Khoản 2, 3 Điều 4 của Nghị định 05/2011/NĐ-CP xác định rõ: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. Như vậy, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là 53 dân tộc trong thành phần dân tộc Việt Nam, trừ dân tộc Kinh là dân tộc đa số. Theo thống kê, dân tộc đa số chiếm 85,3% và dân tộc thiểu số chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước. Cách diễn đạt “dân tộc thiểu số” là khái niệm mang tính hành chính chỉ tương quan về lượng, thay cho lối sử dụng những khái niệm như “dân mán”, “người thượng”... mang định kiến sắc tộc trước kia. Ngày 18/11/1991, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam được thành lập với chức năng là đoàn thể quần chúng, có nhiệm vụ hợp tác với Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), các cơ quan văn hóa, khoa học trong cả nước, huy động các lực lượng văn hóa trong xã hội cùng thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số... Tính đến nhiệm kì 2019-2024, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam có hơn 1.000 hội viên, 40 tổ chức cơ sở Hội và chi hội của 40 tỉnh thành trong cả nước thuộc các chuyên ngành khác nhau.
Như thế, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận sự tồn tại tất yếu của nhóm nhà văn dân tộc thiểu số gắn với vấn đề sắc tộc trong cộng đồng các tác giả sáng tác văn chương. Người ta không thể từ chối tầm quan trọng của những yếu tố ngoài văn chương đối với sáng tác văn chương. Đặt trong không gian văn học Việt Nam, nhà văn dân tộc thiểu số xuất hiện như một chủ thể đặc thù: vừa là tác giả cá nhân, vừa là tiếng nói đại diện cho cộng đồng có ngôn ngữ, văn hóa và thế giới quan riêng. Họ thường được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa bản địa, gắn với thiên nhiên, vòng đời nghi lễ, kí ức cộng đồng và truyền thống truyền khẩu - khác biệt cơ bản với nhiều nhà văn dân tộc đa số. Nhà văn dân tộc thiểu số vì thế không chỉ là người “kể chuyện của dân tộc mình” mà còn là người góp phần tái định nghĩa dân tộc mình trong hình thức nghệ thuật hiện đại, chuyển hóa kí ức tập thể thành sáng tạo cá nhân. Họ là trường hợp điển hình cho thấy rõ hơn sự gắn kết giữa cá nhân với cộng đồng, giữa ngoại biên với trung tâm, qua đó góp phần tái định nghĩa văn học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa: một nền văn học đa trung tâm, đa chiều kích, đa bản sắc.
![]() |
| Các nhà văn dân tộc thiểu số chụp ảnh lưu niệm |
Nếu trước đây văn học dân tộc thiểu số đôi khi bị coi là dòng chảy bên lề, tồn tại để phản ánh đời sống miền núi hoặc làm phong phú màu sắc dân tộc thì nay cần một cách nhìn khác. Tái định nghĩa khái niệm “nhà văn” theo hướng đa thanh, đa trung tâm là yêu cầu tất yếu: Văn học quốc gia phải lắng nghe tiếng nói từ ngoại biên. Những tiếng nói đó không phải là sự phụ họa cho các chính sách về văn hóa, cũng không phải nỗ lực đối đáp với dòng chảy văn học đa số, mà xuất phát từ chính nhu cầu bản thân của các tác giả văn học dân tộc thiểu số. Đó là nhu cầu bộc lộ bản sắc dân tộc thông qua việc sử dụng ngôn ngữ sáng tác. Chiến lược này được thể hiện qua cách sử dụng chữ viết và đặt tên tác phẩm của các tác giả dân tộc thiểu số.
Việt Nam là đất nước đa văn hóa và bởi thế văn chương Việt Nam là nền văn chương đa ngôn ngữ. So với những sáng tác bằng tiếng phổ thông, sáng tác của các tác giả dân tộc thiểu số chiếm một số lượng khiêm tốn. Một quy luật dễ dàng được thừa nhận là văn chương là một trong những điều kiện tồn tại và phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Từ đó đặt ra những suy tư về công cuộc gìn giữ, lưu truyền bản sắc văn hóa khi ngôn ngữ dân tộc thiểu số ngày một mai một đi nhiều. Tiếng nói và chữ viết (đối với các dân tộc có chữ viết truyền thống) là một trong những biểu hiện sinh động của bản sắc văn hóa.
Tiếng nói, chữ viết thể hiện cách tư duy nghệ thuật của các nhóm cộng đồng và từ đó phần nào ảnh hưởng trở lại tư duy nghệ thuật đó. Trước kia, khi văn học viết chưa thực sự phát triển trong cộng đồng dân tộc thiểu số, không hiếm trường hợp, các tác giả dân tộc thiểu số sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình để biểu đạt tiếng nói, và có một khoảng cách khá lớn giữa ngôn ngữ thể hiện với khả năng biểu đạt. Theo Lâm Tiến, Tô Hoài là nhà văn sớm nhận ra sự khác biệt giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số cùng viết về đề tài dân tộc và miền núi. Nhà văn kể về thời gian khi viết cuốn Miền Tây, thực ra ông chỉ bắt chước tiếng nói, lối nói của người Mông, còn anh em ở trên đấy đọc nói rằng trong ngôn ngữ cụ thể từng câu, tác giả “có vẻ Mông”... Theo ông, chỉ “có vẻ” Mông chứ không phải thật H’Mông, thật ngôn ngữ, tư duy của dân tộc Mông. Nên nếu ngôn ngữ của Tô Hoài có bản sắc dân tộc (thiểu số) thì nó chỉ “có vẻ” bản sắc dân tộc, chứ không phải là bản sắc dân tộc đích thực. Đấy là một “bản nhái” bản sắc ngôn ngữ. Từ “có vẻ” của Tô Hoài dùng ở đây rất đắt. Dường như các tác phẩm người Kinh viết về dân tộc và miền núi đều có vẻ bản sắc dân tộc như vậy và sau này đều có xu hướng “bắt chước” theo một khuôn mẫu được tạo ra bởi một trong những người khởi đầu đó. Sự khác biệt này chính là xuất phát từ chiều sâu văn hóa, tư duy và ngôn ngữ dân tộc và đó cũng là yếu tố chính tạo nên bản sắc dân tộc trong văn học các dân tộc thiểu số. Là người quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc dân tộc trong văn học dân tộc thiểu số bởi đó là đặc trưng sống còn của một bộ phận đặc thù, Nông Quốc Chấn cho rằng, “Muốn bảo tồn tiếng nói của mỗi dân tộc, nhà thơ, nhà văn của dân tộc cần có ý thức học và viết bằng tiếng dân tộc (...). Mỗi dân tộc cần được khuyến khích, giúp đỡ dùng tiếng mẹ đẻ, và có điều kiện thì được giúp đỡ đặt chữ riêng, để in, dùng tiếng, chữ dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực. Chúng tôi không coi tiếng Việt là thứ ngoại ngữ đối với các dân tộc thiểu số. Nhưng thực tế, học sinh miền núi học tiếng Kinh như học ngoại ngữ. Vậy, quan tâm cả hai ngữ...”
Trong suốt tiến trình phát triển gần một thế kỉ của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, hầu hết các tác giả là nhà thơ, nhà văn các dân tộc thiểu số đều đã có những sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Thời kì nở rộ là những năm 60 của thế kỉ XX, một loạt các tác phẩm từ thơ cho đến tiểu thuyết được ra đời. Chúng tôi tạm thống kê, chưa thật đầy đủ, các tác giả sáng tác bằng tiếng dân tộc có thể kể theo từng dân tộc như: dân tộc Tày có Hoàng Đức Hậu, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Y Phương, Dương Thuấn, Dương Khâu Luông...; dân tộc Thái có Lò Văn Mười, Cầm Biêu, Hoàng Nó, Vương Trung, Lò Vũ Vân...; dân tộc Dao có Bàn Tài Đoàn; dân tộc Chăm có Inrasara; dân tộc Mông có Hùng Đình Quý; dân tộc Mường có Đinh Sơn...Trong giai đoạn đầu thế kỉ XXI, tình hình sáng tác bằng tiếng dân tộc thiểu số dường như bị chững lại. Nhiều nhà văn dân tộc thiểu số đã đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển chữ dân tộc thông qua văn học nghệ thuật. Nhà thơ Nông Viết Toại cho rằng không thể “khoán trắng” cho các tổ chức mà cần sự ý thức riết róng của chính các tác giả người dân tộc thiểu số. Thêm vào đó, những giải pháp tâm huyết ông đưa ra để tăng cường việc xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số cũng rất đáng chú ý: “Ở địa phương cũng từng có ý kiến gợi rằng, tiếng dân tộc nên có thêm tỉ lệ nhuận bút. Tôi nghĩ rằng, đấy cũng chỉ là biện pháp tình thế. Tiền bạc là quý nhưng trong sáng tạo nên tránh và cố tránh, gây thêm động cơ vì tiền”. Tiến sĩ Lò Giàng Páo đưa ra những đề xuất cụ thể: “Cần có bộ sách giáo khoa dành riêng cho học sinh vùng dân tộc và bộ sách hướng dẫn dành riêng cho giáo viên vùng dân tộc. Sách này được biên soạn mang đặc điểm sách hướng dẫn dạy song ngữ.” Nhà thơ Triệu Lam Châu cho rằng cần lập ra Ban Văn hóa Văn nghệ trực thuộc Ủy ban Dân tộc và Miền núi của Chính phủ; lập ra một số tờ báo viết bằng các thứ tiếng dân tộc thiểu số... Đây là những thiết chế chính danh xác nhận vai trò của các tác giả văn học dân tộc thiểu số và hỗ trợ họ phát triển nghề nghiệp trong sáng tác bằng chính ngôn ngữ của họ. Bên cạnh đó, các hội đồng nghệ thuật chuyên sâu đóng vai trò của những độc giả tinh hoa thẩm định và trao giải thưởng hằng năm cho các tác phẩm có chất lượng viết bằng tiếng dân tộc thiểu số... Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Viện Văn học và các ngành có liên quan phối hợp tổ chức những hội thảo chuyên đề về văn học Tày, Nùng, Thái, Chăm, Khmer... Sự đa dạng trong thống nhất quốc gia là chủ trương lớn, trong đó việc bảo tồn tiếng nói và chữ viết các dân tộc là định hướng quan trọng để xác lập được giá trị văn hóa và ý thức hệ ở chiều sâu.
Văn học, nghệ thuật là một trong những điều kiện tồn tại và phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Điều đó đặt ra những suy tư về công cuộc gìn giữ, lưu truyền bản sắc văn hóa khi ngôn ngữ dân tộc thiểu số ngày càng mai một đi nhiều. Không ít nhà văn dân tộc thiểu số chọn song ngữ như một chiến lược thẩm mĩ: Vừa bảo tồn âm hưởng tiếng mẹ đẻ, vừa dùng ngôn ngữ quốc gia để tham dự vào dòng chảy chung. Bên cạnh đó, nhan đề tác phẩm là một ví dụ của dấu ấn không gian bản địa đồng thời là “tuyên ngôn bản sắc” về cội nguồn.
Nhan đề tác phẩm thường mang chức năng đặc biệt, không chỉ là một “chỉ báo” về nội dung mà còn đưa đến những thông điệp ngầm ẩn. Ở đây chúng tôi khảo sát những sáng tác của các tác giả trên cơ sở lựa chọn nhằm bảo đảm tính khoa học và tính đại diện. Cùng với đó, việc lựa chọn cũng chú trọng đến thành tựu nghệ thuật thể hiện qua số lượng tác phẩm xuất bản, giải thưởng văn học, mức độ ảnh hưởng trong cộng đồng tiếp nhận. Một tiêu chí quan trọng khác chúng tôi cũng dành sự quan tâm lớn là tính đa dạng vùng miền và thành phần dân tộc, nhằm phản ánh được sự phong phú của không gian văn hóa - ngôn ngữ trong sáng tác. Với những tiêu chí này, đối tượng khảo sát vừa mang tính chọn lọc vừa phản ánh được sự đa thanh, đa diện của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam trong dòng chảy chung của văn học dân tộc. Nếu tiếp cận từ phương diện cấu trúc và trường liên tưởng, có thể thấy các nhan đề thường gắn bó mật thiết với không gian sinh tồn, với đời sống cộng đồng và với kí ức văn hóa của mỗi dân tộc. Trong đó, nổi bật lên hai nhóm nhan đề chính.
Một là, những nhan đề tác phẩm gắn với thiên nhiên (núi, rừng, suối, sông, cây, hoa... được nhấn mạnh như trung tâm thẩm mĩ) có thể kể đến: Bàn Tài Đoàn: Xuân về trên núi (1963), Rừng xanh (1973); Bùi Thị Như Lan: Bồng bềnh sương núi (2009), Mùa hoa Bjooc phạ (2013); Bùi Thị Tuyết Mai: Mường trong (2005); Cao Duy Sơn: Ngôi nhà xưa bên suối (2009); Dương Khâu Luông: Bản mùa cốm (2005), Khỉ con đi hái quả (2013); Dương Thuấn: Đi tìm bóng núi (1993), Trăng Mã Pí Lèng (2002); Inrasara: Tháp nắng (1996), Sinh nhật cây xương rồng (1997); Lò Cao Nhum: Rượu núi (1996), Soi gương núi (1997); Lò Ngân Sủn: Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990); Ma Trường Nguyên: Mát xanh rừng cọ (1986), Tiếng lá rừng gọi đôi (1996); Mai Liễu: Suối làng (1994), Mây vẫn bay về núi (1995), Giấc mơ của núi (2001), Đầu nguồn mây trắng (2004); Pờ Sảo Mìn: Mắt rừng xanh (2005), Đôi cánh chim rừng (2014); Sa Phong Ba: Những bông hoa ban tím (1982), Người rừng ở Pá Lống (2017); Triệu Kim Văn: Hoa núi (1989), Con của núi (2002)...
Hai là, những nhan đề tác phẩm phản ánh cuộc sống vùng cao (tập trung khắc họa đời sống, bản làng, lễ hội, con người, sinh hoạt cộng đồng…), tiêu biểu có: Bàn Tài Đoàn: Gửi đồng bào Dao (1979); Bùi Thị Như Lan: Tiếng chim kỷ giàng (2003), Lời sli bay cao (2008), Chuyện tình Phja Bjooc (2017); Bùi Thị Tuyết Mai: Nơi cất rượu (2003), Binh Boong (2008); Cầm Biêu: Cầu vào bản (1982), Bản Mường nhớ ơn (1993); Dương Khâu Luông: Dám kha cần ngám điếp (2005), Co nghịu hưa cần (2008), Phác noọng dú tin phạ quây (2016); Dương Thuấn: Cưỡi ngựa đi săn (1991), Hát với sông Năng (2001); Hà Thị Cẩm Anh: Người con gái Mường Biện (2002), Nước mắt của đá (2005); Hoàng Hạc: Bắc Hà đêm nay; Lò Vũ Vân: Vòng xòe và sao sa (1980), Đi từ miền gió hoang (2005); Nông Quốc Chấn: Việt Bắc tức slấc - Việt Bắc đánh giặc (1948), Tiếng ca người Việt Bắc (1959), Đèo gió (1968), Dòng thác (1977); Triều Ân: Tiếng hát rừng xa (1969), Tiếng khèn A Pá (1980), Đường qua đèo mây (1988), Xứ sương mù (2000); Vương Anh: Sao chóp núi (1968), Hoa Lipa yêu (1989), Rượu mặn (1993); Y Điêng: Ông già Kơ Rao (1964), Hờ Giang (1978), Drai Hling đi về phía sáng (1985); Y Phương: Kungfu người Co Xàu (2010); Đinh Đăng Lượng: Cánh bông dàn mải miết (2009), Xứ hoa pôông trăăng (2017); Hà Lâm Kỳ: Chim ri núi (1992), Gió Mù Căng (1995), Con trai bà chúa nả (1998), Quả nhạc xòe của mẹ (2006); Bùi Nhị Lê: Truyện thung Pưa Run (1999), Sự tích màu lông cọp (1995), Hát quanh bếp lửa (2009); Đoàn Lư: Vực xanh (2004); Hà Lý: Ngọt đắng vị Mường (2002); Linh Nga Niê Kđăm: Đi tìm hồn chiêng (2003), Trăng Xí Thoại (2004), Pơ Thi mênh mang mùa gió (2009); Niê Thanh Mai: Suối của rừng (2005), Về bên kia núi (2007); La Quán Miên: Bản quê yêu dấu (1996), Hai người trở về bản (1996), Vùng đất hoa Cờ Mạ (1997), Con đường Bản Đôn (1999), Bản nhỏ tuổi thơ (2000); Hoàng Hữu Sang: Chuyện lạ ở bản Coóc (1999), Vực thuồng luồng (2006); Hữu Tiến: Đèo không lặng gió (2001), Cô gái nhặt bông gạo (2004), Sông hát (2006)...
Qua những nhan đề tác phẩm kể trên, dù chưa thể đầy đủ, có thể thấy hai nhóm tên gọi lớn với những đặc trưng: Thứ nhất, những nhan đề lấy trực tiếp hình ảnh từ cảnh quan, núi rừng, bản làng, tín hiệu thuộc về môi trường sống gắn bó của đồng bào. Thứ hai, những nhan đề gợi nhắc đến nếp sống, sinh hoạt, phong tục, lễ hội đặc thù. Cả hai nhóm đều cho thấy việc đặt tên tác phẩm trở thành hành động gắn liền với việc lưu giữ và khẳng định bản sắc cộng đồng.
Việc nhấn mạnh cội nguồn qua nhan đề tác phẩm còn là hành vi khẳng định bản sắc, chống lại nguy cơ xóa mờ các nét đặc sắc văn hóa. Trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, văn học bằng tiếng Việt tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ và trở thành trung tâm, việc tác giả dân tộc thiểu số chủ động gọi tên tác phẩm bằng dấu hiệu của núi rừng, phong tục, sản vật chính là một hành động “tái định vị” tiếng nói của cộng đồng mình. Nhan đề tác phẩm đã trở thành một hình thức cất tiếng, khẳng định sự hiện diện khác biệt. Điều này cho thấy văn học dân tộc thiểu số không chỉ góp phần mở rộng bức tranh văn học quốc gia mà còn tham gia vào diễn ngôn rộng lớn hơn của sự tự khẳng định và đa dạng văn hóa.
Từ cái nhìn của tiếp nhận văn học, nhan đề tác phẩm luôn là “cửa ngõ” đầu tiên dẫn dắt độc giả, định hình những kì vọng và khung tri nhận trước khi đi sâu vào nội dung. Với sáng tác của nhà văn dân tộc thiểu số, nhan đề lại càng mang ý nghĩa đặc biệt: nó không chỉ là tuyên ngôn bản sắc của tác giả, mà còn định hướng cách độc giả - phần đông thuộc cộng đồng đa số và có khoảng cách văn hóa nhất định - tiếp cận và diễn giải văn bản. Một nhan đề gắn với hình ảnh núi rừng, phong tục, lễ hội, sản vật hay những từ ngữ mang âm hưởng tiếng mẹ đẻ (ví dụ Trăng Mã Pí Lèng của Dương Thuấn, Đàn then của Y Phương, Tháp nắng của Inrasara) ngay lập tức khơi gợi trường liên tưởng về không gian ngoại biên, đồng thời tạo tâm thế “đọc khác” cho độc giả. Chính ở đây, độc giả không chỉ là người tiếp nhận thụ động mà trở thành đồng tái tạo ý nghĩa cùng tác giả, qua đó làm nổi bật năng lực “chất vấn trung tâm” của văn học dân tộc thiểu số. Như vậy, nhan đề tác phẩm không đơn thuần là điểm tựa cho bản sắc mà còn là điểm gặp gỡ của sự “thương lượng” văn hóa giữa nhà văn và độc giả trong không gian văn học quốc gia.
Trong bối cảnh văn học đương đại Việt Nam, những tác giả văn học dân tộc thiểu số vừa có sáng tác song ngữ vừa viết bằng tiếng Việt thể hiện nỗ lực kết nối, hòa nhập mà vẫn giữ gìn bản sắc. Bên cạnh những sáng tác song ngữ cho phép nhà văn gìn giữ ngôn ngữ mẹ đẻ, mở rộng biên độ tiếp nhận, việc viết bằng tiếng Việt được nhiều tác giả dân tộc thiểu số lựa chọn như một cách khẳng định sự hiện diện trong dòng chảy văn học quốc gia. Trong khi tiếng dân tộc gắn liền với kí ức và bản sắc thì tiếng Việt đóng vai trò là “ngôn ngữ trung gian” để cộng đồng dân tộc thiểu số định vị mình trong bản đồ văn học quốc gia và quốc tế. Chính từ đây, tác phẩm dân tộc thiểu số có thể tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa văn học, được dịch ra các ngôn ngữ khác, qua đó nối kết với độc giả ngoài biên giới. Sự tham dự này góp phần vào sự xuất hiện của nhà văn dân tộc thiểu số một cách chính danh và đích đáng. Sự xuất hiện và tồn tại của định danh “nhà văn dân tộc thiểu số” không đơn giản là kết quả từ chính sách mà từ nhu cầu của chính tộc người.