Tôi ở Tây Nguyên đã chẵn 45 năm, cũng chịu khó học hỏi để có chút hiểu biết về văn hóa của họ, và bây giờ là... của tôi, tức tôi cũng đã là một công dân Tây Nguyên, nên thấy những gì liên quan tới Tây Nguyên là quan tâm.
|
Trước khi lên, tôi đã đọc thông tin từ một tờ báo: “Công trình nhà rông có chiều cao 26 mét, nằm sừng sững, uy nghi giữa ngôi làng của đồng bào Gia Rai. Điểm đặc biệt của nhà rông này là đã được cải tiến, làm bằng nguyên liệu kiên cố, có thể sử dụng lâu dài dưới sự thay đổi khắc nghiệt của thời tiết.”
Không phải người dân bản địa Tây Nguyên nào cũng biết làm nhà rông. Bà con các dân tộc Tây Nguyên không có các “hiệp thợ” chuyên nghiệp như người Việt, nên yếu tố chuyên nghiệp hoàn toàn không có. Trong đời, ai được tham gia làm vài ba nhà rông là đã may mắn lắm. Và việc được tham gia làm nhà rông chính là một cách truyền nghề, một cách “giữ gìn và bảo tồn” bản sắc văn hóa dân tộc.
Toàn bộ nhà rông truyền thống chỉ được làm bằng... ước lượng. Không thước tấc, không cưa bào đục. Chỉ có rìu và rựa. Không đinh, thép, xi măng, bulông, đinh ốc, vân vân. Và chúng ta đã biết, nhà rông luôn làm ở giữa làng, ở vị trí cao nhất. Mà làng Tây Nguyên thì lại luôn ở trên cao. Nhà rông được ví như sự trường tồn, sức mạnh của buôn làng. Nó cao vút như lưỡi rìu lộn ngược tạc vào trời xanh, và nó chứa trong lòng nó hàng trăm người lên xuống sinh hoạt hằng ngày.
Nhà rông là biểu tượng của Tây Nguyên. Các kiến trúc sư thừa nhận, những người làm nhà rông đã đạt đến tỉ lệ vàng trong kiến trúc, giữa chiều cao, rộng, ngang, giữa thẳng và cong, hiên ngang và trữ tình. Và vì thế mà nó chịu được gió bão. Cái dáng vút cao nhưng lại mềm mại cong của nhà rông khiến nó hóa giải hết những cơn gió quanh năm gầm rú...
Chính vì việc các nghệ nhân làm nhà rông (ngày càng hiếm) không cần bản vẽ thiết kế hay một điều gì tương tự mà thoạt trông các nhà rông tưởng là đều giống nhau nhưng thực ra nó mang dấu ấn cá nhân của người làm khá rõ. Điều này khiến cho việc làm các nhà rông truyền thống gần giống với sáng tạo nghệ thuật nơi in đậm dấu ấn cá nhân con người với tư cách chủ thể sáng tạo, nơi tài hoa cá nhân được phát tiết một cách tự do nhất, say mê nhất, hào hứng nhất... Và cũng điều này khiến cho nghệ nhân làm nhà rông trở thành của quý, nhất là có một quy định bất thành văn là nghệ nhân không được sang vùng khác làm giúp nhà rông, và việc làm nhà rông chỉ diễn ra vài ba chục năm một lần. Các nghệ nhân tài hoa đã thưa thớt lại càng thưa thớt. Các dịp làng sửa hoặc làm mới nhà rông chính là dịp để các nghệ nhân lớn tuổi truyền nghề cho con cháu.
Đối với làng Tây Nguyên, nhà rông như trái tim của làng, nó vừa là sức mạnh vật chất, lại chứa đựng yếu tố tâm linh, nó biểu hiện quyền uy, sức mạnh của làng. Điều đặc biệt là, ngôi nhà rông to cao lừng lững thế lại do những nghệ nhân mù chữ, có người chưa bao giờ ra khỏi làng, và không hề sử dụng một chút gì của thời hiện đại như đinh sắt thép… mà chỉ toàn cây rừng, và dụng cụ cũng rất đơn giản gồm rìu và rựa.
Vậy nên tính chất độc đáo của nhà rông truyền thống chính là, một, tính cộng đồng trong sử dụng, trong đó có yếu tố tâm linh rất quan trọng, hai là không lặp lại, hầu như mỗi nhà là một kiểu bởi khi làm hoàn toàn không có khuôn mẫu, thiết kế và hiệp thợ chuyên nghiệp nhưng lại rất giống nhau, nhất là tỉ lệ. Ba là cách làm, hoàn toàn không phụ thuộc vào các vật liệu hiện đại, mà toàn đồ rừng. Và dụng cụ để làm chỉ là rìu và rựa. Và cái nhà rông khổng lồ ấy liên kết với nhau chỉ bởi các nút buộc của dây rừng chứ không có mộng như nhà gỗ của người Kinh. Bốn là cái nhà rông ấy không chỉ hài hòa các bộ phận của chính nó với nhau mà còn hài hòa với ngôi làng toàn nhà sàn của nó. Có người ví cái nhà rông như con gà mẹ xòe cánh giữa đàn gà con là các nhà sàn xung quanh, vân vân...
Cái nhà rông vừa hoàn thành mà chúng tôi lên thăm ấy, nó không có giá trị sử dụng như... nhà rông, bởi bên cạnh nó vẫn còn cái nhà rông cũ của làng. Và khi bà con làm lễ cúng thì họ... cúng ở nhà rông cũ, rồi mới sang nhà rông mới. Tức lễ một bên và hội một bên. Và nó khác hoàn toàn nhà rông truyền thống là nó làm hoàn toàn bằng vật liệu hiện đại: bê tông, thép và tấm nhựa... nên một số người trong làng gọi là nhà... nhựa. Ông bạn kĩ sư xây dựng đi cùng chúng tôi cũng phải tìm hiểu mãi mới biết được lợp bằng gì. Và ông này cho rằng: “nếu làm mô hình nhà rông để phục vụ du lịch thì quá lãng phí. Bởi khách du lịch tham quan nhà rông ngoài yếu tố văn hóa tâm linh thì còn chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc xây dựng các vật liệu tự nhiên (gỗ, tranh, tre, mây...) với dụng cụ thô sơ (rìu, rựa...) thông qua bàn tay tài hoa của nghệ nhân bản địa. Đó mới chính là giá trị của nhà rông.”
Và nữa là nó rất... to, dù cái sân nhà rông cũng to, tức không bị chỏi với cảnh quan nhưng nó... lãng phí. Giá trị lớn nhất của nó, là để phục vụ nhu cầu... chụp ảnh selfie, mà chụp từ xa để lấy dáng chứ chụp gần nó lộ ra là nhà rông công nghiệp ngay. Khách du lịch vào thăm nhà rông chủ yếu là bởi sự độc đáo của nó. Chứ nói như một ông cán bộ tỉnh đã nghỉ hưu, rằng khi đã có thiết kế phí cho nhà rông thì nó giống nhau, và nó hết dấu ấn độc đáo. Hồi lâu rồi, sau một hội thảo mà tôi có được dự về cái sự nhà rông văn hóa tràn lan, giết chết nhà rông truyền thống, tỉnh ủy Kon Tum ra hẳn một nghị quyết về “nhà rông văn hóa”, trong đó nhắc lại ý của bí thư tỉnh ủy người Jẻ Triêng: Không cấp thiết kế phí cho nhà rông. Tức là ông yêu cầu trả nhà rông truyền thống về cho dân làng, nhà nước chỉ ra chủ trương, chứ không trực tiếp. Nhà làm hàng trăm năm nay, giờ anh làm dự án, rồi thiết kế phí, rồi giám sát, thi công, trong khi dân làng thì... ngồi nhìn.
Tương tự, lân la một tí sang tượng mồ Tây Nguyên. Nó hầu như là sản phẩm độc bản dẫu mới nhìn có vẻ giống nhau, nhưng từng nghệ nhân làm nó trong những khoảnh khắc khác nhau và cảm xúc khác nhau, hoàn toàn không có khuôn mẫu, cũng chả học hành gì. Nó độc đáo là ở chỗ ấy, ở các nét vạc rất vụng, thô cũng chỉ bởi rìu và rựa, nhưng đầy ấn tượng. Có mẫu rồi, chưa cần các họa sĩ điêu khắc, ngay các ông thợ mộc người Kinh có thể sản xuất ra hàng loạt, trơn tru hơn, nhẵn nhụi hơn, chuyên nghiệp hơn... nhưng nó không phải tượng mồ.
Trước khi về, chúng tôi còn phát hiện ra một việc kinh hoàng nữa, là cái lan can của nhà rông ấy, nó đã kịp bật cái đinh gắn lan can với sàn gỗ, đụng nhẹ chân vào nó rung bần bật. Nhà rông cao 26 mét, cái sàn có lan can ấy cao khoảng 4-5 mét so với mặt đất. Ai không biết, dựa vào, bám vào...
Tất nhiên là người ta sẽ làm lại cho chắc chắn sau khi chúng tôi phát hiện, nhưng qua đấy để thấy chất lượng của nó, và không chỉ nhà rông, nhiều thứ khác nữa, làm để phục vụ du lịch, làm thay dân làng. Và kiểu làm thay này sẽ khiến nghệ nhân bị thất truyền nghề.
Trước đó, cuối năm 2025, cũng tỉnh Gia Lai, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã làm một việc rất dứt khoát dù... đau đớn: lệnh phá bỏ công trình nhà rông bê tông tiền tỉ ở làng Ia Gri (chân núi lửa Chư Dang Ya, nơi tổ chức lễ hội Hoa dã quỳ hằng năm) vì thiết kế phi truyền thống, gây bức xúc dư luận và lo ngại ngân sách bị lãng phí. Được biết, cái nhà rông bị phá bỏ này có tổng mức đầu tư hơn 9,4 tỉ đồng. Và sẽ giao lại cho dân làng tự làm!