() |
| Từ trái qua: Nhà thơ Huy Cận, họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương, ông Phạm Dụ Phó - Bí thư Thường trực Tỉnh ủy tại Đại hội Hội Văn học nghệ thuật Vĩnh Phú, năm 1995 |
Nhớ mùa hè năm 2001, nhân dịp Hội Văn học nghệ thuật Phú Thọ mở lớp bồi dưỡng năng khiếu sáng tác văn học cho các em học sinh trong tỉnh, lớp được tổ chức tại Trường PTTH Chuyên Hùng Vương. Vừa đi dự hội thảo thơ quốc tế tại Pháp trở về được hai ngày. Huy Cận đã không quản tuổi cao, sức yếu ông nhận lời mời của Hội lên giảng dạy và trò chuyện với các em. Hình ảnh nhà thơ lão thành tuổi ngoài 80 giản dị dễ gần, tác giả của nhiều bài thơ nổi tiếng, trong đó có bài Các vị La Hán chùa Tây Phương mà các em học sinh đều thuộc. Tôi nhớ hình ảnh các nhà văn, nhà thơ tương lai của đất Tổ hôm ấy. Các em vòng quanh ông như đàn con cháu lắng nghe những lời căn dặn, chỉ bảo ân cần, không chỉ là của một nhà thơ lớn, mà còn của một người ông thân thương gần gũi. Để lại trong lòng các em và mọi người những ấn tượng đẹp, không dễ phai mờ.
Các vị La Hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về còn vấn vương
Há chẳng phải đây là xứ Phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thương?.
.
Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen.
Ghi nhận những đóng góp của nhà thơ Huy Cận đối với hoạt động văn học nghệ thuật của Phú Thọ, năm 2000, UBND tỉnh Phú Thọ đã trao tặng ông Kỷ niệm chương Hùng Vương - phần thưởng cao quý nhất của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Huy Cận đã đi xa! Nhà thơ tiêu biểu cuối cùng của phong trào Thơ mới, người trí thức uyên bác, nhà văn hóa lớn của dân tộc đã sống trọn cuộc đời nghệ sĩ và thanh thản ra đi, để lại một gia tài văn thơ đồ sộ, sâu sắc, giàu tính nhân văn. Trường Giang đã ra biển lớn, hòa vào với đại dương mênh mông, và Lửa Thiêng thì không bao giờ tắt.
Phú Thọ, cuối đông năm 2025