![]() |
| Minh họa Internet |
Theo cụ Đào Quang Tố, thì ở Mường Lựm có một phiến đá thần kì, nó nằm bên đường. Một phiến đá thần kì nằm bên đường thì sự thần kì của nó ở đâu? Là ở chỗ, ai đi qua đó, mỏi mệt cỡ nào, chỉ cần ngồi bên phiến đá một lúc là mỏi mệt sẽ tiêu tán. Trâu bò yếu sức, chủ trâu chỉ cần dẫn nó đến bên tảng đá nghỉ ngơi, rất nhanh nó sẽ lấy lại sức lực.
Chà, một câu chuyện thú vị. Nhưng đoạn đường từ quốc lộ 6 vào Mường Lựm khi đó khá xa và khó khăn, và tảng đá cụ Tố kể lại không có chỉ dấu nào đặc biệt, nên trên đường đi, qua biết bao phiến đá, chúng tôi không có cách nào biết phiến đá nào là phiến đá thần kì, do vậy mà không có được thử nghiệm. Tuy nhiên, chuyến đi đó tôi gặp một vài chuyện thú vị khác về câu chuyện đối xử với đá của người Mông nơi này.
Với nhiều tộc người, đá là khởi nguồn của sự sống, là biểu tượng của sự trường tồn, là trung tâm của vũ trụ. Họ quan niệm rằng, con người sinh ra từ đá và khi chết sẽ hóa thành đá. Tục thờ đá là một trong những tục thờ nhiên thần rất phổ biến từ cổ xưa. Nó là một nét văn hóa đặc sắc. Và, vượt lên trên những nghi lễ, luật tục, đó là sự trân trọng, biết ơn của loài người với thiên nhiên.
Ở Sơn La, câu chuyện về tục thờ đá của người Mông Hoa bản Hang Táu và Tà Số rất thú vị.
Được ví là viên ngọc ẩn trong mây, hay “cao nguyên của những cao nguyên”, lại sở hữu một bản “nguyên thủy” là Hang Táu, gần đây, khách du lịch đổ về Tà Số nhằm trải nghiệm không gian hoang sơ, cuộc sống giản dị khá đông. Họ cho rằng đây là một bản du lịch cộng đồng còn lưu giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, độc đáo. Cũng rừng già, hang động, thung lũng mây bay, cũng đào hồng mận trắng, cũng mùa sơn tra hay hoa cải mèo đổ vàng mùa đông như bao thung lũng, núi đồi rực rỡ sắc hoa đã làm nên đặc trưng của Tây Bắc. Quả vậy, đến Tà Số, ngoài trải nghiệm không gian sống, tham gia các hoạt động nghề thủ công như thêu, rèn, chế tác khèn hay ẩm thực, nếu may mắn, du khách có thể gặp lễ cúng đá của người Mông Hoa nơi đây.
Tà Số - theo người bản địa, thì trong tiếng Mông có nghĩa là “bãi cây ngải cứu”, mặc dù ngày nay cây ngải cứu trở nên hiếm hoi trên mảnh đất này. Một vài nghĩa khác là “đoàn kết”, “ấm cúng”. Theo A Của ở bản Tà Số, bản cũ của họ từng ở sát Mường Lựm (Mường Quên - Yên Châu). Những già làng, trưởng bản đầu tiên đặt chân đến nơi đây đã chọn một phiến đá để thờ cúng. Người Mông Hoa cho rằng đá là khởi nguồn của sự sống, che chở, bảo vệ dân bản, hay chính xác, với họ, đá biểu tượng của sự trường tồn, thịnh vượng. Và cũng với quan niệm vạn vật hữu linh, họ cho rằng đá cũng có linh hồn, cũng như một thực thể sống. Do đó, để cầu mùa màng bội thu, sự bình an, hạnh phúc, người ta phải có lễ vật để mời “nó” về dự, rồi sau khi đã hài lòng với sự cúng tế, “nó” ban phúc lành cho dân bản.
Hang Táu, một bản nhỏ, vốn là nơi dựng lều trông coi gia súc, gia cầm và ruộng nương của chính những người dân bản Tà Số, cũng chọn một khối đá lớn để thờ. Mặc dù là người của bản Tà Số, mọi sinh hoạt cộng đồng như ma chay cưới hỏi đều liên quan đến Tà Số, nhưng những người dân Hang Táu vẫn có khối đá thiêng để tổ chức nghi lễ thờ cúng, tri ân và mong cầu. Khối đá thiêng của Hang Táu nằm ngay bên con đường nhỏ dẫn vào sâu thung lũng, nơi có những nếp nhà gỗ đơn sơ nhất của người dân đang sinh sống. Trên mặt khối đá, những mảnh giấy đại diện cho ước mong thịnh vượng, bình an được dán lên trong lễ cúng vẫn còn. Mỗi năm, người Mông Hoa ở bản chính Tà Số và bản phụ Hang Táu sẽ tổ chức lễ cúng từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 11 âm lịch. Mỗi nhà sẽ chuẩn bị ba nén hương và một tờ giấy. Lễ vật cúng tế là lợn, gà sau đó giết thịt con lợn cúng để làm cỗ mời cả bản chung vui. Cũng theo A Của: Vì người ta sẽ giết thịt con vật cúng tế này để lấy máu của nó bôi vào các tờ giấy đại diện cho các gia đình trong bản, nên xưa kia, do điều kiện kinh tế khó khăn, các già làng thống nhất là không cúng trâu, bò… những đại gia súc để… tiết kiệm. Và đặc biệt, với quan niệm của người Mông Hoa nơi đây: Tảng đá thiêng còn thì dân bản còn. Nếu vì lí do nào đó tảng đá không còn ở đó, thì cả bản sẽ rời đi nơi khác. Hay như cách A Của ví von: Nếu tảng đá biến mất, thì con người vẫn còn đó, nhưng không biết có thể giữ được bản sắc, nếp sống như xưa hay không. Vì thế, ở bản Tà Số có một cái cây to mọc chèn sát tảng đá thiêng, nhiều cây to khác mọc xung quanh, và không một ai dám động vào cái cây đó, cũng không ai chặt phá các cây khác, vì sợ tảng đá mất thiêng, và một lí do sâu xa hơn: Không muốn có bất cứ tác động tiêu cực nào khiến tảng đá thiêng của họ… rời đi.
Tôi từng được biết chuyện người Mông ở cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Hà Giang cũ) có một sự trọng thị rất đặc biệt với đá: Theo TS Nguyễn Ngọc Minh: “Tín ngưỡng thờ đá ở vùng cao nguyên đá này tồn tại như một lẽ đương nhiên, được biểu hiện đa dạng, là minh chứng cho mối quan hệ văn hóa sinh thái chặt chẽ giữa con người và môi trường tự nhiên. Tín ngưỡng thờ đá của người Mông Đồng Văn gắn liền với sự sùng kính, e sợ linh hồn đá. Người Mông luôn cẩn trọng và có những điều kiêng kị nhất định, nhằm chung sống hài hòa với linh hồn đá. Họ đặc biệt rất lo ngại việc vô tình xâm phạm đến không gian riêng của đá. Họ chia sẻ với nhau kinh nghiệm về việc tránh xa những vách đá cao và dốc có những tảng đá lung lay trong những ngày mưa hoặc gió mạnh, vì lo sợ “ma đá” (theo như quan niệm dân gian) sẽ lăn đá lớn xuống phá hoại mùa màng, nhà cửa và cả tính mạng. Phải tránh cả việc đốt lửa gần những tảng đá lớn hay những vách đá nếu không muốn linh hồn đá bị xâm phạm, sẽ lật đá đè chết người và vật nuôi.” (Tạp chí VHNT số 476, tháng 10/2021). Ngược lại với người Mông ở Đồng Văn, người Mông ở bản Ôn Ốc, Mường Lựm - Yên Châu, Sơn La lại không kiêng việc đốt lửa gần đá. Để có thể mở một con đường, họ sẵn sàng dùng lửa để… đốt đá. Dưới sức nóng của lửa, đá sẽ bị nung thành vôi, gặp nước vào là tan ra. Ngay cả những tảng đá nằm trên nương, họ cũng chất củi đốt nó - Báo Văn nghệ Dân tộc - 2006).
Những năm gần đây, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, con người có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với văn hóa các vùng sâu vùng xa. Đặc biệt, sự tin tưởng hóa vào thần thánh, cố gắng xây dựng cho bản thân một niềm tin tâm linh đã khiến nhiều người dễ dàng chạy theo các trào lưu, các hiện tượng lạ. Hơn mười năm trước tôi đi Hà Giang, muốn tìm đến bãi đá cổ Nấm Dẩn để tham quan. Bạn tôi khi đó đang công tác ở địa phương, bảo: “Đó chỉ là một bãi đá cổ thôi mà.” Có lẽ ý bạn tôi đó chỉ là một bãi đá, không có gì thú vị cả, không nên mất thời giờ lặn lội đến xem mà làm gì. Thật ra, với những người không có đam mê về văn hóa, thì những tảng đá đó quả là… tẻ nhạt, dù nó đã được được Nhà nước xếp hạng di tích khảo cổ học cấp Quốc gia năm 2008.
Người ta đã gọi bãi đá cổ Nấm Dẩn là “Cuốn sử đá ngàn năm”, dựa vào niên đại xuất hiện khoảng 1.000 năm trước, với những hình vẽ được đục đẽo bí ẩn, mà đến nay chúng vẫn cần được nghiên cứu. Đây cũng là nơi người Nùng địa phương duy trì tục cúng Thần Đá độc đáo vào mùng 2 tháng 6 âm lịch, cầu mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt. Có thể đây cũng là nơi thờ cúng thần linh của người tiền sử. Khi tôi đến thăm vùng đất Xín Mần - Hà Giang, cũng được nghe nhiều câu chuyện thú vị về tục thờ nhiên thần của người Nùng xứ này. Có những bản người Nùng chọn nhiên thần của họ là những cánh rừng. Trong cánh rừng đó, lại chọn ra một cái cây đặc biệt để tổ chức lễ cúng. Tục thờ đá, thờ cây, thờ nhiên thần nói chung là một tục lệ đẹp, cho thấy sự tôn kính của con người với thiên nhiên. Vài năm sau, tôi hỏi bạn tôi, người vẫn công tác ở địa phương đó về các tục lệ thờ thần đá, thần cây, thần rừng… bạn kể rằng một dạo ở vùng này bỗng rộ lên việc thờ cúng một phiến đá bên đường, nghe nói cũng lôi kéo được khá đông người dân tham gia. Tuy nhiên, chỉ một thời gian, phiến đá nọ bỗng dưng lại bị ghẻ lạnh, ngày nay chẳng ai còn quan tâm đến nó, chẳng ai còn muốn nhớ nó từng được người ta thờ cúng. Chuyện bi hài này đúng là phản ánh việc một số người lợi dụng niềm tin tâm linh của con người nhằm xây dựng một… vị thần để trục lợi.
Việc xuất hiện những tảng đá thiêng, được thờ cúng thực tế có ở rất nhiều địa phương, thậm chí ở nhiều nơi trên thế giới. Bởi từ cổ xưa, người nguyên thủy thực sự có một đời sống gắn liền với… đá. Ngôi nhà đầu tiên vững chãi và an toàn nhất của loài người chính là những… hang đá. Đá trở thành công cụ lao động đầu tiên của loài người, nên không lạ khi đá lại đi sâu vào đời sống tâm linh, văn hóa của loài người đến thế.
Năm 2025, bộ đàn đá Đăk Sơn ở Tây Nguyên có niên đại khoảng 3.000 năm trước được công bố là Bảo vật Quốc gia của Việt Nam. Đây là bộ đàn đá được người dân vô tình tìm thấy khi đào đất làm nương rẫy. Với niên đại 3.000 năm, đàn đá Đăk Sơn gợi cho ta niềm tin rằng đàn đá có thể có tuổi đời cao hơn thế, thậm chí nhiều lần, bởi có thể chúng chưa được tìm thấy, dấu vết của chúng còn ẩn sâu trong sự im lặng của thời gian. Nhắc đến đàn đá, là bởi tôi từng xúc động khi được nghe các nghệ nhân biểu diễn đàn đá trong một không gian tâm linh trên một mảnh đất miền Trung, xúc động khi nghĩ đến tục thờ đá của nhiều tộc người trên nước ta và thế giới. Với những phát hiện khảo cổ về đàn đá ở Tây Nguyên, người ta được biết rằng con người thời cổ đại đã sử dụng đàn đá trong các nghi lễ cộng đồng như lễ mừng lúa mới, lễ bỏ mả hay lễ cúng cầu sức khỏe, bình an. Những khi đó, tiếng đàn đá được hòa quện cùng tiếng cồng chiêng, tạo nên không gian linh thiêng, gắn kết con người với thần linh và tổ tiên của họ.
Ngày nay, các nghệ nhân chế tác đàn đá vẫn dành nhiều thời gian và công sức để tìm kiếm nơi rừng sâu núi thẳm những phiến đá “đạt chuẩn” đặc biệt có thể tạo ra những thanh âm tuyệt diệu của âm nhạc. Tìm được phiến đá như ý đã khó, vận chuyển chúng về xưởng chế tác còn vất vả khó khăn hơn nhiều. Chỉ cần một chút sơ sẩy, bao công sức tìm kiếm có thể bỗng vô giá trị. Chính vì mỗi phiến đá đều là độc nhất trên đời, không thể sản xuất hàng loạt, lại có lịch sử sâu dày, nên đàn đá luôn là một một điều kì diệu và bí ẩn. Đàn đá, đá và tục thờ đá như một sợi dây bền bỉ kết nối giữa quá khứ xa xôi với hiện tại và tương lai.
Dù quan niệm có chút khác biệt trong hình thức và nghi lễ đối với đá của các tộc người trên đất nước ta, thì niềm tin vào thần đá, sự kính trọng đối với thần đá của họ đều thể hiện một nét đẹp văn hóa đặc sắc, cho thấy sự gắn kết của con người với tự nhiên vô cùng bền chặt, trao truyền và tiếp nối.