Diễn đàn lý luận

Thanh Hải - “lặng lẽ dâng cho đời” một “mùa xuân” không “nhỏ”

Hoàng Vũ Thuật
Chân dung văn học 09:39 | 15/01/2026
Baovannghe.vn - Luồng gió mới của Cách mạng tháng Tám cuốn hút Thanh Hải, mười lăm tuổi tham gia hoạt động ở địa phương, mười bảy tuổi thoát ly, mười tám tuổi được kết nạp Đảng
aa

Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn, sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930, tại thôn Phò Trạch, xã Phong Bình, huyện Hương Điền, tỉnh Bình Trị Thiên (cũ), nay là TP Huế.

Từ đó cho đến lúc nằm xuống, trong suốt chặng đường dài của hai cuộc kháng chiến, Thanh Hải bền bỉ trong tranh đấu cũng như say mê trong sáng tạo nghệ thuật. Anh từng đảm nhiệm các chức vụ quan trọng như: Ủy viên Ban Tuyên huấn Thành uỷ, chủ bút báo Cờ giải phóng thành phố Huế, Trưởng tiểu ban Văn nghệ khu Trị Thiên, Chi hội phó kiêm Tổng thư ký Chi hội Văn nghệ giải phóng Trị Thiên Huế, đồng thời là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam, ủy viên Mặt trận giải phóng miền Trung Trung bộ. Từ năm 1976 đến 1980 là ủy viên Đảng đoàn, Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên (cũ), đồng thời là ủy viên Ban Thường vụ Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.

Thanh Hải - “lặng lẽ dâng cho đời” một “mùa xuân” không “nhỏ”
Nhà thơ Thanh Hải

Vừa công tác vừa làm thơ, trên dưới ba mươi năm, Thanh Hải để lại di sản thơ chưa nhiều. Lần theo từng giai đoạn - nơi Thanh Hải sống và chiến đấu, thì quả là anh đã có sức lao động nghệ thuật hiếm thấy ở người chiến sĩ cầm bút. Thanh Hải chỉ có bốn tập thơ: Những đồng chí trung kiên (NXB Văn học - 1962), Huế mùa xuân (NXB Giải phóng - 1970), Huế mùa xuân (NXB Văn nghệ Giải phóng - 1975), Dấu võng Trường Sơn (NXB Văn học - 1977). Ngoài ra anh còn một trường ca, một kịch thơ và một số bài in rải rác chưa thành tập.

Trên cơ sở và tư thế đó, Thanh Hải là một trong những nhà thơ miền Nam đầu tiên thời kỳ chống Mỹ. Trước đó, trong kháng chiến chống Pháp, từ năm 1952 Thanh Hải đã làm thơ và có bài hay như Những đồng chí trung kiên, nhưng phải đợi đến những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, gương mặt thơ Thanh Hải mới thật rõ nét.

Đất nước chia hai, chồng Bắc vợ Nam. Dòng Hiền Lương - giới tuyến quân sự tạm thời, nhát dao chia cắt nghìn đời sau còn đau nỗi đau đất nước, người vợ chỉ có qua chiêm bao mới gặp được chồng: Đêm qua em vượt tuyến/ Ra miền Bắc thăm anh, để nói được một lời trung thực, bị dồn nén bấy lâu, ngõ hầu chia sẻ gánh nặng quá sức trên vai với người bạn trăm năm của mình.

Cái giọng thơ nhập cuộc được tiếp tục, nâng lên thành phong cách, làm nền cho ngôi nhà thơ của Thanh Hải. Anh kể chuyện tự nhiên mà không sa vào tự nhiên chủ nghĩa. Mồ anh hoa nở là cách nhà thơ ghi lại sau cái chết của đồng đội: Mộ anh trên đồi cao/ Hoa hồng nở và nở. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh máu nở thành hoa mang biểu tượng về sự hy sinh cao cả cho dân cho nước.

Chuyện rằng có lần giữa lúc các đại biểu đang vây quanh đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc, Bác Hồ đến. Thanh Hải được ngồi bên Người. Bác nói chuyện một lúc rồi bảo anh ngâm thơ cho Bác nghe. Anh sung sướng xúc động, ngâm bài Cháu nhớ Bác Hồ. Khi ngâm đến câu Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn, quá nghẹn ngào, Thanh Hải ngưng lại giữa chừng, thế là Bác ôm hôn và nói: “Đây, hôm nay Bác hôn thật đấy”. Sau này, những bài thơ anh viết về Bác cũng bắt nguồn từ mạch cảm xúc nóng hổi chân thành ấy: Chúng con đang đi đánh giặc/ Không được về dâng Bác một bông hoa/ Phút thiêng liêng đứng ngoảnh mặt nhìn ra/ Lại thấy Bác là xương, là thịt (Cả miền Nam thương nhớ Bác Hồ).

Ngòi bút Thanh Hải được thử thách trong những ngày gian khó nhất, càng có dịp thể nghiệm trong hoàn cảnh mới. Thanh Hải xông xáo đi và say mê sáng tác, đề tài thơ mở rộng. Bên thể thơ dân gian năm chữ là những bài tự do, phóng khoáng, những bài lục bát giàu âm điệu, ngôn ngữ duyên dáng hơn. Giọng thơ vẫn theo lối kể chuyện trực tiếp, một sự mô tả chân thực, nhưng chất trí tuệ được nâng lên giữa âm hưởng trữ tình anh vốn có. Chẳng hạn ở bài Tám năm nay mới gặp nhau viết về sông tuyến - con sông Hiền Lương đối với anh chưa bao giờ là giới tuyến - chỉ cách một mái chèo, có đoạn mùa tháng năm lội bộ qua được, ấy vậy mà đi trăm núi vạn đèo tới đây.

Đấy là hiện thực chiến tranh chua xót, khi đất nước chưa thống nhất. Lời thơ nghẹn ngào, bộc lộ tình cảm phân ly của con người, của Nam với Bắc, niềm vui xen lẫn nỗi đau xót, chan hoà nước mắt: Tám năm nay mới gặp nhau/ Ôm nhau mà thấy lòng đau chín chiều.

Những ngày chiến khu, anh từng có mặt ở công xưởng trong rừng khuya, với người thợ làm cầu Trường Sơn, trò chuyện với đồng chí giao liên, chung với ý nghĩ của người đi hoả tốc, hiểu tâm trạng người mù vót chông Tây Nguyên, gửi lòng ra Quảng Bình, về Huế trong 25 ngày đêm giành lại đô thành năm 1968, ghi nhận những dấu võng Trường Sơn, vẻ đẹp của một loài hoa phong lan, một bếp lửa ấm áp vùng giải phóng…

Màu sắc thơ có phần thay đổi. Tứ thơ hiện ra không chỉ bằng trực giác mà bằng cả tri giác. Tiếng hát của Con gái người du kích ngợi ca chiến công của cha mình vừa trừu tượng vừa cụ thể, vừa chi tiết vừa khái quát. Những thế hệ nối tiếp nhau đi qua trong lời hát làm nên bao chiến công, kỳ tích. Bài hát như một bản hợp xướng đầy chất anh hùng ca không dứt. Bài thơ được dựng trên một cái tứ độc đáo.

Con gái người du kích, O du kích Triệu Phong, vẫn giữ được cái chất dân dã, ngôn ngữ mang hơi hướng vùng đất dân ca: Kể chi eng, chuyện thì dài/ Ăn bờ ngủ bụi em nài chi mô.

Khi người viết đã biết chọn lựa sự rung động của trái tim trước hiện tượng cuộc sống, biết khai thác và vận dụng các hình ảnh, hình tượng để xây dựng bài thơ, thì cho dù dưới một cấu tứ nào vẫn mang lại cho người đọc sự hứng thú mới mẻ. Tiếng cười lạc quan của o du kích có má núng đồng tiền rất ý tứ, chỉ giữ điệu cười chúm chím vậy thôi, lại gắn với hiện thực lịch sử của cuộc kháng chiến sau năm 1972 vùng giải phóng mở rộng - Quảng Trị giờ đã nối liền với miền Bắc là một trong những điểm xuất phát để tiến tới giải phóng toàn bộ đất nước.

Bên những câu thơ thắm đượm bởi sức rung bên trong của trái tim nhạy cảm Anh yêu tình của rừng/ Âm thầm và nho nhỏ/ Như yêu ngọn tàu bay/ Nuôi ta ngày gian khổ/ Anh yêu tình của rừng/ Vàng ươm như chùm khế/ Cứ dâng người lặng lẽ/ Vị ngọt của đất đồi (Tình của rừng) là những câu trăn trở, có sức gợi, theo hướng tìm tòi: Tôi nhìn suối như nhìn lòng ai trong suốt/ Từ một mùa thu đến mấy mùa thu (Mùa thu A Lưới). Hoặc như: Để lại trong em đôi mắt/ Nhìn anh như những dấu hỏi của tâm hồn/ Những dấu hỏi không to dần/ Mà nhòa đi thành dòng nước mắt/ Chảy ướt áo vai anh/ Niềm tin yêu đem cho đôi mắt một màu xanh (Đôi mắt).

Sau mùa xuân năm 1975, thơ Thanh Hải xôn xao như con sóng. Cái vui, tự hào của người thắng trận, có chút kiêu kỳ: Hôm nay trên Ngọ Môn/ Ta lên ngôi chiến thắng (Đứng trên Ngọ Môn).

Tiếng vọng chiến tranh xa dần, cuộc sống mới đã mang nhịp điệu màu sắc mới. Thanh Hải lại đến từng cơ sở sản xuất, nhập vào đời sống lao động khẩn trương sôi nổi. Tất cả ùa vào thơ anh như luồng gió mát mẻ, làm cho hồn thơ thêm nhạy cảm tinh tế, chất thơ vẫn giữ phong độ mộc mạc, lý trí nhào trộn trong mạch cảm xúc trữ tình. Trọng lượng câu thơ mang được sức nặng: Ngủ mà chẳng ngủ - từng cơn/ Chuyện đồng như chuyện hành quân năm nào/ Lúc hạn hán, lúc mưa rào/ Lúc úng, lúc bão, lúc đào mương phai/ Đêm trong hợp tác không dài/ Mà bao ngày tháng như đầy một đêm (Ngủ đêm ở hợp tác xã).

Gắn đời mình với mảnh Huế hơn ba mươi năm, nên phạm vi đề tài phản ánh trong thơ Thanh Hải phần lớn là những biến đổi xã hội con người, cảnh vật đất đai vùng Trị Thiên cũ (ngoài một số bài viết ở những nơi khác và nước ngoài); mặc dầu vậy, tiếng thơ anh, không là tiếng thơ của một vùng đất, của con người sinh sống trên vùng đất đó. Vượt ra ngoài giới hạn, thơ Thanh Hải đến với cả nước, góp một tiếng thơ chân tình, sâu đậm.

Ngay từ những năm 1960, độc giả miền Bắc đón nhận những bài thơ “vượt tuyến” của Thanh Hải như đón nhận những tấm lòng son sắc, chung thuỷ của nhân dân. Quần chúng thích thơ anh vì trong thơ có phần máu thịt của chính họ, máu thịt của con người Trị Thiên Huế, của miền Nam anh dũng.

Đọc thơ Thanh Hải người ta nhớ đến đến những bài: Mộ anh hoa nở, A Vầu không chết, Tình ca viết bên bờ sông Hương, Mưa xuân đất này… Những bài thơ ấy thật đáng quý và đáng được trân trọng.

Nửa tháng trước khi mất, nhà thơ Thanh Hải để lại bài thơ cuối cùng trên giường bệnh, có tên Mùa xuân nho nhỏ: Một mùa xuân nho nhỏ/ Lặng lẽ dâng cho đời/ Dù là tuổi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc…

Bài thơ xúc động, như ngọn lửa bùng chói sáng, một lời khiêm tốn tự khép lại đời thơ của mình với những trang thơ viết bằng mồ hôi và máu.

Hà Nội ra mắt Không gian văn hóa Trấn Vũ quán

Hà Nội ra mắt Không gian văn hóa Trấn Vũ quán

Baovannghe.vn - Chiều 15/1, tại Di tích quốc gia đặc biệt đền Quán Thánh, phường Ba Đình (TP Hà Nội) đã ra mắt Không gian văn hóa Trấn Vũ quán. Đây sẽ là tiền đề cho việc tổ chức các hoạt động văn hóa - du lịch, mang đến những trải nghiệm thú vị cho khách tham quan.
"Tử chiến trên không" được chiếu trong Tuần phim kỷ niệm ngày bầu cử Quốc hội Việt Nam đầu tiên và Chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV

"Tử chiến trên không" được chiếu trong Tuần phim kỷ niệm ngày bầu cử Quốc hội Việt Nam đầu tiên và Chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV

Baovannghe.vn - Cục Điện ảnh cho biết, sẽ tổ chức Tuần phim nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (6/1/1946-6/1/2026) và Chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Những Nghị quyết trụ cột để Việt Nam cất cánh

Những Nghị quyết trụ cột để Việt Nam cất cánh

Baovannghe.vn - Trong bối cảnh đất nước chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển mới, những thành quả kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025 cùng việc triển khai đồng bộ các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đang tạo nên nền tảng vững chắc để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững và vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Từ bản lĩnh vượt khó đến khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới

Từ bản lĩnh vượt khó đến khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới

Baovannghe.vn - Báo Văn nghệ trân trọng giới thiệu đến độc giả bài phỏng vấn của PV Thông tấn xã Việt Nam với đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ về những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và định hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Ý Đảng – Lòng dân trong hành trình chuẩn bị đại hội XIV của Đảng

Ý Đảng – Lòng dân trong hành trình chuẩn bị đại hội XIV của Đảng

Baovannghe.vn - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, mà còn là dấu mốc có ý nghĩa chiến lược, mở ra giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.