Khí hậu ở Sberndorf rất khắc nghiệt. Mùa hè nhiều mưa lụt, lở đất, mùa đông thì bão tuyết triền miên. Đất trồng ngũ cốc hẹp và cằn cỗi. Tài nguyên không có gì đáng kể. Mohr biết cha bề trên bổ nhiệm ngài về nơi này là một thử thách đối với tuổi trẻ của ngài, vì thế ngài không hề lấy đó làm điều phiền muộn. Mohr hy vọng giữa mùa đông băng giá này, con tim nhiệt thành của ngài sẽ góp phần thắp lên một ngọn lửa cho ngôi nhà thờ rêu phong cổ kính vốn lạnh lẽo bấy nay ấm áp trở lại.
Đến Oberndorf, Mohr cảm nhận đúng như ngài mường tượng trước đó: Nhà thờ Thánh Nicholas là giáo xứ nhỏ ngự giữa ngôi làng nằm vắt ngang dưới chân một dãy núi hoang sơ, cằn cỗi, tách biệt với những ngôi làng khác, gồm vài chục nóc nhà chìm ngập trong tuyết. Con suối nhỏ cắt dọc sườn núi vào thời điểm này dòng chảy cũng bị ngưng trệ vì đóng băng. Nhà thờ Thánh Vicholas thì tuyết phủ tới cửa tháp chuông.
Dân theo Thiên Chúa của giáo xứ làm thủ tục đón rước linh mục thật giản dị nhưng không để mất đi sự tôn sính. Sau buổi ra mắt ấy, cha Mohr bắt tay ngay vào những công việc chuẩn bị cho thánh lễ Giáng sinh. Mohr kêu gọi dân trong làng cùng với cha xúc dọn tuyết xung quanh nhà thờ, trang hoàng đèn nến, kết hoa bên trong thánh thất. Tự tay cha còn chặt tặng cho mỗi gia đình một cành thông làm cây Nô-en dựng trước cửa. Cha dốc hết hầu bao mua bánh mì cứu trợ những gia đình khốn khó để họ không phải đến nhà thờ đón lễ Giáng sinh bằng cái bụng lép kẹp. Vào ngày trước lễ Giáng sinh, Mohr chép lại những bản nhạc soạn cho cây đại phong cầm để, nếu có thể, tự cha sẽ chơi trong đêm thánh lễ. Nhưng lúc Mohr dọn dẹp thánh đường mới khám phá ra một trở ngại: chiếc đại phong cầm của nhà thờ đã bị hư hỏng. Mohr loay hoay sửa chữa, chỉnh trang lại hàng phím, bàn đạp của chiếc đàn, có lúc ông bò cả xuống gầm đàn với hy vọng tìm ra chỗ hư hỏng. Bất chấp mọi cố gắng của Mohr, chiếc đàn vẫn nằm ỳ ra không chịu lên tiếng.
Nhận thấy không thể làm gì hơn được, cha Mohr đành quỳ xuống ngửa mặt chiêm bái tượng Chúa và cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy giúp con. Đêm nay lễ Giáng sinh mà không có đàn nhạc thì giáo xứ xa xôi nhỏ bé này sẽ tẻ nhạt, lạnh giá và cô liêu đến nhường nào!”. Hẳn rằng Chúa cũng thấu lời nguyện cầu thống thiết của Mohr nên Người đã ban cho vị linh mục phép màu nhiệm. Mohr sực nhớ cách đây hai năm, trong buổi phục vụ ở một thánh đường tại Mariapfarr, ngài đã sáng tác một bài thơ mừng Chúa Giáng sinh. Là một sáng tác đầu tay, Mohr chưa có đủ tự tin để đọc cho một ai nghe. Khi được đổi đến miền Oberndorf này, Mohr không quên bỏ bản thảo bài thơ vào chiếc hộp gỗ thông dầu đựng cùng một số tư trang khiêm tốn, với ý định lúc nào có cảm hứng sẽ mang ra chỉnh trang, nhuận sắc thêm. Bài thơ có tên “Still Nacht! Heilige Nacht!” (Đêm Yên Lặng! Đêm Thánh!). Trở về thư phòng, lấy bài thơ ra đọc lại, Mohr tự thấy không cần sửa chữa gì nữa. Dường như Chúa đã thắp lên cho Mohr một tia sáng hy vọng. Bỏ bài thơ vào túi áo, đội chiếc mũ phớt dạ, choàng bên ngoài một tấm áo khoác lông thú, xỏ đôi chân vào ủng, Mohr vội vã ra khỏi nhà thờ. Vị linh mục bước rất nhanh, băng qua những nẻo đường trắng phau tuyết phủ.
Franz Gruber, người giáo viên trường làng, 31 tuổi, đang ngồi co ro trong căn nhà nhỏ bên cạnh trường học. Tuy sống ở làng nhưng Gruber từng theo học phong cầm do giáo sư Georg Hardobler nổi tiếng giảng dạy. Ngoài việc dạy học ở trường, Gruber thường chơi cây đại phong cầm cho nhà thờ Thánh Nicholas. Nhưng đã một năm nay cây đại phong cầm đã bị hỏng. Rất nhớ âm thanh trang trọng thiêng liêng của nó, nhưng việc khắc phục sự cố ấy nằm ngoài khả năng của ông thầy giáo nghèo. Gruber chuyển sang học đàn guitar để thỏa mãn tình yêu âm nhạc của mình. Mỗi khi có tiết dạy nhạc ở trường, Gruber thường dùng cây guitar đệm cho lũ học trò hát. Đang mải mê với mấy nốt nhạc trên chiếc guitar thì Gruber nghe tiếng gọi. Gruber mở cửa, rất ngạc nhiên khi thấy cha Mohr bước vào. Cha về nhận chức quản hạt ở nhà thờ Thánh Nicholas mấy hôm nay. Gruber mới chỉ gặp cha thoáng qua một đôi lần, chưa có dịp diện kiến.
- Thưa cha, giờ này đáng lẽ cha phải ở nhà thờ sửa soạn dâng thánh lễ - Gruber nói - nhưng cha lại lặn lội đến nhà con, hẳn phải có chuyện gì mệnh hệ lắm?
- Ta đến chúc mừng sớm anh ngày Chúa Giáng sinh - Mohr nói bằng cái giọng trầm ấm, xoa hai bàn tay vào nhau cho đỡ lạnh - và cũng có một việc muốn bàn với anh. Ta nghe nói từ trước đến nay, nhà thờ Thánh Nicholas nơi ta đang cai quản thường chỉ dùng nhạc viết cho đại phong cầm trong thánh lễ. Lúc nãy ta mở cây đại phong cầm ra thử thì nó đã bị hỏng từ bao giờ rồi!
- Vâng, đúng vậy - Gruber xác nhận - nó đã bị hỏng từ năm ngoái. Dân xứ này nghèo quá, chưa có tiền mời được thợ về sửa ạ.
- Biết rằng vậy, nhưng ta hoàn toàn không muốn cái giờ khắc thiêng liêng Chúa sinh mà lại không có tiếng đàn tiếng hát ca mừng. Cho nên ta đến đây là muốn anh cộng tác với ta làm một bài hát - Mohr thò tay vào túi lấy ra bản thảo bài thơ, nói tiếp - Đây là bài thơ do ta viết. Tên ban đầu của nó là “Đêm yên lặng! Đêm Thánh”. Ta muốn anh phổ nhạc thành bài hát.
- Thưa cha, việc ấy vượt quá khả năng của con - Gruber giẫy nảy - Con chưa bao giờ dám nghĩ mình có thể sáng tác bài hát!
- Thì bây giờ anh hãy thử làm xem - Mohr khích lệ rất thành thực - Ta nghe nói khả năng âm nhạc anh khá nhất vùng này nên mới nhờ. Cây nhà lá vườn. Có nụ dùng nụ. Có hoa dùng hoa. Miễn là có tiếng hát mừng Chúa Giáng sinh. Đại phong cầm hỏng thì ta đệm bằng guitar vậy.
- Nhưng thưa cha, con e rằng đệm guitar, hội thánh sẽ phản đối!
- Ai phản đối ta sẽ đứng ra giải thích. Nào, vì Chúa, anh hãy nhận lời đi. Mà khi phổ nhạc thì không nên để nhan đề “Đêm yên lặng! Đêm Thánh" mà đổi lại là “Đêm Thánh vô cùng" cho hợp với tên bài hát.
Gruber không tin mình sẽ làm được như cha Mohr mong muốn, song anh chưa biết nói thế nào thì vị linh mục đã đưa mắt nhìn đồng hồ trên bàn, nói: “Cố gắng lên Gruber nhé! Không còn nhiều thì giờ nữa đâu!”. Rồi cha khoác áo da, đội mũ, bước ra ngoài, vượt qua những chặng đường tuyết trắng trở lại nhà thờ.
Đọc bài thơ, Gruber mỉm cười tỏ vẻ đồng điệu. Ánh mắt và nụ cười của Gruber chứng tỏ anh đã chấp nhận thử thách này. Một mình ngồi ôm cây đàn guitar, Gruber bắt đầu bấm từng nốt nhạc theo những giai điệu, tiết tấu vừa vụt lóe lên trong đầu. Gruber tự thấy những giai điệu vừa hình thành trong đầu phù hợp với hợp âm trưởng hơn là hợp âm thứ. Trên bàn, chiếc đồng hồ đang tích tắc kêu như thúc giục. Việc hoàn thành bài hát chỉ tích được tính từng phút.
Gruber như mê man bay bổng với những hợp âm. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, bài hát đã được viết xong. Gruber vội vã bỏ bản nhạc chép tay vào túi áo mặc đồ ấm, khoác cây guitar lên vai đi đến nhà thờ.
![]() |
| Bài Thánh ca kinh điển "Đêm Thánh vô cùng" |
Trong ngôi thánh đường mang tên Thánh Nicholas lúc này đèn nến đã được thắp lên sáng rực. Gruber đưa cho cha Mohr xem bản nhạc của mình một cách rụt rè, thiếu tự tin. Vị linh mục cầm bản nhạc đứng dưới ánh nến xướng âm một vài lần, ôm cây đàn guitar mà Gruber vừa mang đến bấm mấy hợp âm theo ca khúc, tỏ vẻ hài lòng. “Anh đã làm được hơn là ta mong muốn đấy!”, Mohr nói thế. Mohr cầm bản nhạc chuyển cho cả đoàn. Họ đã tụ tập đông đủ ở ngôi nhà nguyện phía sau thánh đường. Cha Mohr và Gruber trực tiếp dạy bài hát cho ca đoàn. Họ tập hát được khoảng hơn một tiếng đồng hồ thì tiếng chuông báo lễ đã điểm.
Trong thánh lễ nửa đêm, khi bước vào phần hát mừng Đức Chúa Giáng sinh, cha Mohr và Gruber đứng trước ban thờ giới thiệu bản nhạc:
- Ta xin có lời bày tỏ với bà con và anh chị em toàn giáo xứ . Trong giờ khắc thiêng liêng Chúa sinh hãy nghe ca đoàn hát mừng bằng bài hát do ta và thầy giáo Gruber sáng tác. Hai chúng ta đều là người viết thơ viết nhạc nghiệp dư. Lại sáng tác trong một thời gian rất hạn hẹp. Do cây đại phong cầm bị hỏng chưa kịp sửa nên chúng ta phải đệm cho bài hát bằng cây guitar, loại đàn không hợp với thánh ca cho lắm, xin được thông cảm...
Nghe Mohr nói thế, bên dưới giáo dân có tiếng bàn soạn xì xào. Nhiều người ca ngợi Cha và Gruber làm được như thế cũng là cố gắng lắm rồi. Xưa nay lễ Giáng sinh ở nhà thờ này thường phải mời cha ở xứ khác đến làm lễ giúp, xong rồi cha về ngay. Bây giờ có một cha trẻ, đầy lòng nhiệt tình về làm cha quản hạt là ơn phúc lớn Chúa ban, còn mong gì hơn nữa! Nhưng cũng có người băn khoăn: cha trẻ nên có vẻ hơi “liều”, xưa nay có ai đệm hát thánh ca bằng đàn guitar bao giờ! Cho dù còn bàn ngược tán xuôi thì cũng phải đến cái giờ khắc ca đoàn bước lên bục thánh đường. Cha Mohr trực tiếp chỉ huy dàn đồng ca. Sau khúc nhạc dạo đầu bằng cây guitar từ đôi tay thầy giáo Gruber, ca đoàn đã cất lên tiếng hát: Đêm thánh vô cùng/ Giây phút từng bừng/ Đất với trời xe chữ Đồng/ Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ/ Đêm khuya Chúa sinh trong chốn hang lừa/ Ơn châu báu không bờ bến/ Biết tìm kiếm của chi đền... Ơi Chúa thiên đàng/ Cam nếm cơ hàn/ Nhấp chén phiên vương phong trần/ Than ôi Chúa thương người đến quên mình/ Bơ vơ chốn quê nhà lúc sinh thành/ Ai đang sống trong lạc thủ/ Nhớ rằng Chúa đang đền bù...
Cả Mohr và Gruber đều không ngờ rằng, tất cả giáo dân trong nhà thờ như lặng người đi ngay từ lúc ca đoàn cất lên câu hát đầu tiên của nhạc phẩm. Lúc này thì chính cha Mohr và Gruber cũng nhận ra cái sản phẩm tinh thần do họ làm ra không đến nỗi nào. Cả giai điệu và tiết tấu đều thể hiện sự ơn mừng Chúa Giêsu chào đời, vừa trang trọng thiêng liêng vừa đằm thắm thiết tha. Nhìn xuống gương mặt và ánh mắt giáo dân, cả Mohr và Gruber đều biết họ đang rất hài lòng và tràn đầy cảm xúc. Chừng như lúc này tất cả mọi gương mặt trong thánh đường đều hồng lên ấm nóng như không hề có cơn mưa tuyết cực lạnh đang gào rú bên ngoài.
Sau thánh lễ, gặp lại Gruber nơi nhà nguyện, cha Mohr bắt tay người thầy giáo rất chặt, nói:
- Ta rất cám ơn anh đã giúp ta hoàn thành sứ mệnh của một linh mục trong lễ Giáng sinh.
- Thưa cha - Gruber nói - Con mới cần phải nói lời cám ơn cha nhiều hơn. Nhờ cha mà bài hát con phổ nhạc thơ của cha, tuy còn chưa thật hài lòng, nhưng đã được ca đoàn cất lên trong lễ thánh và được giáo dân trong vùng biết tới!
Sau tết, dư vị của bài hát dường như chưa hề nguôi ngoai, đã khiến giáo dân trong làng bảo nhau dốc túi quyên góp được một khoản tiền để mời người thợ tên là Karl Mauracher đến nhà thờ Thánh Nicholar sửa chữa cây đại phong cầm. Trong lúc người thợ mải miết với công việc sửa chữa cây đàn, cha Mohr đứng bên cạnh động viên anh ta. Mohr đem câu chuyện Gruber đã phổ nhạc bài thơ của cha và họ đã dùng đàn guitar để đệm bài hát đó trong đêm Giáng sinh vừa qua. Mohr hát cho người thợ nghe nhạc phẩm ấy. Người thợ tỏ ra thích thú, liền lấy giấy bút ra chép, rồi học thuộc bài hát. Những năm tháng sau đó, với nghề nghiệp phải đi sửa chữa đàn nhiều nơi trong nước, Karl Mauracher đã giới thiệu nhạc phẩm này cho nhiều giáo xứ, cả ở đô thị và nông thôn.
Năm 1848, cha Mohr qua đời ở tuổi 56. Mohr mất vì bệnh tật, đói kém và thiên nhiên khắc nghiệt miền Oberndorf. Trước khi mất, Mohr có nghe đồn đại rằng bài “Đêm Thánh vô cùng” được một số thánh đường hát trong lễ Giáng sinh. Ngoài thông tin đó ra cha không biết gì hơn.
Gruber thì dường như còn may mắn hơn cha Mohr, bởi trước khi từ giã cõi đời, ông thầy giáo này còn biết một số tờ báo và nhà xuất bản ở Thụy Sĩ và Châu Âu khi in nhạc phẩm “Đêm Thánh vô cùng”, người duyệt bài đã rút bút gạch thẳng thừng hai cái tên tác giả lạ hoắc Mohr và Gruber, thay vào đó là những tên tuổi lừng danh: Bach, Beethoven, hoặc Handel. Các ông chủ báo và nhà xuất bản ấy đều biện luận rằng, những cây bút nghiệp dư sống ở tỉnh lẻ như cha Mohr và Gruber không thể làm ra nổi một tuyệt phẩm như “Đêm Thánh vô cùng”! Vì thế, họ gắn những tên tuổi lừng danh thế giới làm tác giả của bài hát mà chẳng cần phải e dè gì ai. Gruber buộc phải phô tô bản nhạc chép tay của mình, lấy chữ ký xác nhận của toàn bộ giáo dân trong giáo xứ Thánh Nicholas gửi tới các báo và nhà xuất bản. Khi ấy người ta mới buộc phải công nhận Mohr và Gruber là đồng tác giả bài hát.
Vĩ thanh
Nhưng còn những sự kiện dưới đây thì cả Mohr và Gruber đương nhiên là đều không được biết: Năm 1832, nhóm du ca thuộc gia đình Stasser đi tới một thị trấn biểu diễn. Họ gặp người thợ chữa đàn Karl Mauracher đang ráp đặt một chiếc đại phong cầm. Karl Mauracher truyền bá “Đêm Thánh vô cùng” cho nhóm này. Ít ngày sau, trong một buổi biểu diễn tại Leipzig, có rất đông khán giả đến từ cung đình và người đi dự hội chợ, nhóm du ca đã hát “Đêm Thánh vô cùng”. Nhận thấy nhạc phẩm mang một thông điệp tinh thần sâu xa, hoàng đế nước áo William IV đã truyền cho ca đoàn nhà thờ chính toà của ông hát nhạc phẩm này trong nghi lễ Giáng sinh. Kể từ đây “Đêm Thánh vô cùng” lan tràn ra khắp miền Đông Âu, qua Anh quốc, rồi sang Mỹ. Vào thời kỳ nội chiến ở Mỹ, “Đêm Thánh vô cùng” trở thành bài ca Giáng sinh phổ biến nhất xứ xở này. Trong trận chiến giữa hai miền Nam - Bắc, đã diễn ra một cảnh ngưng chiến bốn ngày trong dịp lễ Giáng sinh, binh sĩ giữa hai miền thù địch cùng buông súng, tụ họp lại để dự lễ trong nhà thờ, đọc Thánh kinh, cùng ca vang bài “Đêm Thánh vô cùng”.
Vào cuối thế kỷ 19, người ta đã phiên dịch “Đêm Thánh vô cùng” ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau. “Đêm Thánh vô cùng” trở thành bài hát không thể thiếu trong dịp lễ Giáng sinh. Năm 1905 “Đêm Thánh vô cùng” được thu âm lần đầu tiên do ban nhạc Haydn Quartet thực hiện. Tới năm 1960, “Đêm Thánh vô cùng” được công nhận là bản nhạc có lần ghi âm nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc của thế giới.
Còn tại ngôi nhà nguyện nhỏ bé xưa kia, nơi mà cha Mohr và Gruber hướng dẫn cho ca đoàn tập bài hát ngay sau lúc nó được viết xong thì giờ đây người ta đã xây lại một ngôi nhà nguyện khang trang hơn, mở một con đường bằng phẳng hơn từ đường quốc lộ đi vào, để mỗi ngày có hàng ngàn lữ hành tới đây chiêm ngưỡng nơi ra đời một tác phẩm âm nhạc bất hủ của nhân loại.
Hà Nội, trước lễ Giáng Sinh năm 1012