Hòn Chè có con suối La Tinh chảy qua trong lòng với nhiều hang động lớn, có hang sức chứa đến hàng ngàn người. Các đơn vị, các cơ quan, trong đó có Sư đoàn 3 Sao Vàng lấy Hòn Chè làm nơi khu trú, ẩn nấp, đây cũng là nơi máy bay trinh sát và thám báo phía bên kia thường soi mói tìm tòi.
![]() |
| Hòn Chè. Ảnh TL |
Ngày 23/3/1971, từ 7 giờ đến 9 giờ 30, sau mấy lượt máy bay trinh sát OV10 quần thảo, ném lựu đạn khói chỉ điểm, pháo địch từ các trận địa Phù Mỹ, Phù Cát, Bồng Sơn, Tây Sơn, dồn dập giội bão lửa, cày nát Hòn Chè, xé rách trời đất. Tiếp đến, hàng chục lượt máy bay xúm đến ném bom. Hòn Chè và các khu vực lân cận chìm trong khói lửa mịt mù. Điểm cao 816 như bị nghiền ra bột. Suối La Tinh vặn mình sôi lên ùng ục. Chưa thôi, hàng chục chiếc máy bay trực thăng HU1A, loại hai chong chóng chở một tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn Mãnh Hổ (Nam Triều Tiên), thay nhau hối hả đổ quân lên đỉnh Hòn Chè.
Ngồi trên đài quan sát, đại đội trưởng Nguyễn Như Hoàng, trung đội trưởng Mai Văn Phiếm và tôi đếm được cả thảy 60 chuyến bay, có cả máy ủi, pháo lớn tiến về Hòn Chè.
Thật nguy hiểm và vô cùng nan giải. Bởi lúc này, cách Hòn Chè không xa, khoảng 400m theo đường chim bay, ngay sát nách địch, dưới chân Hòn Chè dọc theo suối La Tinh, có ba cơ quan đầu não của chiến dịch đang yên vị tại đó. Gồm Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân khu 5, Tỉnh ủy, Tỉnh đội tỉnh Bình Định và hai cố vấn quân sự Bắc Triều Tiên nữa. Đặc biệt, lúc này có hơn 500 đại biểu của các đơn vị về dự Hội nghị tập huấn, chuẩn bị cho chiến dịch đang ở tại hang đá Tỉnh ủy.
![]() |
| Binh lính của Sư đoàn Mãnh Hổ tiến đánh Chốt Hòn Chè. Ảnh TL |
Suối La Tinh sôi động hẳn lên. Kẻ chạy ngược, người chạy xuôi, suýt va vào nhau. Nhưng có lúc im lìm, tưởng chừng như nín thở. Nhiều ý kiến bàn ra bàn vào, có người bảo:
- Phải giải tán Hội nghị, cho các đơn vị di chuyển gấp trong đêm!
Người khác lại bảo:
- Sẽ bị lộ, khi một khối lượng người đông đúc của ba cơ quan, làm sao qua được mắt địch?
Có người lại đề nghị:
- Phải phát súng dài (AK hoặc CKC) cho số cán bộ tập huấn, chia ra từng đại đội, trung đội để đánh địch.
Tư lệnh Tiền phương Huỳnh Hữu Anh, sau khi hội ý với Bí thư Tỉnh ủy Thanh Chơn, đi đến nhận định, và chỉ thị:
- Khả năng địch mới thăm dò đánh hơi. Các đơn vị phải hết sức bí mật. Từ khói lửa, nói năng, di chuyển, phải tuyệt đối cẩn mật. Tổ chức bám sát địch, không manh động nổ súng. Chỉ khi nào địch đến gần, có nguy cơ lần xuống suối, xuống hướng các cơ quan thì mới nổ súng. Tất cả chuẩn bị tinh thần chiến đấu cao, quyết tâm bằng mọi giá, phải bảo vệ cho bằng được Hội nghị, bảo vệ ba cơ quan đầu não của chiến dịch, bảo vệ cố vấn nước bạn. Đại đội trinh sát - vệ binh phải lập chốt chặn. Quyết không để bọn chúng mò xuống suối, bước qua chốt chặn. Trường hợp khi chốt chặn bị uy hiếp, thì dùng nhiều mũi vu hồi, đánh thọc lên Hòn Chè!
7 giờ tối, trên trời xuất hiện những chùm pháo sáng lập lòe. Trên cao điểm, vang lên vài tiếng súng con lẹt đẹt, buồn tẻ. Toàn đại đội trinh sát - vệ binh, lầm lì khẩn trương triển khai công việc của mình. Đại đội trưởng Nguyễn Như Hoàng dẫn tổ chốt gồm: Nguyễn Văn Bằng, Dương Ngọc Tĩnh, Mai Văn Phiếm, Trần Khởi, Phạm Chiên, Lê Xuân Nho, Võ Văn Hùng, Tô Tấn Tài, Hoàng Văn Long đi tìm điểm đặt chốt. Điểm chốt thật lợi hại, nằm ngay trên con đường độc đạo từ Hòn Chè đi xuống dốc Yên Ngựa. Phía trên là núi cao, phía dưới là vực sâu. Muốn hay không, đi xuống Hang Chè, phải băng qua chân chốt chặn. Trên chốt cao, có một khối đá lớn, bên trong lõm sâu thành một cái hốc, như trời đã khoét sẵn hầm, ngồi được 6 đến 7 người. Từ chốt, nhìn lên đỉnh Hòn Chè khoảng 500m. Bọn lính pháo binh địch vẫy cờ hiệu bắn pháo, thấy rất rõ.
Tổ vận động cơ động, gồm: đại đội phó Thanh, Nguyễn Bá, Phạm Ngọc Chơ, Nguyễn Thành, Xuân Đô, Nguyễn Văn Kiếm, Nguyễn Quang Mão, Ma Quang Miện, Nguyễn Văn Bản đã rải xong dây và kết nối liên hoàn 5 quả mìn Claymor dọc đường đi lên chốt, đồng thời cài 2 quả pháo tự chế đang đào hầm ở sườn phía đông. Nghe động, địch bắn cối sang xối xả. Không thể đào được. Một tổ leo dốc phía bắc, bám sát lưng địch.
Tổ hậu cần và tổ dự bị, do chính trị viên đại đội Trần Văn Lạc phụ trách, gồm: Nguyễn Văn Kháng, Nguyễn Văn Tĩnh, Lê Văn Ngọc, Nguyễn Thị Phụng, cũng đã hoàn tất phần việc của mình. Vậy là, mọi việc đã xong xuôi, chỉ chờ đợi động tĩnh của địch...
Ngày 24/3, trôi đi vô sự. Nhìn sang đồi Hòn Chè, bọn địch đang hì hục đào công sự. Chốc chốc, có vài khẩu cối bắn vu vơ, đạn khói trùm kín cả đồi. Pháo bắn cầm canh quanh đồi Hòn Chè và khu vực lân cận. Đại đội trưởng Hoàng thông báo, địch chưa có hiện tượng đi xuống dốc Yên Ngựa. Anh dặn anh em ngụy trang cửa hầm và lệnh đào thêm cửa hầm phụ. Chính trị viên Lạc lên chốt cùng với nuôi quân, tiếp tế vũ khí đạn và xác định tư tưởng cho anh em. Động viên tinh thần chiến đấu và dặn dò, nếu bị địch bắt, quyết không khai nơi đóng quân của Bộ Tư lệnh Chiến dịch.
Ngày 25/3. Từ 6 giờ đến 8 giờ sáng, pháo địch bắn cấp tập về hướng chốt chặn rất rát. Máy bay ném bom, trực thăng phóng rocket dọc eo Yên Ngựa. 8 giờ 30, anh Hoàng vội vàng lên chốt, mang theo khẩu B40 giao cho tôi và nhắc nhở anh em chuẩn bị chiến đấu. 9 giờ, pháo địch bắn xa và thưa dần. Chúng tôi hiểu chúng sắp tấn công bằng bộ binh.
Quả vậy, bọn địch theo eo Yên Ngựa, lục tục một cách lấm lét, đi xuống chốt chặn chúng tôi. Một thằng, 2, 3, rồi 15, 20 tên, nằm lọt trong vòng vây của 5 quả mìn Claymor cài liên hoàn. Hoàng bảo với Bằng và tôi: “Khi nào tôi vẫy tay, thì tức khắc cả cho nổ mìn và bắn B40 cùng một lúc!”
Đây là lần thứ hai tôi được tham gia chiến đấu trực tiếp. Lòng rất khó tả, vừa sung sướng tự hào pha lẫn bồn chồn lo lắng. Tôi run lên, cố nhắm vào thằng đeo máy bộ đàm PRC25. Sau cái vẫy tay của Hoàng, đồi núi như nổ tung, ầm ào rung chuyển. Tiếng mìn, tiếng B40, lựu đạn, nổ tơi bời. Xác địch chất đầy đường, ngổn ngang dưới chân chốt chặn. Số còn lại chống trả yếu ớt, rồi chạy ngược lên phía trên, bị tổ vận động của Bá, Kháng, Đô, Miện chặn đánh quyết liệt, làm chết thêm một số. Hoàng và tôi chạy ào xuống, thu được 2 khẩu AR15, một khẩu M79 và một máy bộ đàm.
Hai chúng tôi vừa lên đến chốt, máy bay trực thăng đến vãi đạn như mưa. Ròng rã suốt cả buổi chiều. Máy bay mang bom hạng nặng, trút liên miên xuống chỗ chúng bị đánh lúc sáng khiến cho chốt bị cày nát trơ trọi, hiện nguyên hình, để rồi những khẩu cối 81 từ bên kia Hòn Chè rót thẳng xuống. Tiếng đạn cối nổ đanh, phá nát những tảng đá trên chốt. Mảnh đá bay rào rào. Sức ép của cối khủng khiếp. Hoàng bị sộc máu mũi. Chiên chảy máu cả tai, phải về hậu cứ. Tôi cũng bị ù tai, không còn nghe chi nữa!
Ngày 26/3, bọn chúng thả hỏa mù, bom khói nhiều lần, nhiều đợt, xuống trận địa hôm qua để trực thăng lấy xác. Ta giữ chặt, bắn tỉa từng phát một. Có rất nhiều tên bỏ mạng, không thể lấy được xác. Địch cay cú, bắn đạn hóa học lên. Chúng tôi đã mang mặt nạ rồi nhưng vẫn không chịu nổi. Ngạt thở tưởng chừng chết mất. Bằng cùng Phiếm chạy xuống cài lựu đạn vào mấy cái xác địch, nối lại dây mìn bị đứt.
Ngày 27/3, chúng tôi gồm Lạc, Hoàng, Phiếm, Bá, Khởi được triệu hồi về hậu cứ, gặp Tư lệnh Quang và cố vấn Bắc Triều Tiên để bàn thêm cách đánh. Chuyên gia quân sự Bắc Triều Tiên nhận định: “Có khả năng bọn chúng sẽ đánh theo lối đặc công, tập kích chốt vào ban đêm.” Tư lệnh Quang giữ tôi lại để cùng ông sang Tỉnh ủy.
Ngày 28/3, im lặng đến khó chịu. Một ngày trôi đi nặng nề. Đêm đi vào chiều sâu, càng yên ắng. Đúng như nhận định, 2 giờ sáng, địch dùng lối đánh đặc công, mật tập lên chốt chặn. Chúng bò lên sát tận cửa hang chốt. Bị anh em phát hiện, bắn chết, xác rơi xuống chân chốt. Những tên đi sau, giẫm phải mìn, xác rơi xuống suối.
Sáng 29-30/3, địch bỏ đánh chốt, bỏ lấy tử sĩ. Chúng dùng một tiểu đội thả dây tụt xuống vực, định tiến xuống hang Tỉnh ủy và đổ quân ở đồi Phụ Nữ. Tổ chúng tôi gồm Hoàng, Thanh, Ngọc, Khởi, Hùng, Kháng cùng anh em tỉnh đội chặn đánh tan tác. Tổ vận động: Bá, Ngọc, Đô, Miên, Chơ, Mão, tập kích đánh thẳng lên Hòn Chè, diệt một trung đội, phá hủy 2 khẩu cối 81.
Khi tôi và Hoàng chạy dọc theo suối, thấy tổ của Bá từ trên núi tụt xuống. Cậu Đô bị thương vào miệng, máu chảy ướt cả áo.
Chiều đó, tôi cùng Hoàng, Bằng treo dây làm thang, bẻ lá ngụy trang, lấy thùng sơn của chị Học mua từ dưới đồng bằng lên, viết lên lèn đá 2 chữ to đùng: “KIÊN CƯỜNG”. Chữ cao 1m, nét chữ rộng 15cm, dòng chữ dài khoảng 12-15m, theo yêu cầu của Tư lệnh và Tỉnh ủy. Địch bên kia phát hiện, bắn sang. Bằng bị đứt dây rơi xuống, may thay, chỉ trẹo chân nhẹ, Hoàng bị đá bay vào mắt. Hôm sau, và hôm sau nữa, chúng tôi lại tiếp tục viết tiếp.
Ngày 1/4/1971, địch tăng thêm quân. Chúng tiếp tục tìm mọi cách để lấy xác. Hết đợt này đến đợt khác vẫn không lấy được. Xác địch ngày thêm chồng chất, thối rữa dưới chân chốt, hôi đến phát nôn. Nho bịt mũi vẫn bị nôn thốc nôn tháo, chịu không nổi, xin về hang.
Ngày 2/4, ta được lệnh rút quân để triển khai chiến dịch Xuân Hè. Chỉ để lại một tổ với đài quan sát. Buổi chiều, địch bắn pháo dữ dội và đi hốt xác. Lúc đó, không một tiếng súng trả lời...
Ngày 3/4, địch bắn phá dữ dội nhưng đó là cuộc bắn phá, nhằm dọn đường rút quân. Chúng lần lượt rút khỏi Hòn Chè và các điểm lân cận. Đài quan sát đếm được 48 chuyến bay cả thảy.
Ngày 5/4, chính trị viên Lạc, đại đội trưởng Hoàng, cùng Bá, Bằng, Tĩnh lên chốt Hòn Chè kiểm tra thấy có một thùng đựng 93 bông huệ trắng buộc dải đen. Đó là 93 tên Nam Triều Tiên xấu số của sư đoàn Mãnh Hổ, bị đơn vị trinh sát - vệ binh C2, Sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng tiêu diệt. Các anh lấy được dù và võng dù về cho tôi vì biết võng tôi đã rách. Các anh còn cho chúng tôi 4 gói thuốc lá Salem của Mĩ và mấy gói cà phê...
Như vậy, sau 9 ngày kiên cường bám trụ, đơn vị trinh sát - vệ binh Sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng anh hùng đã mưu trí sáng tạo, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, bẻ gãy chân một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Mãnh Hổ, trên cao điểm Hòn Chè, diệt và làm bị thương trên 150 tên, phá hỏng hai cối 81mm thu nhiều chiến lợi phẩm. Đặc biệt, các anh đã bảo vệ được ba cơ quan đầu não của chiến dịch, không có chiến sĩ nào phải hi sinh. Các cố vấn Bắc Triều Tiên khen ngợi và đặt tên chốt là “Chốt Kiên Cường”.