Có chuyện thế này, vào chiều hôm nọ, nhà ông có khách. Bà hiệu trưởng trường phổ thông cơ sở xã cùng một thầy giáo trẻ tìm vào nhà ông. Sau khi uống nước cùng vài câu xã giao thông lệ, khách nhỏ nhẹ trình bày lý do cuộc viếng thăm. Chuyện rằng vào chủ nhật này, nhà trường tổ chức buổi tọa đàm cho thanh thiếu niên tìm hiểu về biển đảo Tổ quốc. Mục đích ý nghĩa đã rõ. Giờ chỉ còn thiếu người thực, việc thực. May có Hội Cựu chiến binh giới thiệu bác đã từng làm lính chiến đấu, công tác ngoài Trường Sa. Người miền núi mình hẳn bơi lội kém, họa hoằn mới có người vào Hải quân, mà lính đóng ngoài Trường Sa chỉ có mỗi bác. May mắn quá! Bác giúp chúng em nhé. Xin bác kể cho các cháu nghe một câu chuyện về biển đảo nước mình. Ngắn cũng phải đôi chục phút... Đây là thầy giáo Minh phụ trách đoàn hội của trường. Thầy sẽ cùng các bác soạn lời cho thật súc tích, bởi hôm tới còn có cấp trên về dự, có cả Đài Truyền hình đến đưa tin. Chúng em chẳng có gì, biếu bác vài lạng chè Thái Nguyên. Sớm chủ nhật này sẽ có người đến đón bác. Giờ chúng em chào bác, chúng em về.
Ông Hòa vui quá, nhưng khi khách ra khỏi cửa, ông bỗng thừ người ra. Chết chưa! Giờ thì khổ rồi. Ông đã trót nhận lời, chuyện người lớn, đã hứa tất phải làm. Nhưng biết nói năng sao đây? Ông vốn là lính Bộ binh chứ có phải Hải quân đâu. Đành rằng đơn vị ông có được trên điều ra rạn Đá Bia gần đảo Sinh Tồn Đông mấy tháng. Việc gian khổ, vất vả với người lính ấy chuyện thường. Sau đó ông về đất liền rồi phục viên. Dạo đơn vị ông ra ngoài đó chưa có tranh chấp, cướp đảo, súng nổ, chết người, biển đảo vẫn bình yên... Chả lẽ kể chuyện có thế thôi ư? Vả lại xưa nay ông vốn vụng ăn nói, chúa sợ việc phải đứng trước đám đông. Chỉ cần đứng lên, người đã run cầm cập. Tay chân như thừa thãi, chả biết giấu vào đâu. Cứ nói một câu là đầu óc mụ mị, quên ráo cả. Kể cả có câu chuyện hay cũng chưa biết cách nói, huống chi chuyện nhạt nhẽo thế này. Nhưng ông không thể không nói, bởi sẽ phụ lòng tin tưởng của bà hiệu trưởng lịch lãm kia, phụ lòng các cháu, trong số đó có không ít con em làng Chiềng. Vả chăng ông cũng không thể làm mất đi thể diện người lính trải qua chiến tranh, niềm tự hào với các thế hệ bấy nay.
Mấy đêm liền, ông Hòa trằn trọc không dám ngủ. Nhìn cuốn vở cùng cây bút trên bàn, ông bắt đầu lo sợ. Lúc bí quá, con người ta hay phát bẳn. Cũng vì việc này, ông đã vặc nhau với tay Thuận. Thuận là em ruột ông, làm nghề cắt tóc ở gốc si đầu làng. Thấy mấy nay ông Hòa bỏ việc đồng, hắn ghé vào uống nước, gợi chuyện. Thuận bị khoèo tay nên không phải đi bộ đội. Hắn chỉ loanh quanh hết cắt tóc lại xoay sang buôn trâu bò. Với vài đường tông đơ cong cong khuỳnh khuỳnh mà hắn chém người ta mấy chục ngàn đồng. Xưa nay ông Hòa không ưa hắn. Ông chúa ghét cái cách nhìn người của Thuận. Thấy người đi ngang qua, hắn chỉ nhìn tóc chứ không nhìn mặt. Trông thấy người tóc rậm, tóc xù, hắn vui cười khớ lớ, mời mọc xoắn xuýt. Ngó thấy ai tóc đã cắt trụi, hắn liền quay ngoắt đi, có hỏi cũng trả lời nhạt nhẽo.
Nghe ông Hòa sầu não giãi bày Thuận bèn cười phá lên: Đúng là bác! Vớ phải tay thằng này có mà cả tỉnh, cả nước phải phục lấm mũi không. “Đại ca” ơi, không có cũng phải nói là có, thêm tí dưa góp, rau thơm vào... chuyện ở đời nó thế. Súng phải nổ như ngô rang, địch phải chết như ngả rạ ấy chứ lại. Thuận cứ chan chát bày cho ông thế này, thế nọ. Không nén được giận, ông Hòa phải đập bàn quát: Cút ngay! Thuận nhơn nhơn cười nhạt, sau lủi ra cửa.
Đêm nay, ông Hòa vẫn ngồi trơ như phỗng đá. Ông buông tiếng thở dài nghĩ đến việc sớm mai phải đứng trên bục kể chuyện trước cuộc họp của trường. Câu chuyện ông định kể giờ vẫn mênh mang chưa có chủ đề cụ thể. Bên tai ông, tiếng tích tắc của đồng hồ như mau hơn, gấp gáp hơn, tựa từng nhát búa đều đặn giáng vào thái dương khiến ông mệt mỏi cùng kiệt sức.
Nhưng cũng khoảnh khắc ấy, hồn ông như ly thân, nhẹ tênh tênh tựa một chiếc lá khô. Chiếc lá khô bất giác bị một con sóng ào tới, cuốn đi. Cùng lúc những khuôn mặt của đồng đội ông thấp thoáng hiện ra. Tám con người, đen đủi, tựa lưng vào nhau trên dãy ghềnh đá chênh vênh giữa trùng khơi mịt mù sóng nước. Họ nhìn trời, nhìn nước, nhìn nhau. Những nỗi buồn, niềm vui nhỏ nhoi của lính biển như bị gói chặt trong ký ức thẳm sâu, nay vội vã quay về.
*
Một đêm tháng ba tại cửa biển Hàm Tân. Trung đội hai của ông gồm tám người do chuẩn úy Dần chỉ huy được lệnh hành quân gấp. Khác với các lần báo động trước đó. Họ được phép viết một lá thư cho gia đình nhưng không được ghi địa chỉ, cùng một bản lý lịch tự khai. Quân tư trang gọn nhẹ, Bê hai lập tức lên đường. Sau một chặng đường hành quân men theo bờ biển, lệnh trên chính thức được phát ra. Bê hai được bổ sung cho lực lượng Hải quân Trường Sa, tiếp quản đảo rạn Đá Bia thuộc quần đảo Sinh Tồn Đông, nơi những người lính thủy đánh bộ của quân lực Việt Nam Cộng hòa vừa rút.
Nửa tháng trời lênh đênh trên một chiếc thuyền đánh cá nhỏ. Những trận say sóng triền miên làm họ kiệt sức. Vào lúc tưởng tất cả đã gục ngã, họ đã tới được rạn Đá Bia. Khi các trang bị, khí tài, nước uống, lương thực... được chuyển lên bãi đá, họ bàng hoàng nhận ra nơi đây chỉ là một dãy ghềnh đá không cây cỏ, nước uống giữa trùng trùng sóng biển.
Rạn Đá Bia chưa được gọi là đảo, thực ra toàn bộ diện tích nổi trên mặt nước ước rộng vài trăm thước vuông, dưới chân ghềnh là những doi cát đen luôn ngập chìm trong nước biển. Nhìn vào bản đồ, người ta dễ dàng nhận thấy Đá Bia cách đảo Sinh Tồn Đông ước mươi hải lý. Rạn đá kề liền với rạn Ken Nan, Văn Nguyên, Phúc Sĩ... xa hơn về phía nam có rạn Trà Khúc, Cô Lin, Gạc Ma, vùng này cách đất liền chừng ngàn cây số.
Đứng bên vùng đảo cực Nam của Tổ quốc họ bỗng quên đi những mệt nhọc. Khi được ngắm cảnh đẹp thơ mộng giữa biển xanh bát ngát vô bờ. Trước mắt họ, chim biển bay kín trời, kín đất. Từng đàn ken két, mòng biển, hải âu sà xuống rạn đá như sao sa. Ngoài hải phận quốc tế, những chiếc tàu hàng lớn như tòa nhà cao tầng tu còi... Thoắt hiện thoắt biến như trong một giấc mơ. Ở đây, họ được ngắm mặt trời to như chiếc nong đỏ rực mỗi ban mai cùng sao đêm dày đặc đến ngủ ngay trên đầu. Người ta đã hát, đã làm thơ về biển. Những bài thơ lính mộc mạc nhưng ẩn chứa tình yêu cùng khát vọng vô bờ.
![]() |
| Người ta đã hát, đã làm thơ về biển. Những bài thơ lính mộc mạc nhưng ẩn chứa tình yêu cùng khát vọng vô bờ... - Ảnh minh họa: Pixabay |
Dần được phong làm trưởng đảo, Kim Bê phó kiêm chính trị viên, kiêm anh nuôi, kiêm y tá. Sĩ phụ trách quan sát kiêm điện đài liên lạc với trung tâm. Bão có biệt danh “bạo” A trưởng phụ trách bốn chiến sĩ gồm Tiếu, Hòa, Đường, Thi. Tám chiến sĩ bảo vệ lá cờ trên rạn Đá Bia.
Ít ngày sau. Khi những mớ rau xanh, đồ ăn mang theo đã cạn, Bê hai hiểu rằng những thời khắc gian nan đã đến. Ngày ngày họ trần mình, hì hục đào ghềnh đá củng cố trận địa chốt trong cái nắng lửa thiêu đốt. Đêm đến, họ trùm mình trong những tấm lưới chống muỗi đứng gác trong giá rét cắt thịt da. Hai bữa nhai lương khô, một bữa cơm nhập nhuội được nấu bằng chiếc bếp dầu bấc để đề phòng khói lửa. Họ bị tách ra khỏi thế giới. Cái duy nhất còn lại chính là vài phút liên lạc ngắn ngủi với trung tâm. Người ta hẫng hụt, cô đơn. Họ ngơ ngác nhìn nhau, nhận ra nhau bỗng đổi thay kỳ lạ. Da họ đen cháy, tóc đỏ hoe hoe. Những thân hình gầy guộc như sắt lại. Họ lầm lì im lặng sau thui thủi ngước mắt nhìn trời. Dẫu đã trải qua chiến tranh ác liệt đối đầu trực tiếp với cái chết, giờ họ phải đối đầu với cái ngàn lần hơn thế, đó là thất vọng, cô đơn. Hơn cả thất vọng, cô đơn là nỗi nhớ gia đình, nhớ đất liền, điều mà những người chưa xa đất liền không bao giờ nghĩ tới. Họ mong tàu tiếp tế mang nước, mang thư tới, nhưng nghe đâu vài tháng nữa mới có, vì hiện giờ đã vào mùa giông bão. Họ mong mưa một trận để hứng nước tắm táp, uống no nê nhưng ở ngoài đảo rất ít mưa. Có khi một tháng, một năm, thậm chí vài năm mới có một đôi lần. Đêm đêm thay nhau khoác súng đếm sao trời, đếm sóng vỗ. Nhưng sóng chẳng thấy vui, sao cũng mờ mờ hư ảo. Trong tâm trí họ giờ vang lên tiếng gọi khao khát, cháy bỏng cùng thổn thức từ đất liền, nơi hằng mong họ trở về.
Cái gì phải đến đã đến. Cậu Tiếu người Nghệ An bị lôi ra trước trung đội kiểm điểm. Theo đó, Tiếu có biểu hiện “tư tưởng dao động”, không an tâm làm nhiệm vụ. Tiếu nguyên là một kỹ sư nông nghiệp, khoa thú y. Anh ta bị tiểu đội trưởng Bão phát hiện đã đều đặn mở sổ tay gạch ô vuông để “đếm ngày”. Bão người Đức Thọ, Hà Tĩnh có biệt danh “bạo”. Anh ta không đọc được thanh “ngã”, thanh “hỏi”, mà nói thành “nặng”, tỷ như “đã bảo”, thì nói “đạ bạo”. Bão hay soi mói người khác, hắn cũng có thói xấu hay lục lọi ba lô người ta, nói là tìm thuốc lào. Bão lại dị ứng với người dám cả gan nhại tiếng địa phương của mình, đặc biệt ai hỏi câu “bão”.
- Anh Bão ơi, quê anh gọi gặt lúa là gì?
- Thì cụng gọi gặt.
- Thế gọi gió to, những cơn giông to ấy? Ý em là những cơn gió có thể đổ nhà ấy?
- Là cái đầu mi ấy... Quân xọ lá!
Bão nâng quan điểm, giảng giải cho thấy việc làm của Tiếu là không chấp nhận được. Anh ta phân tích rằng nếu giờ ai cũng đếm ngày như Tiếu hỏi sao có thể an tâm, phấn khởi khi làm nhiệm vụ được. Cả trung đội, cả tiểu đoàn, cả nước đều đếm cả, hỏi rằng đất nước này có còn không... Vậy yêu cầu phải xử lý thật nghiêm, kỷ luật thật nặng làm gương cho người khác. Từ đầu buổi họp, Tiếu chỉ ngồi yên lặng. Một lúc sau thấy không ai phát biểu, Tiếu đành buồn rầu nói:
- Tôi có gạch ô đếm ngày thật, nhưng không phải dao động tư tưởng, mà đếm vì sợ quên ngày giỗ bố tôi.
- Vậy tau xin lội mi! - Bão nói ráo hoảnh.
Cả trung đội ôm lấy Tiếu thương cảm. Từ hôm ấy, những người lính trên rạn đá quay lại nhịp sống bình thường. Cũng có thể sau buổi kiểm điểm Tiếu, như nhắc nhở họ không nên làm những việc đại để dễ ảnh hưởng đến nhiệm vụ trên giao.
Vậy mà chỉ mấy ngày sau, người lính trẻ nhất trung đội quê xứ Quảng tên là Đường bỏ vị trí gác, lao vào hầm chỉ huy, mặt tái nhợt thì thào:
- Đảo có ma các anh ạ.
- Ma mô! Đạ bạo mà! - Bão quát.
Người ta được một phen cười vỡ bụng. Bị chế giễu, Đường bực lắm. Hôm sau anh ta tìm đến chỗ gác đêm quyết làm cho ra chuyện. Cũng không ai ngờ một sự kiện lớn xảy ra. Khi lục tìm trong rác rưởi, bọt biển, Đường phát hiện ra một chiếc mai rùa lớn vùi sâu trong cát. Khi lật chiếc mai rùa, Đường mừng quýnh phát hiện ra một tổ vích con. Tiếc thay hai trong số ba con lại chết ngạt, một con còn lại mềm oặt, thoi thóp. Đây chính là thủ phạm gây lên “tiếng ma” tối qua. Con vật bị ngạt, ra sức đào bới để thoát nhưng không được, lớp ghềnh cứng như thép làm chân nó nát nhừ.
Tin mừng bay khắp đảo. Người ta bỏ cả nhiệm vụ cảnh giới, xô nhau đến nhìn ngắm sinh vật lạ. Y tá được cử đến mang bông băng bó chân cho nó. Nước ngọt pha đường, thuốc bổ bê một, bê mười hai được nghiền ra... chú rùa bé nhỏ, đứa con của đại dương được những người lính cứu sống. Người ta đưa nó về bếp ăn để săn sóc, ngắm nghía như vớ được cục vàng. Mấy ngày sau khi con rùa biển đã đi lại nhanh nhẹn, người ta quyết định trả nó về biển.
Buổi chia tay thật cảm động. Tám con người đứng lặng nhìn con vật nhỏ bé lẫm chẫm bò chậm chạp xuống nước. Tưởng như còn lưu luyến, nó dừng lại một lúc cho mọi người nhìn ngắm rồi mới bất ngờ biến vào làn nước xanh lam. Tiếu bỗng nói: Loài vích biển bạc bẽo lắm, nó không quay lại nữa đâu. Câu nói khiến tám trái tim như bị bóp nghẹt, họ nhìn nhau buồn rười rượi. Dẫu vậy người ta vẫn kê lại chiếc mai rùa mẹ thành một cái tổ vững chãi. Họ hy vọng nó sẽ quay về.
Vào một phiên gác đêm, chính Tiếu gào lên: “Vích về rồi, anh em ơi!” Quả vậy, chú rùa có đôi chân tàn tật đã quay về. Nó ôm chặt một hòn đá cuội, nằm thu lu trên bờ sóng. Lính đảo quá đỗi vui mừng kéo nhau ra xem. Họ thấy vích con đã lớn. Giờ đây toàn thân nó bóng màu ngà, hai chân trước đã khỏi hẳn. Nó mở mắt lim dim, sau rụt cổ mặc sức cho lính ta lật đi, lật lại. Họ xem từng đường hoa văn kỳ ảo mà tạo hóa đã vẽ lên thân rùa. Có điều họ không hiểu tại sao nó lại ôm chặt viên đá cuội. Tiếu bảo rằng đó là cách tự vệ của rùa biển, để tránh không bị sóng đánh trôi. Mấy ngày sau, con vích lại ra đi.
Những ngày ấy trên rạn Đá Bia, những người lính có thêm một niềm vui mới. Ngoài những niềm vui theo những con tàu tiếp tế, những lá thư quê hương, những cơn mưa sẽ đến vào ngày mai... giờ thêm nỗi mong chờ người bạn bé nhỏ từ đại dương, họ biết rằng rất có thể nó sẽ còn quay trở lại.
Sau một đêm giông tố. Sớm mai thức dậy, những người lính kinh hoàng nhận ra bao quanh đảo là những cơn sóng đen ngòm, đặc sánh. Thủy triều đen! Họ nhìn nhau kinh hãi thấy ba bề bốn bên ngập ngụa một thứ nước hôi thối, cùng xác các loài động vật biển nổi bập bềnh trong sóng. Đây là điều đã được báo trước. Dầu loang trong lòng biển cùng trên mặt nước tụ lại rộng hàng trăm cây số vuông, theo dòng hải lưu ập đến. Đi đến đâu, làn nước đen ma quái lập tức hủy diệt hết các sinh vật sống. Sự tàn phá của thủy triều đen không ai lường hết được. Người ta không thể biết được lúc nào chúng xuất hiện hay rút đi. Có thể dăm ngày, có khi hàng tháng, hàng năm, điều ấy hoàn toàn phụ thuộc vào dòng hải lưu trên biển. Kèm theo thủy triều đen, những sinh vật gây ngứa ngáy, lở loét, ẩn chứa các mầm bệnh khôn lường. Khi gặp lửa, thủy triều đen còn có thể bốc cháy thiêu rụi đảo.
Những người lính trên rạn Đá Bia lập tức lao vào cuộc chiến đấu mới đầy gian khổ và vô vọng chống lại thủy triều đen. Sự khốc liệt đến từ những con sóng dầu ma quái, hôi hám, trơn tuột bủa vây khắp đảo. Liên lạc với trung tâm bị cắt đứt bởi nguồn pin đã cạn. Họ nhai lương khô, uống nước lã, gồng hết sức mình để che chắn trang bị khí tài, cùng vũ khí. Toàn thân họ lở loét, đẫm máu bởi những cơn ngứa rách thịt da. Tóc tai, áo quần nhầy nhụa bởi thứ cặn dầu khét lẹt. Họ biết rằng nếu thủy triều đen còn kéo dài, sự sống của họ có thể không qua nổi. Nhưng đảo trưởng Dần quyết định không cho bắn pháo hoa ra hiệu cấp cứu. Vả chăng tàu cứu hộ cũng không thể tiếp cận đảo. Nếu liều lĩnh, họ có cơ sa vào hiểm nguy. Những ngày này sự im lặng chết chóc bao trùm khắp rạn đá.
Mười bốn ngày đêm nghiệt ngã trôi qua. Một trận mưa giông dữ dội bỗng đổ ập nước xuống đảo đá. Như trong truyện cổ tích, rạn đá được rửa sạch bong như công viên mới xây. Những con sóng đen đặc, như chui tọt xuống đại dương, nhường chỗ cho ngàn con sóng biếc, xanh dịu dàng đùa nghịch bên bờ cát trắng phau. Thủy triều đen đã theo dòng hải lưu đổi chiều biến mất. Tám con người lặng đi sau biến cố kinh hoàng. Bỗng từ phía xa, một con tàu kéo cờ đỏ tiến vào bờ cát.
Bê hai đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Họ được lệnh bàn giao rạn đá cho đơn vị bạn và trở lại đất liền. Niềm vui hòa vào niềm vui. Tám con người bất giác ôm lấy nhau thổn thức.
*
Ông Hòa như giật mình bừng tỉnh. Đúng hơn là ông bỗng có cảm giác rũ mình ra khỏi lớp bụi vô cảm của thời gian. Nó khiến ông bấy nay lãng quên một thuở hào hùng, đẹp đẽ và tươi rói tựa hồ như mới hôm qua. Ngày mai, nhất định ông sẽ là người thay mặt Bê hai, kể cho lớp học sinh của trường, của làng Chiềng nghe câu chuyện về những phút giây giã biệt rạn Đá Bia.
Đó là lúc những người lính tản ra, chạy vòng quanh rạn đá. Sờ tay vào từng mô đá, vốc từng nắm cát yêu thương của Tổ quốc để giã biệt rạn Đá Bia, giã biệt Trường Sa máu thịt đất mẹ Việt Nam giữa trùng dương bão tố.
Vào đúng lúc ấy, bỗng có người chợt thét lên một tiếng xé ruột gan. Tiếng thét khiến lính đảo chạy xô tới một doi cát. A trưởng Bão ngồi bệt trên bờ nước với khuôn mặt đau đớn. Trước mặt anh là con vích đã chết, bốn chân nhỏ bé của nó vẫn quặp chặt một hòn đá cuội để không bị sóng cuốn đi. Giờ toàn thân nó dập nát, biến dạng. Nó ngoẹo đầu, nằm trơ trên bờ cát. Thủy triều đen đã giết nó.
Trái tim thứ chín đã ngừng đập trên rạn Đá Bia. Hình ảnh hy sinh lẫm liệt của rùa biển khiến cả Bê hai chết lặng. Các anh biết rằng bởi nhớ nơi sinh ra, nơi được cưu mang, nuôi dưỡng nên trong cơn Đá Bia nguy biến, Trường Sa nguy biến. Để đáp lại lời non nước, con vích bé nhỏ, kiên gan mà trung trinh đã quên mạng sống, nó quyết quay về với đảo quê hương.