Là một đứa trẻ đang tuổi lớn, luôn tò mò với thế giới ngoài cánh cửa nhà mình, điều tôi khao khát nhất không phải một món đồ chơi đẹp, mà là được đọc, được nghe và được xem. Đời sống tinh thần lúc bấy giờ như một mảnh đất khô cằn chờ đợi những giọt mưa hiếm hoi…
Về xem, ngày ấy, cả thị trấn của tôi chỉ có vỏn vẹn vài ba cái tivi đen trắng. Nhà nào có tivi thì cả vùng đều biết. Người ta chẳng gọi tên của họ nữa, mà gắn thêm cái tài sản quý giá ấy vào đằng sau. Ông Tám có tivi thì thành “ông Tám tivi”, chú Sáu có tivi thì thành “chú Sáu tivi”. Chỉ cần nghe cái tên là ai cũng biết nhà đó ở đâu. Mà cái tivi thời đó bé xíu, màn hình chỉ to bằng cuốn vở học trò, ngự trên một chiếc tủ gỗ, lúc nào cũng được phủ một tấm khăn ren. Không phải cứ thích là mở, chỉ đến tối thứ bảy, khi đài truyền hình phát sóng chương trình sân khấu, thì nó mới được bật lên cho cả xóm cùng xem.
Ngặt nỗi, quê tôi cách Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh hơn 200 cây số. Trong điều kiện kỹ thuật thô sơ lúc bấy giờ, khoảng cách ấy là một thử thách. Muốn bắt được sóng, người ta phải chế ra những cây ăng-ten bằng tre hoặc những thanh nhôm dài ngoằng, dựng cao vút, vượt qua cả những ngọn dừa, ngọn cau ngoài ngõ. Coi tivi thời đó giống như một trò chơi đuổi hình bắt bóng. Khi có hình thì lại mất tiếng, đến lúc chỉnh được tiếng trong trẻo thì hình ảnh lại nhòe nhoẹt. Mỗi lần hình mất, ngoài sân lại có tiếng người la: “Quay sang trái chút nữa!”, “Dừng! Dừng đó!”, “Ối... mất rồi!” Người đứng dưới thì hò hét, người leo trên mái nhà lại chăm chỉ xoay cây ăng-ten. Ấy vậy mà, điều lạ là chẳng một ai bỏ giữa chừng, ai cũng kiên nhẫn chờ đợi, xem cho bằng được đến khi chương trình kết thúc mới về ngủ.
Đến mùa World Cup thì không khí trong xóm ngoài làng vui nhộn hơn thường ngày. Sân nhà ai có tivi thì lúc nào cũng chật người. Sân trước, sân sau, bậc thềm, cửa sổ... chỗ nào cũng có người ngồi. Người đến sớm thì có chỗ đẹp. Người đến muộn chỉ còn biết đứng sau lưng người khác, hoặc kiễng chân nhìn qua vai. Vì màn hình quá nhỏ nên những người ở sau thực chất không phải là đi xem, mà chính xác hơn là đi “nghe” tường thuật bóng đá qua giọng kể hào hứng của bình luận viên. Bây giờ nghĩ lại, tôi không nhớ trận đấu năm ấy đội nào thắng. Điều còn ở lại trong ký ức là cái sân chật kín người, là tiếng la “Vào…!!!”, “Ôi…” rộn ràng giữa đêm khuya và cảm giác cả xóm chia nhau niềm vui từ chiếc tivi bé xíu.
*
Còn nghe, nhà tôi không có tivi, nhưng bù lại, ba tôi có một niềm tự hào lớn lao khác: một chiếc radio hiệu Sanyo. Khổ nỗi, chiếc radio ấy ăn pin lắm. Muốn nó cất tiếng phải lắp đến sáu cục pin đại. Giữa thời buổi kem đánh răng còn là thứ xa xỉ, cả nhà chỉ đánh răng bằng muối hột, thì sáu cục pin đại là một khoản chi không nhỏ. Mỗi năm, ba tôi phải gom góp, chắt chiu từng tấm tem phiếu, nhịn bớt những nhu yếu phẩm khác thì mới dám mua một đợt pin mới.
Khi pin cạn, cái khó ló cái khôn, ba ngồi bên hiên nhà, bày những cục pin cũ, mấy đoạn dây đồng, chai nước muối và vài chiếc hộp nhỏ. Tôi chẳng hiểu ba làm thế nào, chỉ thấy ông kiên nhẫn nối dây, lau chùi từng đầu cực. Một lúc sau, chiếc radio lại cất tiếng rè rè như thể vừa được hồi sinh.
Pin muối yếu lắm. Có khi ba cặm cụi cả buổi chiều, vậy mà chỉ đủ cho chiếc radio phát hết một tuồng cải lương, âm thanh nhỏ dần rồi lặng hẳn. Ba lại tháo pin ra lau chùi, thay nước muối. Tôi ngồi bên cạnh quan sát, trông chờ chiếc radio sớm lên tiếng. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ như in tiếng nhạc hiệu mở đầu, rồi giọng phát thanh viên trầm ấm: “Mời quý vị và các bạn nghe chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam.” Chỉ một câu nói ấy thôi cũng đủ khiến tôi ngồi im lặng, hồi hộp lắng nghe.
*
Với đọc, quả thật thời đó sách báo cũng rất hiếm. Năm tôi học cấp một, trong nhà tôi có ba cuốn sách: một cuốn tuyển tập thơ Tố Hữu, một tập thơ Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa, và một cuốn sách mang tên Chuyện hoa, chuyện quả. Ba cuốn sách ấy trở thành những người bạn thân thiết của tuổi thơ tôi. Tôi đọc đến sờn cả gáy sách, có những bài thơ thuộc từ lúc nào chẳng hay.
Khi đã thuộc lòng ba cuốn sách ấy, tôi chuyển sang đọc hết mấy cuốn sách tập đọc của mình và của các chị. Những câu thơ, bài văn trong sách tập đọc ngày ấy thật gần gũi, trong sáng và hay vô cùng! Chúng vẽ nên trước mắt tôi những làng quê Việt Nam thanh bình với con trâu, đồng ruộng, với khói bếp lam chiều và tình cảm gia đình, tình thầy trò thiêng liêng để rồi nhiều năm sau, tôi nhận ra những bài học làm người đầu tiên đã đến với mình từ chính những trang sách giản dị ấy.
Lên cấp 2, ba đã thuyết phục được má trích một khoản trong phần chi tiêu của gia đình để đặt ba tờ báo và tạp chí: Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ và Kiến thức ngày nay. Với gia đình tôi, đó là một khoản chi lớn, nhưng ba má chưa bao giờ thấy tiếc. Sự xuất hiện của những tờ báo này giống như một luồng gió mát rượi thổi vào gian nhà nhỏ của chúng tôi. Tôi nhớ như in cái cảm giác háo hức chờ đợi số báo mới. Tôi say mê đọc đến quên ăn quên ngủ, không bỏ sót bất kỳ một bài viết, một truyện ngắn hay một dòng tin tức nhỏ nào.
Chiều nào ba đọc được bài thơ mình thích, ông lại gọi tôi: “Con lấy cuốn sổ đỏ ra chép cho ba.” Tôi nắn nót từng nét chữ. Ba ngồi bên cạnh, thỉnh thoảng đọc chậm từng câu. Có chữ nào tôi viết chưa đẹp, ba lại bảo viết lại. Hồi đó tôi chỉ nghĩ mình đang giúp ba. Mãi sau này mới hiểu, chính những buổi chiều ấy đã dạy tôi yêu từng con chữ.
Mỗi khi báo Văn nghệ hay báo Nhân Dân có bài nào đáng chú ý, tối đến bạn bè của ba lại ghé nhà. Họ ngồi uống trà, bàn luận rất lâu. Tôi ngồi trong buồng học bài nhưng cũng nghe ké. Những câu chuyện ấy cho tôi biết ngoài mái nhà, ngôi trường của mình còn có cả một đất nước đang đổi thay từng ngày.
Trong ký ức tuổi thơ của tôi, gây xôn xao nhất lúc bấy giờ là loạt bài Những việc cần làm ngay ký bút danh N.V.L trên báo Nhân Dân. Tôi còn nhỏ nên chưa hiểu hết nội dung, chỉ nhớ người lớn thường bàn tán rất sôi nổi, đoán xem N.V.L là ai và những điều tác giả viết rồi có được thực hiện hay không. Với một đứa trẻ như tôi, ba chữ cái ấy cũng trở thành một điều bí ẩn rất thú vị.
Buổi tối, ba thường kể chuyện Kiều cho chị em chúng tôi nghe. Có đoạn ba ngâm nga mấy câu thơ, rồi dừng lại giải thích vì sao ông thích câu ấy, vì sao cụ Nguyễn Du dùng chữ này mà không dùng chữ khác. Những câu Kiều cứ thế đi vào tuổi thơ tôi. Ngày ấy tôi chưa hiểu hết nỗi truân chuyên của nàng Kiều, chỉ biết rằng tôi rất thích nghe. Có lẽ từ những đêm như thế, tình yêu với thơ văn đã âm thầm lớn lên trong tôi lúc nào chẳng hay.
Đêm nào cũng vậy, trước giờ đi ngủ là lại xảy ra một cuộc “chiến tranh” nho nhỏ. Chị em tôi đứa nào cũng muốn được nằm sát ba, đứa giành bên trái, đứa giành bên phải để nghe rõ từng câu thơ, từng đoạn chuyện. Có hôm cãi nhau chí chóe, ba chỉ cười rồi dang hai cánh tay ôm cả mấy đứa con vào lòng.
Bây giờ nhớ lại, người tôi thương nhất lại là má. Đêm nào chị em tôi cũng tranh mất chỗ nằm bên cạnh ba. Má chỉ cười, lặng lẽ ngồi vá lại cái áo hay đan chiếc khăn len dưới ngọn đèn dầu, vừa làm vừa lắng nghe ba con ríu rít. Khi ấy chúng tôi vô tư đến mức chẳng hề biết mình đã “giành” mất người bạn nằm cạnh má mỗi tối. Chỉ đến sau này, nghĩ lại, tôi mới thấy trong nụ cười lặng lẽ ấy của má có biết bao sự nhường nhịn và yêu thương.
*
Bên cạnh chiếc radio của ba và những cuốn sách hiếm hoi, đời sống tinh thần của lũ trẻ chúng tôi còn được thắp sáng bởi một sự kiện khác: những đêm có đoàn cải lương về biểu diễn. Mỗi năm, quê tôi chỉ có hai, ba đoàn cải lương từ thành phố hoặc các tỉnh miền Tây ghé về biểu diễn. Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ để cả xóm mong ngóng từ nhiều ngày trước. Có một điều rất thú vị là vào những ngày có đoàn hát về, con nít cả xóm bỗng nhiên trở nên ngoan ngoãn lạ thường, đứa nào đứa nấy hiền lành như củ khoai đất bãi. Mọi công việc nhà đều được hoàn thành rất sớm. Bài vở thầy cô giao trên lớp cũng được đem ra làm xong xuôi từ buổi chiều. Tất cả cũng chỉ mong tối đến được ba má gật đầu cho đi xem hát.
Thế nhưng, thực tế phũ phàng là hầu như không đứa nào trong chúng tôi có tiền mua vé. Chiếc vé xem cải lương khi ấy là thứ nằm ngoài tầm với của lũ trẻ nghèo. Không có vé nhưng lại mê xem hát, chúng tôi nghĩ đủ mọi cách để lọt vào bên trong. Cả bọn đứng lấp ló trước cổng, chờ ai đi một mình thì cử đứa lanh miệng nhất chạy đến ôm tay năn nỉ: “Dẫn con vào với!” Gặp người thương tình thì được dắt vào. Gặp người khó tính, cả bọn lại ba chân bốn cẳng bỏ chạy. Xin không được thì tìm chỗ hàng rào thưa mà chui, quần áo xước vài đường cũng mặc. Chỉ cần lọt vào sân là đứa nào cũng mừng rỡ như vừa thắng trận, phủi bụi ngồi bệt xuống đất, mắt không rời sân khấu.
Giờ đây, tôi thấy tuổi thơ mình hóa ra lại giàu có theo một cách khác. Giữa một thời mà cái gì cũng thiếu, tôi vẫn được xem những chương trình cả xóm cùng mong đợi, được nghe tiếng radio rè rè của ba, được đọc những cuốn sách đã sờn gáy và được lớn lên trong những câu thơ, câu Kiều.
Thời nay, chỉ cần mở điện thoại là có thể đọc một cuốn sách, nghe một bản nhạc hay xem một bộ phim bất cứ lúc nào. Cuộc sống đã đủ đầy hơn rất nhiều. Nhưng nếu ai hỏi tôi muốn giữ lại điều gì của những năm tháng bao cấp, tôi sẽ không chọn những tờ tem phiếu hay cuốn sổ gạo. Tôi sẽ giữ cái sân nhỏ đông nghịt người mỗi tối thứ bảy, giữ lại chương trình Tiếng thơ được phát ra từ chiếc radio cũ, giữ cuốn sổ bìa đỏ ghi chép, giữ giọng ba ngâm Kiều và cả dáng má lặng lẽ ngồi đan áo. Có những thứ đã đi qua hơn nửa cuộc đời, vậy mà chỉ cần nhớ đến, lòng mình vẫn thấy ấm.
![]() |
| Nguồn: Pinterest |