Với một quốc gia đã trải qua vô số cuộc chiến trong quá trình dựng nước và giữ nước như Việt Nam, việc hình thành dòng chảy nghệ thuật về chiến tranh là một tất yếu hiển hiện. Đó là một nền nghệ thuật phong phú, đa dạng, có nhiều thành tựu nổi bật thuộc các loại hình khác nhau, trong đó có văn học và điện ảnh - hai loại hình nghệ thuật mặc dù thời điểm xuất hiện cách xa nhau nhưng có khá nhiều điểm tương đồng. Ở mỗi giai đoạn, thời kì khác nhau, hai loại hình nghệ thuật này lại có những cách tiếp cận, kiến giải hiện thực, xây dựng hệ giá trị tư tưởng, thẩm mĩ khác nhau; kéo theo đó, những nghiên cứu về hai loại hình nghệ thuật này cũng có những biến chuyển, thay đổi để bắt kịp và phù hợp hơn với những chuyển động, sáng tạo không ngừng ấy nói riêng, với thời đại và công chúng nói chung. Và hai nhà nghiên cứu Trịnh Đặng Nguyên Hương (Viện Văn học) và Nguyễn Thị Năm Hoàng (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có một lựa chọn tuy không mới nhưng cần thiết đó là cách tiếp cận liên ngành để tìm ra những giao thoa, tương đồng (và cả khác biệt) giữa hai loại hình nghệ thuật cùng một đề tài. Cách tiếp cận này ở tính thực tiễn đã tạo nên một khối rubik đa chiều, đa sắc màu, mà “mỗi góc nhìn, mỗi sắc thái ấy lại mở ra những tầng ý nghĩa, vừa bổ sung, làm đầy cho nhau, vừa đối thoại, tranh luận với nhau, chồng lấn lên nhau, khiến cho những tác phẩm văn học, điện ảnh ấy ánh lên những tia sáng lấp lánh, muôn màu muôn vẻ” như mong muốn của hai tác giả và ở tính lí luận đã khai mở thêm những gợi ý, những hướng đi đầy tiềm năng cho việc nghiên cứu các loại hình nghệ thuật khác bằng lí thuyết liên ngành.
|
Cuốn sách - ngoài lời giới thiệu và phần dẫn nhập trình bày mục đích, lí thuyết nền tảng trong việc nghiên cứu - được kết cấu theo đúng tinh thần của hình ảnh nhan đề, mỗi mặt của khối rubik tương ứng với cụm chủ đề độc lập: (1) chiến tranh, tình yêu và ước vọng hòa bình; (2) chiến tranh, ký ức, biểu tượng và tinh thần đối thoại; (3) chiến tranh qua đôi mắt trẻ thơ; (4) tái kiến tạo và diễn giải chiến tranh liên văn bản. Mỗi mặt là tập hợp những bài nghiên cứu công phu của các nhà nghiên cứu văn học, điện ảnh uy tín như PGS.TS Tôn Phương Lan, PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, PGS.TS Phạm Xuân Thạch, TS Ngô Phương Lan... về các vấn đề cụ thể như các thể loại (tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ), các bộ phim về chiến tranh, so sánh các tác phẩm viết/làm về chiến tranh của Việt Nam với thế giới qua những khung lí thuyết khác nhau như Hình tượng Tổ quốc và diễn ngôn về chủ quyền trong thơ Việt Nam viết về biển đảo của PGS.TS Trần Khánh Thành, Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học hậu chiến Việt Nam từ góc nhìn nữ quyền sinh thái của PGS.TS Hoàng Cẩm Giang; Tự sự chiến tranh qua góc nhìn trẻ em của Trần Thanh Thủy – Lê Thị Dương, hay Điện ảnh từ góc nhìn liên văn hóa: Có nhiều cơn mưa bên ngoài Mưa đỏ của TS Hà Thanh Vân... Với kết cấu này, chiến tranh vừa được nhìn nhận như những lát cắt riêng rẽ vừa được thấu hiểu như một khối thống nhất, toàn vẹn với nhiều tầng nấc trải nghiệm: chiến thắng và mất mát, huyền thoại và vết thương, lí tưởng tập thể và bi kịch đời tư, lịch sử chính thống và những kí ức “ngoại biên”.
Với việc đặt văn học và điện ảnh vào không gian giao thoa liên ngành, cuốn sách đã tạo ra một “thử thách” cho người đọc khi cùng lúc phải tiếp nhận hàng loạt những kiến thức chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau thay vì những kiến thức đơn tuyến như nhiều công trình khác. Đặt trong bối cảnh lí luận – phê bình hiện nay, Rubik đa chiều, chiến tranh trong văn học và điện ảnh Việt Nam vì thế có thể xem như một nỗ lực kiến tạo “cấu trúc liên ngành” cho nghiên cứu chiến tranh. Nó đối thoại trực tiếp với các hướng tiếp cận chuyên ngành đã có, không phủ định nhưng kéo chúng ra khỏi những giới hạn khép kín; đồng thời mở rộng phạm vi thảo luận sang những địa hạt vốn ít được chú ý. Ở đây, tiếp cận liên ngành không được hiểu như phép cộng cơ học của các ngành, các lí thuyết khác nhau mà là một không gian đối thoại, nơi mỗi lí thuyết (kí ức, chấn thương, giới, cảnh quan, chuyển thể, diễn ngôn...) vừa có “đất dụng võ” riêng lại vừa “hòa kì quang” với nhau. Và chiến tranh từ đó hiện ra không chỉ như chuỗi trận đánh, địa danh, mốc thời gian, mà như một “trải nghiệm nhân loại” được ghi dấu trong tự sự, biểu tượng, giọng kể, điểm nhìn, cấu trúc thời gian và cả ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh, thân thể trên màn ảnh. Ở đây có điểm đáng chú ý là khi “văn học và điện ảnh gặp nhau tại giao điểm của ngôn từ và hình ảnh, của tự sự và thị giác, của kí ức và cảm xúc tập thể”, như lời các tác giả, phương pháp liên ngành trở thành một “chiếc cầu nối” mở ra những cách đọc đa lớp về chiến tranh. Văn học, với ưu thế của ngôn ngữ nội tâm, dòng ý thức, độ sâu phân tích tâm lí, cho phép tái hiện chiến tranh như một vùng chấn động lâu dài của nhân tính. Điện ảnh, với cú máy, dựng phim, âm thanh, cảnh quan, biểu hiện của thân thể, lại kiến tạo những “kí ức thị giác” có sức lan tỏa rộng trong cộng đồng. Khi được đọc trong thế đối thoại, hai loại hình này không chỉ “minh họa” cho nhau, mà còn cho phép người nghiên cứu nhận diện một cách rõ ràng hơn điểm giao thoa (chung một ám ảnh, một motif, một cấu trúc chấn thương...) và phân kì (khác biệt trong mô hình lí tưởng hóa, trong cách khắc họa kẻ thù, trong đường dây hòa giải – trả thù...) của hai thể loại.
Ở tầng sâu hơn, và cũng là mục đích chính của cuốn sách, là thông qua phương pháp nghiên cứu liên ngành, các tác giả đã làm nổi rõ sự chuyển dịch từ “đại tự sự chiến thắng” sang “diễn ngôn đối thoại” về chiến tranh. Trong giai đoạn 1945–1975, nền văn học nghệ thuật miền Bắc (và một phần miền Nam) nói chung, văn học và điện ảnh nói riêng chủ yếu vận hành trong quỹ đạo của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phục vụ cho công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước với “cái ta chung” là chủ đạo, hình ảnh trung tâm là người lính – chiến sĩ, những nhu cầu, tâm trạng cá nhân tạm thời không được miêu tả (hoặc nếu có thì cũng là phục vụ cho sự nghiệp chung). Khi hòa bình lập lại đủ lâu, khi những vết thương chiến tranh đã dần khép miệng, khi nhu cầu nhận thức lại chiến tranh ngày càng được đặt ra một cách cấp thiết và việc đổi mới toàn diện nghệ thuật là một yêu cầu không thể chậm trễ thì văn học và điện ảnh – cùng với những nghiên cứu về nó – đã có những thay đổi căn bản về chất. Cuốn sách này cũng nằm trong xu hướng chung, dịch chuyển hướng nghiên cứu về chiến tranh trong văn học và điện ảnh. Bằng những lát cắt khác nhau, Rubik đa chiều, chiến tranh trong văn học và điện ảnh Việt Nam đã phản ánh những xu hướng chính trong mĩ học về chiến tranh hiện nay: bên cạnh diễn ngôn anh hùng ca trung tâm, văn học và điện ảnh Việt về chiến tranh ngày càng xuất hiện thêm những tiếng nói mới của phụ nữ, trẻ em, người thua trận, người trở về… Những tiếng nói này góp phần làm khai phá những vùng đất mới, từ đó hình thành nên một tấm “bản đồ chiến tranh” hoàn chỉnh với đầy đủ những chiều kích và sắc thái khác nhau để mỗi khi nhìn vào đó, tất cả lại lặng thầm cầu nguyện cho hòa bình.
Có thể nói, những nghiên cứu trong tập sách, như chính các tác giả khiêm tốn thừa nhận, mới chỉ là “những lát cắt đầu tiên”, song chính những lát cắt ấy cũng mở ra cho thấy một hướng đi còn nhiều tiềm năng cần được tiếp tục khai phá: mở rộng đối thoại liên ngành, mở rộng so sánh liên văn hóa, đưa văn học và điện ảnh Việt Nam về chiến tranh bước vào không gian đối thoại toàn cầu, nơi nỗi đau, kí ức và khát vọng hòa bình được nhìn nhận như những kinh nghiệm chung của nhân loại chứ không chỉ của một quốc gia. Với ý nghĩa ấy, Rubik đa chiều, chiến tranh trong văn học và điện ảnh Việt Nam là cuốn sách cần có trên kệ không chỉ của những người làm công tác nghiên cứu mà còn của những ai quan tâm đến nền văn học và điện ảnh nước nhà.