Thời điểm ấy, biên tập viên văn học toàn những cây bút tên tuổi là Hoàng Ngọc Anh, Trần Nhật Lam, Nguyễn Bùi Vợi, Trần Mạnh Thường, Trần Nguyên Vấn, Trúc Thông, Tuấn Vinh, Lâm Huy Nhuận, Lê Đình Cánh…
Hằng ngày, thấp thoáng bóng dáng to đậm của nhà thơ Trần Mạnh Thường với cặp kính cận dày cộm, dắt chiếc xe đạp cà tàng. Có lần tôi chào ông thì ông giữ lại bảo: “Có cái gì, bút ký hay truyện ngắn gửi lên chỗ mình, được là cho phát sóng chương trình văn nghệ.” Ông chân tình thế, tôi chỉ biết nghe theo. Thú thật, tôi viết được dăm cái truyện nhưng ngại không dám gửi, giờ nhà thơ Trần Mạnh Thường, cán bộ Ban biên tập mở lời, với tôi, đúng là được lời như cởi tấm lòng.
Trần Mạnh Thường tính thẳng thắn, bộc trực, không quanh co bao giờ, khác hẳn chất khéo léo có chút hoa hàng kẻ chợ vốn có của người thành Nam, mặc dù ông chính gốc họ Trần ở Lộc Vượng, Mỹ Lộc, Nam Định. Sau này thành quen thân, thi thoảng lúc vui chuyện, tôi bỡn ông vậy, ông chỉ cười. Có lần tôi đùa bảo: “Tên anh, Trần Mạnh... em ngỡ sẽ là Hùng, Dũng hay gì gì đấy, nhưng anh lại Thường... Mạnh mà thường thì còn gì là mạnh!” Ông nheo mắt kính, xuề xòa: “Cái thằng...” Với đàn em, ông thân tình như thế.
Chuyện vui về con người Trần Mạnh Thường là vậy. Giờ tôi phác thảo một Trần Mạnh Thường với tư cách nhà thơ, người gác cửa đền văn chương nhà Đài một thời gian dài (ông giữ cương vị Phó trưởng ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam cùng với nhà thơ Trần Nhật Lam, Trưởng ban và sau đó làm Trưởng ban khi Trần Nhật Lam nghỉ hưu).
![]() |
| Nhà thơ Trần Mạnh Thường (áo trắng, kính đen cao nhất hàng sau cùng, bên trái) cùng các biên tập viên Ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam. |
Trần Mạnh Thường viết chậm và kỹ, không sốt ruột tập này tập kia như nhiều nhà thơ cùng thời. Người làm biên tập viên thơ có cái hay và cũng có cái không hay. Hay là được tiếp xúc với nhiều giọng điệu thơ khác nhau đặng phong phú thêm hiểu biết cho mình và qua đó có thể học hỏi thêm ở người; lại không hay ở cái dễ chai lỳ cảm xúc, lâu thành trơ và không khéo lại bị ảnh hưởng của ai đó mà không thoát ra được. May là ông tự tìm lối thoát ra được.
Bài thơ Năm hòa bình trên xe qua khu Bốn sau rút tít gọn thành Năm hòa bình có mặt ở nhiều tuyển thơ khác nhau. Có lẽ, Trần Mạnh Thường tâm đắc với bài thơ nửa chiến tranh nửa hòa bình này của mình. Hòa bình rồi mà chiến tranh vẫn hiện hình váng vất trong ý nghĩ người ta khi băng qua mảnh đất khói lửa khu bốn: Quên sao được những hầm sâu Quảng Trạch/ Bao vướng víu dọc đường em đã gỡ cho tôi/ Những trái bom nổ chậm cũng gỡ cả rồi/ Cầu đã thông xe/ Xe tôi về thành phố/ Một giờ sáu mươi cây số/ Mưa nắng mơ hồ sau tấm kính thời gian...
Thơ Trần Mạnh Thường nặng những suy tư, cả khi ông viết về hoa tầm xuân: Nhọc nhằn kết nụ/ Nhọc nhằn nở/ Gày guộc âm thầm/ Chẳng mong chi được cắm trong bình/ Lặng lẽ giữ một chút hồng dầu dãi/ Một chút hương cho hoa bớt dại/ Dọc những lối mòn/ Suốt đời đi tìm mùa xuân (Hoa tầm xuân). Phàm những người viết chậm và kỹ, nếu không tìm được ý tứ thì không viết, song khi có tứ rồi thì chỉ nhăm nhăm biểu đạt cái ý của mình mà quên đi giai điệu, câu chữ hay bị gò. Nhận định vậy, không có nghĩa là tôi nói riêng về thơ Trần Mạnh Thường mà điều này dường như phổ quát rồi.
Bài thơ Cái cò lặn lội là một bài thơ được Trần Mạnh Thường nâng niu và khác cái tông của ông. Tôi biết bài này ông viết riêng cho vợ con mình mà vô tình nói hộ bao người. Thời bao cấp khốn khó, vợ ông phải đi xuất khẩu lao động ở Liên Xô, đẩy ông vào cảnh “gà trống nuôi con”, mấy năm trời chóng mặt chăm hai con nhỏ: Cái cò lặn lội tuyết trắng mênh mông/ Lạnh buốt dòng sông cành mềm gió đập/ Hạt gạo lăn qua biết mấy vòm trời/... Bao giờ mẹ về từ trời cao thẳm/ Nơi có chòm sao như hình chiếc gàu sòng/ Bao giờ mẹ về bát cơm ủ ấm/ Chỉ nhìn con ăn cũng thấy no lòng/ Cái cò lặn lội tuyết trắng mênh mông. Khác tông thơ ông thường thấy, ở đây là sự trải lòng, nói cho chính mình, chứ không phải là sự gắng gượng nói những điều mà người khác hay nói.
Trần Mạnh Thường có viết trường ca. Tập Thơ và Trường ca (1997) cùng một số bài thơ lẻ in trọn trong trường ca Lời chào sau chuyến ông đi thực tế Côn Đảo. Hòn đảo chơi vơi ngoài đại dương sóng gió, thành địa ngục trần gian do thực dân Pháp và Mỹ ngụy biến làm nơi giam giữ những chiến sĩ cách mạng, những người Việt Nam yêu nước, dễ khơi gợi cho người cầm bút. Đã có nhiều người viết và Trần Mạnh Thường cũng muốn thử sức mình ở thể loại trường ca nên ông đã chọn. Và ông đã hoàn thành ý đồ là kể câu chuyện mình muốn kể, nhưng quả thật, gia tài thơ văn của ông dày dặn hơn và phong phú thêm vì có trường ca, như nhiều nhà thơ cùng thời, song về phương diện nghệ thuật, ngôn ngữ thi ca thì không có đóng góp gì đáng kể.
Trần Mạnh Thường có một thứ có thể xem là “đặc sản” của nhà Đài, ấy là tùy bút đêm giao thừa. Ngày ấy, thông lệ, chương trình phát thanh đón giao thừa (Tết Nguyên đán) hằng năm của nhà Đài bao giờ cũng có phần văn nghệ mà ở đó nhất thiết phải có tùy bút, do Ban Văn học nghệ thuật đảm trách. Trần Mạnh Thường được chọn thực hiện, có đặt bài người khác nhưng phần lớn do ông phóng bút. Bài tùy bút nửa văn nửa báo này phải ngắn gọn súc tích, đủ tâm đủ tầm, bao quát được dòng sự kiện chủ lưu có điểm nhấn và cả dự cảm tương lai. Trần Mạnh Thường làm rất tốt việc khó này và trở thành thế mạnh của ông, theo đó cũng làm nên uy tín của ông trong con mắt đồng nghiệp. Đó còn là thương hiệu của Trần Mạnh Thường; không ít bạn bè đồng nghiệp gọi vui ông là “Ông tùy bút giao thừa”.
Chuyện nghề là thế, là nhà thơ đâu phải chỉ chuyên tâm sáng tác và biên tập thơ, còn phải làm đủ thứ theo yêu cầu của Ban biên tập. Chuyện vui, có lần tôi gửi Trần Mạnh Thường một bài bút ký viết về vùng Bảy Núi, An Giang sau chuyến trở lại vùng đất nơi tôi từng công tác hai mươi năm trước. Trong bài ký có trích câu thơ kiểu Bút Tre tếu hơi tục. Ít hôm sau, tình cờ gặp Trần Mạnh Thường ở sảnh cơ quan, ông gọi giật tôi lại, nheo nheo sau cặp mắt kính cận dày, toét miệng cười bảo: “Này, bài bút ký của mày dùng cuối tuần. Nhưng tao cắt bỏ câu thơ tếu bậy. Lếu láo quá, định chơi xỏ tao đấy à?” Tôi cười cầu tài: “Là em thử tài biên tập của anh đấy. Xem anh có đọc duyệt kỹ không hay là cứ ký đại?” Ông cười: “Thằng nỡm!”
Tôi để ý, Trần Mạnh Thường hầu như không có thơ tình. Trong đời sống ông xuề xòa thoải mái, không thấy trêu hoa ghẹo nguyệt, ngỡ ông khô khan. Nhưng không. Một lần lãnh đạo Đài tổ chức cấp trưởng, phó các ban biên tập nghe đài tập thể đặng lấy ý kiến nhằm cải tiến chương trình phát thanh nói chung. May ngày cuối tuần, kéo quân lên một resort ở Mộc Châu, Sơn La. Tôi và Trần Mạnh Thường ở chung một phòng khách sạn. Tiết đầu thu, thảo nguyên se lạnh và sương khói dường như tác động đến tâm trạng con người. Sau bữa cơm tôi có hơi men, hai anh em tán gẫu. Chuyện nọ xọ chuyện kia, Trần Mạnh Thường bỗng nhiên cởi mở. Ông kể chuyện thời sinh viên cảm một cô bạn cùng lớp, xinh và hiền lắm. Cô bạn ấy cũng có cảm tình với ông và nhận biết tình cảm người bạn trai dành cho mình. Những rồi không ai thổ lộ, chỉ lặng thầm dành cho nhau tình thương mến. Ra trường, chia đôi ngả, cô bạn được phân công lên Tây Bắc dạy học. Tình duyên thầm kín chẳng nên chuyện gì, vẫn phong trong tâm tưởng mỗi người. Nói theo người xưa, có duyên mà không có phận. Không rõ cô bạn gái kia thế nào, còn Trần Mạnh Thường thì chắc không phai hình bóng cũ, bởi ông vẫn dõi theo để biết cô bạn ấy truân chuyên đường gia thất và cả công việc sau này... Tôi hỏi ông: “Bác lãng mạn phết chứ không khô khan như em vẫn nghĩ... Chỉ lạ, hình như bác không có thơ tình nhỉ?” Ông cười trừ, ậm ừ cho qua.
Trước khi nghỉ, nhà thơ Trần Đăng Khoa từ Tạp chí Văn nghệ Quân đội về Đài làm Phó ban cho Trần Mạnh Thường để nửa năm sau ông về hưu, thay ông làm Trưởng ban. Ông vui và yên tâm khi một người có cả tài và tâm như Trần Đăng Khoa kế mình gánh vác mảng văn học nghệ thuật nhà Đài. Nghỉ nhưng vẫn say việc Đài, ông giữ chân kiểm thính mảng văn hóa xã hội và văn học nghệ thuật, cho đến khi mất sau một cơn đột quỵ.
Giờ nhớ lại chuyện cũ và viết về Trần Mạnh Thường, bỗng tôi thèm được đọc một bài, hay vài ba câu thơ tình của ông...