Có một thời, thành công của một điểm đến thường được nhìn khá đơn giản qua số lượt khách. Khách càng đông, phòng nghỉ càng kín, doanh thu càng lớn thì mùa du lịch ấy càng được xem là thắng lợi. Nhưng với những vùng đất sống bằng cảnh quan, di sản và môi trường tự nhiên, phép tính ấy ngày càng trở nên thiếu hụt. Một điểm đến có thể đông hơn sau mỗi năm, trong khi cảnh quan dần chịu áp lực, môi trường quá tải, cộng đồng địa phương nhận được chưa tương xứng và chính những điều từng khiến du khách tìm đến lại mất đi.
Ninh Bình đang lựa chọn một cách đi khác. Ninh Bình chủ động chọn chất lượng thay cho phát triển nóng.
Trong các chiến lược và kế hoạch được tỉnh ban hành, triển khai trong năm 2026, có thể nhận thấy một tư duy khá nhất quán: du lịch phải tăng trưởng, nhưng sự tăng trưởng ấy cần được đặt trên nền tảng bảo tồn di sản, gìn giữ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên và đem lại lợi ích lâu dài cho cộng đồng. “Xanh” và “bền vững” vì thế không còn là phần trang trí cho một chiến lược quảng bá điểm đến, mà đã đi vào cách tỉnh xác định hướng phát triển du lịch trong những năm tới.
![]() |
| Vườn quốc gia Cúc Phương, một trong những không gian sinh thái tiêu biểu của Ninh Bình, là nền tảng quan trọng để phát triển du lịch xanh gắn với bảo tồn đa dạng sinh học. |
Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 30/1/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 thể hiện khá rõ lựa chọn ấy. Nghị quyết xác định công nghiệp văn hóa và du lịch là cụm ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời đặt nguyên tắc phát triển theo hướng xanh, bền vững, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; khai thác giá trị di sản phải gắn với bảo tồn cảnh quan, môi trường, người dân là trung tâm và chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp là động lực, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, quản lý và định hướng.
Đặt trong không gian Ninh Bình hiện nay, lựa chọn này càng có ý nghĩa.
Sau hợp nhất, tỉnh sở hữu một cấu trúc tài nguyên đặc biệt, từ rừng, núi đá vôi, sông hồ, đồng bằng đến vùng cửa sông, đất ngập nước và biển; bên cạnh Quần thể danh thắng Tràng An còn có Cúc Phương, Vân Long, Tam Chúc, hệ thống di sản văn hóa vùng Thiên Trường, những làng nghề lâu đời và không gian sinh thái ven biển gắn với Vườn quốc gia Xuân Thủy. Một nguồn tài nguyên phong phú như vậy mở ra dư địa rất lớn cho du lịch, nhưng cũng đòi hỏi một cách ứng xử thận trọng, bởi phần lớn giá trị hấp dẫn nhất của Ninh Bình lại nằm ở những thứ rất khó phục hồi nếu bị tổn thương.
Có lẽ kinh nghiệm từ Tràng An đã đem lại cho Ninh Bình một lợi thế trong lựa chọn đường đi. Giá trị của một Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới không nằm ở khả năng đưa được bao nhiêu người vào trong một ngày, mà trước hết ở việc cảnh quan, hệ sinh thái, dấu tích lịch sử và đời sống văn hóa được gìn giữ ra sao qua nhiều thế hệ. Khi bảo tồn được đặt vào trung tâm, du lịch buộc phải tìm cách tạo ra nhiều giá trị hơn từ tài nguyên thay vì chỉ khai thác tài nguyên nhiều hơn.
Từ cách nhìn ấy, phát triển bền vững không đồng nghĩa với hạn chế phát triển. Ngược lại, đó là lựa chọn một kiểu tăng trưởng có chất lượng hơn: kéo dài thời gian lưu trú, nâng mức chi tiêu, tạo thêm sản phẩm văn hóa và trải nghiệm, phân bố khách sang nhiều địa bàn, để một lượng tài nguyên hữu hạn có thể tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn mà không phải liên tục chịu thêm sức ép.
Nghị quyết 07 vì vậy đặt du lịch sinh thái, văn hóa, nghỉ dưỡng trong mối liên hệ với cộng đồng, làng nghề và nông nghiệp bền vững, đồng thời yêu cầu xây dựng hệ sinh thái sản phẩm từ chính các giá trị di sản. Đây là một hướng đi đáng ghi nhận, bởi Ninh Bình không thiếu tài nguyên; điều tỉnh cần trong giai đoạn mới là tổ chức lại nguồn tài nguyên ấy thành những chuỗi trải nghiệm đủ sâu để khách có lý do ở lâu hơn.
Một người đến một thắng cảnh, chụp ảnh rồi rời đi trong vài giờ khác rất xa một người dành ba ngày cho Ninh Bình, ngủ tại một cơ sở lưu trú địa phương, ăn những món ăn của vùng đất, đi làng nghề, xem biểu diễn, mua sản phẩm thủ công và dành một buổi cho trải nghiệm sinh thái. Không nhất thiết phải tăng gấp đôi lượng người, giá trị mà du lịch đem lại vẫn có thể tăng nếu hành trình của mỗi người dài hơn và khoản chi tiêu được lan tỏa rộng hơn trong cộng đồng.
Đáng chú ý là tư duy ấy đang tiếp tục được tỉnh đưa xuống những không gian phát triển mới.
Kế hoạch số 75/KH-UBND ngày 11/3/2026 về phát triển du lịch biển giai đoạn 2026-2030 xác định ngay trong mục tiêu việc phát triển du lịch biển phải theo hướng “bền vững, hiệu quả”, khai thác hợp lý tiềm năng và lợi thế biển, nâng cao đời sống người dân ven biển, đồng thời xây dựng hình ảnh du lịch Ninh Bình xanh, an toàn, thân thiện. Các sản phẩm biển được định hướng gắn với làng nghề, du lịch nông nghiệp và cộng đồng thay vì phát triển tách rời khỏi đời sống bản địa.
Đây là một lựa chọn quan trọng. Với vùng biển, phát triển nhanh luôn hấp dẫn, nhưng những công trình được dựng lên hôm nay có thể để lại sức ép môi trường trong nhiều thập niên sau. Ninh Bình lại có một vùng duyên hải đặc biệt nhạy cảm trước biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, triều cường và xói lở; khu vực ven biển Đông Nam còn kề cận Vườn quốc gia Xuân Thủy và hệ sinh thái đất ngập nước cửa sông. Trong định hướng quy hoạch khu vực này, tỉnh đã đặt vấn đề tổ chức không gian, hạ tầng, kiến trúc cảnh quan và cả yêu cầu quy hoạch không gian lấn biển bền vững.
Như vậy, một vùng biển đẹp không nhất thiết phải được lấp đầy bằng công trình mới trở nên có giá trị. Rừng ngập mặn, bãi bồi, cửa sông, làng chài, nghề biển, ẩm thực và nhịp sống của cộng đồng bản địa tự chúng đã là tài nguyên du lịch, nếu được tổ chức thành những sản phẩm phù hợp và khai thác trong giới hạn mà hệ sinh thái có thể chịu đựng.
Ở vùng nông thôn cũng vậy. Khi một làng nghề trở thành điểm đến, giá trị lớn nhất không nằm ở việc dựng thêm một khu bán hàng, mà ở chỗ nghề còn người làm, kỹ thuật còn được truyền lại và sản phẩm của người dân tìm được thị trường mới. Khi một cộng đồng tham gia làm du lịch, người dân không chỉ cung cấp phòng nghỉ hay bữa ăn, mà trở thành người kể câu chuyện về chính vùng đất của mình và được hưởng một phần lợi ích từ việc giữ gìn vùng đất ấy.
Điểm tiến bộ trong chính sách của Ninh Bình nằm chính ở việc đặt người dân vào cấu trúc phát triển đó. Nghị quyết 07 xác định người dân là trung tâm, là chủ thể sáng tạo; phát triển du lịch cộng đồng, làng nghề và nông nghiệp bền vững được đưa vào nhóm nhiệm vụ của chiến lược. Khi sinh kế của cộng đồng gắn với một dòng sông sạch, một cánh rừng còn nguyên, một nghề cổ còn người làm hay một di sản được bảo vệ, bảo tồn không còn là công việc riêng của cơ quan quản lý.
![]() |
| Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, với núi đá vôi, mặt nước và hệ sinh thái ngập nước đặc trưng, là một trong những điểm đến tiêu biểu cho định hướng du lịch xanh, bền vững của Ninh Bình. |
Du lịch xanh cũng cần công nghệ. Chuyển đổi số, dữ liệu và đổi mới sáng tạo được tỉnh đặt trong chiến lược phát triển du lịch không phải chỉ để quảng bá thuận tiện hơn, mà còn mở khả năng quản lý điểm đến chính xác hơn. Với một không gian du lịch ngày càng rộng, việc biết khách đang tập trung ở đâu, nhu cầu lưu trú thay đổi thế nào, địa bàn nào còn dư địa, nơi nào bắt đầu chịu sức ép sẽ giúp quản lý dòng khách chủ động hơn và tạo điều kiện phân bố khách sang những điểm đến mới. Nghị quyết 07 vì vậy đặt khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngay trong nền tảng của mô hình phát triển xanh, bền vững.
| Ninh Bình vẫn đặt ra những mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng. Đến năm 2030, tỉnh hướng tới trên 30 triệu lượt khách, trong đó 4-4,5 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu du lịch trên 45.000 tỷ đồng; công nghiệp văn hóa và du lịch được định hướng đóng góp khoảng 10% GRDP. Nhưng đặt những con số ấy bên cạnh yêu cầu bảo tồn cảnh quan, môi trường, phát triển du lịch sinh thái, cộng đồng và nông nghiệp bền vững mới thấy đầy đủ hơn cách Ninh Bình đang lựa chọn con đường tăng trưởng. |
Đó là một lựa chọn có tầm nhìn đối với một vùng đất mà tài sản lớn nhất không nằm dưới lòng đất hay trong những nhà máy, mà hiện hữu trên những dãy núi, dòng sông, cánh rừng, vùng đất ngập nước, bờ biển và trong lớp văn hóa được tích tụ qua nhiều thế kỷ.
Vì thế, du lịch bền vững ở Ninh Bình cuối cùng không phải câu chuyện trồng thêm cây xanh hay giảm vài sản phẩm nhựa trong khu du lịch. Đó là một bài toán phát triển rộng hơn nhiều: quy hoạch để không phá vỡ cảnh quan, bảo tồn để di sản tiếp tục sinh lợi lâu dài, phân bố dòng khách để giảm sức ép lên những điểm đến nổi tiếng, tạo sản phẩm mới để tăng giá trị thay vì chỉ tăng số người, đưa cộng đồng vào chuỗi lợi ích và sử dụng công nghệ để quản trị tài nguyên tốt hơn.
Điều đáng quý là những nguyên tắc ấy đang được đưa dần từ quan điểm vào nghị quyết, kế hoạch và từng không gian phát triển cụ thể của tỉnh, từ vùng di sản đến nông thôn, từ rừng xuống biển.
Một điểm đến có thể nổi tiếng rất nhanh; để giữ được sức hấp dẫn qua nhiều thập niên lại cần một cách nghĩ dài hơn. Với những lựa chọn chính sách đang được triển khai, Ninh Bình đang cho thấy một thái độ tỉnh táo trước chính lợi thế rất lớn của mình: không tiêu dùng di sản cho hiện tại, mà gìn giữ di sản, thiên nhiên và văn hóa như nguồn vốn để phát triển cho tương lai.