Văn hóa nghệ thuật

Từ bảo tồn di sản đến chủ động kiến tạo ký ức quốc gia

Ánh Nguyệt
Kiến trúc 11:41 | 02/09/2026
Baovannghe.vn - Với hơn 40.000 di tích, gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, 177 bảo tàng lưu giữ hơn 4 triệu tài liệu, hiện vật và 1.881 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, Việt Nam đang sở hữu một “kho ký ức” đồ sộ.
aa

Nhưng quy mô của di sản càng lớn thì yêu cầu đặt ra không chỉ là giữ gìn những gì đã có, mà còn phải trả lời một câu hỏi lớn hơn: chúng ta sẽ làm gì để ký ức ấy tiếp tục sống, phát huy giá trị trong hiện tại và trở thành di sản cho các thế hệ mai sau?

Nhận diện công tác bảo tồn

Nhìn từ những con số, có thể thấy công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đã đạt những bước tiến đáng kể. Công tác kiểm kê, xếp hạng, ghi danh di sản, đăng ký di vật, cổ vật và tôn vinh nghệ nhân ngày càng đi vào nền nếp. Nhiều bảo tàng không còn đơn thuần là nơi “cất giữ quá khứ”, mà đã trở thành điểm đến văn hóa, được kết nối với các tuyến du lịch, góp phần đưa lịch sử và văn hóa đến gần hơn với công chúng. Vị thế, uy tín của Việt Nam tại UNESCO và trong các cơ chế hợp tác đa phương về văn hóa cũng ngày càng được nâng cao.

Đây thực sự là kết quả rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tế đã và đang chứng minh di sản không phải là một kho tài sản bất động. Bởi, nếu chỉ dừng ở việc thống kê, xếp hạng, bảo quản và trưng bày, công tác bảo tồn rất dễ rơi vào tình trạng giữ được “vỏ vật chất” nhưng chưa chắc giữ được sức sống của ký ức.

Tại cuộc làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) về công tác bảo tồn, bảo tàng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phải nhìn lại một cách nghiêm túc năng lực kiến tạo và cấu trúc của toàn bộ hệ thống bảo tồn, bảo tàng, từ công tác kiểm kê, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo quản, phục chế đến trưng bày, phát huy giá trị và tiếp cận công chúng. Yêu cầu này đặt ra trong bối cảnh quy mô di sản của đất nước ngày càng lớn, nhưng năng lực của hệ thống chưa phải ở mọi nơi đều tương xứng. Chính báo cáo của Bộ VHTT&DL đã chỉ ra những khoảng trống đáng lưu ý: một số địa phương chưa quan tâm đúng mức đến kiểm kê, sưu tầm và tư liệu hóa di sản phi vật thể; nguồn nhân lực chuyên sâu về bảo quản, phục chế, giám tuyển, giáo dục bảo tàng, nghiên cứu công chúng, truyền thông và dữ liệu số còn thiếu; trong khi một số bảo tàng lớn dù sở hữu nhiều bộ sưu tập quý hiếm vẫn chưa phát huy hết giá trị do hạn chế về không gian, điều kiện trưng bày và năng lực quản trị hiện đại. Nói cách khác, chúng ta đang có một “kho ký ức” rất lớn, nhưng năng lực tổ chức, giải mã, kể lại và đưa kho ký ức ấy đến với xã hội vẫn chưa theo kịp quy mô của di sản. Những hạn chế này đã và đang buộc ngành VHTT&DL phải nhìn nhận lại năng lực kiến tạo giá trị từ di sản.

Trên thực tế, nếu mỗi một hiện vật quý chỉ nằm trong kho thì hiện vật đó chỉ là một tài sản văn hóa, nhưng giá trị xã hội của nó sẽ chỉ được nhân lên nhiều lần khi được nghiên cứu, giải mã, đặt trong đúng bối cảnh lịch sử và kể lại bằng một phương thức phù hợp với công chúng hôm nay. Một di sản phi vật thể được cộng đồng tiếp tục thực hành, thế hệ trẻ hiểu được ý nghĩa và xã hội tìm thấy trong đó những giá trị phù hợp với đời sống đương đại thì di sản đó mới thực sự được trao thêm một vòng đời.

Bởi vậy, yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc phải nhìn lại nghiêm túc năng lực kiến tạo và cấu trúc của hệ thống bảo tồn, bảo tàng có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một cuộc rà soát hành chính. Đó là lời nhắc về sự thay đổi trong tư duy: không thể tiếp tục bảo tồn theo cách bị động, xử lý từng phần việc khi di tích xuống cấp, từng dự án kéo dài, từng bộ sưu tập nằm im trong kho; cần một chiến lược chủ động, có thứ tự ưu tiên và tầm nhìn dài hạn.

Chủ động kiến tạo ký ức quốc gia

Ngay sau chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, việc rà soát toàn diện tình trạng di tích, mức độ xuống cấp của các thiết chế, thứ tự ưu tiên đầu tư và xử lý dứt điểm những dự án kéo dài chắc chắn sẽ được Bộ VHTT&DL nỗ lực triển khai. Tuy nhiên, để công tác kiểm kê và xây dựng kế hoạch đưa di sản trở thành một trong những trục chính trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đặt ra một nguyên tắc quan trọng: đầu tư cho di sản phải hướng tới giải quyết căn bản công tác bảo tồn, bảo tàng trong một tầm nhìn rộng hơn: đó không chỉ là câu chuyện giữ gìn những gì thuộc về quá khứ, mà còn là vấn đề xây dựng hạ tầng văn hóa và chủ quyền tri thức của quốc gia trong tương lai.

Đặc biệt, trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lịch sử, văn hóa và di sản càng không thể được xem như những “kho lưu trữ” đơn thuần. Nếu dữ liệu không đầy đủ, không được tổ chức, kiểm chứng và làm chủ, thì nguy cơ đáng lo không chỉ là mất một phần ký ức, mà còn là mất quyền chủ động kể câu chuyện về chính mình.

Điều đó khẳng định, yêu cầu đặt ra lúc này không chỉ cho riêng ngành VHTT&DL mà cho cả hệ thống chính trị xã hội, là xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, phát triển dữ liệu và ứng dụng AI trong bảo tồn, khai thác di sản. Hoàn thành những công việc này, đồng nghĩa với chúng ta đã làm chủ dữ liệu lịch sử, văn hóa. Việc làm chủ này không chỉ để lưu giữ ký ức, mà còn để chúng ta có đủ nền tảng tri thức và quyền chủ động kể câu chuyện của dân tộc mình một cách đầy đủ, xác thực và có chiều sâu.

Trong công tác bảo tàng cũng vậy. Bảo tàng không thể chỉ đo bằng số hiện vật đang được cất giữ, mà phải được đo bằng giá trị mà những hiện vật ấy tạo ra cho xã hội. Việc yêu cầu đổi mới cách đánh giá hiệu quả bảo tàng - từ số lượng khách tham quan, cơ cấu công chúng, khả năng thu hút người trẻ đến tác động giáo dục, nghiên cứu, khai thác dữ liệu và hiệu quả sử dụng nguồn lực Nhà nước - vì thế là một sự thay đổi quan trọng: từ tư duy “có bảo tàng” sang tư duy “bảo tàng tạo ra giá trị”. Đó chính là chiều sâu của câu chuyện chuyển đổi từ “bảo tồn thụ động” sang “chủ động kiến tạo ký ức quốc gia”: không để quá khứ bị lãng quên, không để hiện tại trôi qua vô danh và càng không để tương lai phải đi tìm những mảnh ghép của chính thời đại chúng ta.

Vẫn biết, một cây cầu, một công trình kiến trúc, một không gian văn hóa, một tác phẩm nghệ thuật hay một mô hình cộng đồng hôm nay có thể chưa được gọi là “di sản”, nhưng hoàn toàn có thể trở thành dấu ấn của một thời đại. Ngành VHTT&DL có đủ năng lực nhận diện, tư liệu hóa và lưu giữ những giá trị ấy ngay từ khi chúng đang hình thành. Do đó, chuyển từ “bảo tồn thụ động” sang “chủ động kiến tạo ký ức quốc gia” chính là thay đổi cách nhìn: từ giữ những gì đã có sang chủ động xác lập những giá trị cần được trao lại cho tương lai.

Để những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước được triển khai hiệu quả cần phải kiến tạo cơ chế, đầu tư có trọng tâm và xây dựng hạ tầng dữ liệu đủ mạnh; bảo tàng phải chuyển từ nơi lưu giữ hiện vật thành không gian tạo lập tri thức, trải nghiệm và đối thoại với xã hội; công nghệ phải trở thành phương tiện giúp di sản được nhận diện, nghiên cứu và lan tỏa rộng hơn. Đặc biệt, cộng đồng phải là chủ thể của quá trình này, bởi một di sản tách khỏi đời sống cộng đồng rất dễ chỉ còn là “mẫu vật” của một đời sống đã mất. Với một quốc gia giàu di sản như Việt Nam, để di sản kiến tạo ký ức quốc gia, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo phải phối hợp để đưa bảo tàng trở thành một không gian học tập thường xuyên, bởi lịch sử và văn hóa nếu chỉ được truyền đạt qua sách vở thì khó tạo ra sự gắn bó sâu sắc bằng việc được nhìn thấy hiện vật thật, không gian thật và những câu chuyện thật. Người đứng đầu Đảng, Nhà nước căn dặn, cha ông đã trao lại cho chúng ta một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với một kho tàng lịch sử, ký ức vô cùng quý giá. Trách nhiệm của thế hệ chúng ta không chỉ là giữ nguyên những gì đã nhận được, mà phải hiểu sâu hơn, làm giàu thêm và trao lại cho con cháu một nền tảng tri thức, lịch sử và văn hóa đầy đủ hơn. Trách nhiệm của thế hệ hôm nay là kế thừa, phát triển, gìn giữ cho mạch nguồn lịch sử, văn hóa và bản sắc Việt Nam được tiếp nối liên tục, không đứt đoạn qua các thế hệ.

Thiết nghĩ, đây chính là những yêu cầu cụ thể để ngành VHTT&DL thực hiện chiến lược từ bảo tồn di sản đến chủ động kiến tạo ký ức quốc gia.

Từ bảo tồn di sản đến chủ động kiến tạo ký ức quốc gia
Đại Nội Huế là quần thể di tích lịch sử nổi bật với kiến trúc cung đình cổ kính và không gian mang đậm dấu ấn triều Nguyễn. Ảnh: DLVN
Hệ giá trị Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Hệ giá trị Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Baovannghe.vn - Quyết định số 1189/QĐ-TTg vừa được Chính phủ ban hành được xem là đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng về xây dựng hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.
Đột phá chiến lược vì an ninh quốc gia và hạnh phúc của nhân dân

Đột phá chiến lược vì an ninh quốc gia và hạnh phúc của nhân dân

Bapvannghe.vn- Trong kỷ nguyên số, khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tái định hình sâu sắc đời sống kinh tế - xã hội. Trong dòng chảy ấy, chuyển đổi số không còn là lựa chọn, mà trở thành điều kiện để đổi mới phương thức quản trị, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra những không gian phát triển mới.
Tiếng khèn sau ngực núi - Thơ Lê Hải Kỳ

Tiếng khèn sau ngực núi - Thơ Lê Hải Kỳ

Baovannghe.vn- Đêm/ mềm môi rét ngọt/ đèn vàng dìu nhau qua phố
Ea Súp - Thơ Đặng Bá Tiến

Ea Súp - Thơ Đặng Bá Tiến

Baovannghe.vn- Ea Súp rừng/ trong ký ức tôi/ cây hội hè cây
Quãng lặng - Thơ Nguyễn Nhã Tiên

Quãng lặng - Thơ Nguyễn Nhã Tiên

Baovannghe.vn- Đốt cháy tôi bây giờ nắng giẫm nắng ngày qua/ loang dần vết ngày im lìm bóng xế