Lại càng hiếm hơn, khi ông vẫn khỏe mạnh, minh mẫn, giữ nếp ghi nhật ký và vẽ hàng ngày để lan tỏa tình yêu đến cuộc đời. Hình ảnh một dáng cây cổ thụ nảy lộc đâm chồi hay một con thiên lý mã trên đồng cỏ xanh thư nhàn đều có thể liên tưởng đến Ngọc Linh - một tâm hồn trọn vẹn nguyên xuân, rạng ngời ánh sắc.
1. Nhắc đến họa sĩ Ngọc Linh, những ai biết ông hẳn nhớ ngay cái tên Vi Văn Bích - một trong 22 sinh viên mỹ thuật khóa Kháng chiến trên chiến khu Việt Bắc, do họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng lập và giảng dạy từ năm 1950. Tên bí danh có từ lúc ông học mỹ thuật trở thành nghệ danh theo suốt cuộc đời nghệ thuật đủ nói lên phần nào con người ông: trong sáng, vô tư, nhiệt thành với bè bạn và cuộc đời - những phẩm chất quý giá của con người ở mọi thời, mọi nơi.
|
Trước khi học mỹ thuật, 16 tuổi họa sĩ Ngọc Linh là y tá đoàn giải phẫu lưu động phục vụ Kháng chiến, do bác sĩ Tôn Thất Tùng và Hoàng Đình Cầu phụ trách. Ông cũng hoàn thành khóa học V (1949-1950) trường Lục quân tại Thái Nguyên. Là một người có khả năng âm nhạc, thổi sáo giỏi (gien âm nhạc từ người mẹ), nhưng duyên cớ lại đưa ông đến với hội họa. Nhân một lần thấy họa sĩ Trần Văn Cẩn đứng vẽ bên thác nước, Ngọc Linh đã đăng kí tuyển sinh khóa Mỹ thuật. Yêu cái đẹp và thích tự do, Ngọc Linh chọn hội họa, mà cũng có thể hội họa chọn ông vì ông có những phẩm chất để theo cùng nó.
Khóa Mỹ thuật Kháng chiến được coi là khóa học đặc biệt trong lịch sử trường Mỹ thuật, nối tiếp sau khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925-1945) hoàn thành vai trò, nhiệm vụ của mình. Đây là Khóa học thiếu thốn nhiều mặt về cơ sở vật chất: trường lớp- chủ yếu học ở đình, chùa, họa cụ thiếu thốn, cả điều kiện sinh hoạt (sống cùng nhà dân) nhưng cũng là khóa học gần dân nhất, có quan niệm rộng mở đối với thực hành nghệ thuật trong việc coi trọng cả tính hình thức và nội dung biểu đạt: hài hòa, tác động lẫn nhau, không tách rời. Nghệ thuật không xa rời đời sống quần chúng, nhưng để đánh giá về nghệ thuật thì quần chúng cũng phải học và có kiến thức về nghệ thuật.
2. Họa sĩ Ngọc Linh (tức Vi Văn Bích) là con cháu dòng dõi họ Vi nổi danh với 14 thế hệ liên tiếp cai quản biên ải miền Bắc, là cháu nội của cụ Vi Văn Định. Cha ông là ông Vi Văn Huyền, một kỹ sư du học Pháp, mất năm 1936 lúc Ngọc Linh mới 6 tuổi. Sau khi cha mất, mẹ ông đưa các con về Hải Phòng sống với người cậu, riêng Ngọc Linh được ông nội đưa về sống cùng các anh chị em họ trong đại gia đình, khi Thái Bình, lúc Hà Nội - những nơi cụ Định có thời gian làm tổng đốc. Không được gần gũi cha mẹ từ nhỏ song nhờ sự giáo dưỡng của ông nội là cụ Vi Văn Định về cả văn hóa và thể chất, Ngọc Linh cùng các anh chị em của mình đều trưởng thành ở lĩnh vực riêng như: quân sự, khoa học, giáo dục hay ngành y, trong đó chỉ Ngọc Linh theo mỹ thuật.
Vì hoàn cảnh đất nước thời chiến khó khăn, học bổng của sinh viên mỹ thuật có khi chậm trễ, khóa học đứng trước nguy cơ đóng cửa. Vợ họa sĩ Tô Ngọc Vân vài lần bán vàng tạm ứng để hỗ trợ sinh viên duy trì học tập. Họa sĩ Tô Ngọc Vân phải đi bộ ngày đêm mấy chục cây số lên Trung ương đóng ở Chiêm Hóa thuyết phục cấp trên giữ lại trường. Sau nửa năm theo học, Ngọc Linh nằm trong thành phần bị cắt giảm học bổng, vì chi bộ cho rằng tình hình chung khó khăn mà gia đình ông có điều kiện, có thể chu cấp được.
Học bổng lúc đó chỉ hơn mười cân gạo một tháng, nhưng không chịu nổi cảnh “ăn boóng” anh em với khẩu phần là một bát cơm úp với một quả cà chua hấp mỗi bữa, buổi trưa ông mượn dao vào rừng chặt củi, bó thành bó, gánh về bán cho bên phụ trách hậu cần Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật để có gạo nộp vào suất học bổng bị cắt, nhất định không xin hỗ trợ từ gia đình. Có lần ông đi bộ vào Nam Đàn, Nghệ An gặp người cậu làm ở xưởng quân giới, cậu cho Ngọc Linh 2 yến muối gánh bộ trở ra miền Bắc đổi cho đồng bào Cao Lan lấy gạo nộp cho nhà trường. Ngọc Linh nói tính ông nghị lực, quyết liệt, bởi nếu không, khi được thông báo cắt học bổng mỹ thuật, ông có thể chuyển sang học nhạc - nơi sẵn sàng tiếp nhận ông, mà không phải khó nhọc, vất vả như vậy.
3. Ngọc Linh người gốc dân tộc Tày, không khi nào ông phủ nhận. Nhưng ít người biết ông vốn sinh ra ở Hà Nội và gắn bó với thủ đô gần trọn cuộc đời. Là họa sĩ thiết kế hơn 15 phim truyện Việt Nam từ “Chung một dòng sông”, “Vợ chồng A Phủ”, “Sao Tháng Tám”…, phim cuối cùng Ngọc Linh đảm nhiệm vai trò họa sĩ thiết kế mỹ thuật là “Ông tiên trong tù” - 1986. Khi đất nước còn chiến tranh, điều kiện đi lại khó khăn, không phải bộ phim nào cũng cho phép đưa thiết bị lên tận nơi quay được, nên phải dựng phim trường và quay tại phim trường. Những bối cảnh phim của ông vừa chân thật, đồng thời cũng thể hiện trí tưởng tượng phong phú, đem lại những rung cảm đến với người xem.
Một câu chuyện vui, là khi họa sĩ Ngọc Linh đi thực tế các nhà tù lấy tư liệu làm phim “Tội và Tình”- 1980, ông thấy người tù toàn mặc “áo xám gio trông buồn xìu quá”, đến khi thiết kế trang phục cho nhân vật ông vẽ thêm những kẻ sọc vào. Sau này chiếc áo ban đầu Ngọc Linh thiết kế ấy đã trở nên phổ biến.
Tự thấy bản thân “cuộc sống phong phú, mình làm gì cũng được”, song với họa sĩ Ngọc Linh “Hội họa là tay phải, điện ảnh là tay trái”. Làm điện ảnh luôn cần một tập thể, ông thích hội họa hơn vì “vẽ tự do hơn, tung tăng hơn”. Điều điện ảnh mang lại đối với một họa sĩ thiết kế mỹ thuật là cho ông được đi nhiều nơi từ Bắc vào Nam, để khảo sát bối cảnh trước khi bộ phim bấm máy. Lúc đi chọn cảnh có ô tô của đoàn phim đưa đi, đến khi phim làm xong mà thích vẽ, Ngọc Linh lại tự đi bằng xe đạp.
Chiếc xe đạp là phương tiện họa sĩ đưa vợ từ Tuyên Quang về Hà Nội năm 1954, rồi lại chở các con từ Hà Nội về Tuyên Quang sau này. Xe đạp đưa ông đi khắp nơi các tỉnh phía Bắc, cùng ông đi quanh phố phường Hà Nội đến thăm nhà bạn bè. Trong cuốn sách “Hội họa của mùa xuân” ra mắt cùng triển lãm “Con đường của tôi” tháng 1.2025 khi họa sĩ tròn 95 tuổi, trả lời cháu nội mình là Vi Huyền Anh một số câu hỏi liên quan đến quan niệm sống và sáng tác, ông không ngần ngại bộc bạch: “Mình là người hạnh phúc, không vẽ buồn được. Phải là người hạnh phúc mới có thể vẽ những bức tranh tươi sáng, để dâng hiến cho đời, mang lại niềm vui cho mọi người”.
Thực vậy, trong các bức tranh của Ngọc Linh, từ chân dung, tĩnh vật hay phong cảnh, ta hầu như không thấy vẻ u tối hay buồn bã; mà trái lại, tràn đầy sức sống, niềm vui, sự lạc quan. Ông thường dùng màu tương đồng thay vì tương phản, đối chọi mạnh, nhất là các bức tranh phong cảnh, sắc xanh êm ả thanh bình mà ông vẽ ra đã thành một chỉ dấu xuyên suốt. Nếu vẽ phong cảnh đồi núi, dưới cái nhìn của Ngọc Linh, dù các ngọn núi khác nhau nhưng không có sự chênh nhau quá rõ giữa độ cao của chúng. Nếu vẽ quang cảnh một bản làng, với các nhân vật ở nhiều dáng vẻ, thì họ có chiều cao tầm tầm với nhau. Vẽ một khung cảnh biển, các con thuyền san sát mái buồm, cũng chẳng có cột buồm nào lọt thỏm, đơn lẻ…
Tính tương đồng mà Ngọc Linh biểu đạt trong tranh, chính là cụ thể hóa bằng hình tượng cái nhìn trìu mến, ân cần, không chút phân biệt nào dành cho con người cùng vạn vật quanh mình. Sự êm ả, thanh bình, sự hiền hòa, nhẹ nhõm vì thế luôn lan tỏa thật sâu, thật lâu chứ không phải sự thoáng qua người ta chỉ cảm thấy trong phút chốc. Nhẹ nhàng nhưng sâu sắc là điều tưởng dễ mà khó bề đạt tới, chỉ ở những tâm hồn trong sáng thiện lương, trân trọng sống và yêu thương cuộc đời thực sự mới có thể có được.
Sinh năm 1930, cầm tinh tuổi ngựa, Ngọc Linh đã sống đến tuổi lão niên trong suốt thế kỷ XX, bước qua thế kỷ XXI, con người ông vẫn không có gì lạc nhịp, băn khoăn. Như cách mà dòng sông trôi chảy, hoa trái thay nhau đơm kết 4 mùa, nắng ấm và mưa ẩm luân phiên, bản nhạc lòng của ông chẳng hề lặng phai, im tiếng. Rồi mùa xuân lại đến với đất đai, vạn vật, đếm thêm năm tháng tuổi trời cho một người sắp chẵn tròn thế kỷ; hỏi rằng, thời gian đã qua có gì đáng giá, cho chúng ta nhìn lại, thì chính là những chứng nhân còn đây, như người họa sĩ này - đã ân cần vẽ nên ánh sáng mùa xuân - ở gần ngay trước mắt.
![]() |
| Bức tranh “Chống rét cho trâu bò” của họa sĩ Ngọc Linh |