Ngày ấy, Hà Nội chỉ quanh bốn quận nội thành nhưng cũng chả mấy khi tôi được đi chơi phố. Một lần, bác Đề làm cùng phòng mẹ cho tôi đến nhà bác ở khu tập thể Vĩnh Hồ chơi hẳn hai ngày cuối tuần. Tôi hào hứng lắm nhưng khi xuống tàu điện để sang đường thì tôi bị ngợp. Bác nói thế nào tôi cũng rúm lại, níu chặt tay bác, miệng kêu cháu sợ. Lúc đó tôi đang học lớp vỡ lòng, tôi không nhớ chính xác trên đường xe cộ chạy như thế nào, chắc cũng chỉ đôi ba cái xe đạp, xe máy với chiếc xe buýt, cái tàu điện. Chỉ khi bác quát lớn, tôi mới nép người vào bác bước đi. Hai ngày nghỉ đó cũng là hai ngày tôi thích thú với món đá. Lần đầu tiên được chạm vào cái thứ đồ uống mới lạ, trong veo, mát lạnh tôi mút mát rồi nhai rau ráu. Và tôi đánh giá nhà bác giàu, khác hẳn nhà tôi và những cô chú hàng xóm, không hề có ti vi, tủ lạnh.
Ngày ấy, nhà tôi nằm ngay trong khuôn viên cơ quan làm việc của mẹ. Căn hộ là một phần ba của cái phòng lớn đầu hồi được ngăn bằng tấm liếp. Muốn vào nhà, chúng tôi phải men theo một lối nhỏ qua hai nhà phía ngoài. Ba nhà chúng tôi chung cửa lớn. Mỗi nhà có một khóa móc vào nhau như móc xích. Ấy thế nên chỉ lơ đễnh một tí mà không cài đủ hai cái mắt xích còn lại, là có nhà không vào được, phải chờ, phải đợi. Có khi vì thế mà cãi nhau. Tôi rất sợ nghe ai đó to tiếng. Tôi cảm nhận sự yếu thế của mẹ khi không có bố ở gần, lúc nào cũng phải kín kẽ, nhún nhường.
Tôi cũng sợ sự chung đụng, mà ngày đó phải chung nhiều thứ lắm. Sợ nhất là chung nhà vệ sinh. Cả tầng hơn chục hộ mà chỉ có ba cái toa lét và hai phòng tắm. Nước thì phải gánh từ bể công cộng dưới tầng một. Nước ít nên phải tận dụng kiểu đãi gạo xong rửa rau, rửa rau xong rửa bát rồi mới đổ vào cái xô để dành giội toa lét. Có lần em tôi, ướt như chuột lột bởi cô hàng xóm làm ẩu, hắt nguyên chậu nước rửa rau vì cô vừa đi xong, quay ra lấy nước giội, tưởng trong đấy không có người. Có sáng ngủ dậy, tôi đứng chờ đi tiểu lâu đến nỗi không kìm được nữa, nước cứ thế chảy tồ tồ, ướt sũng quần. Đó cũng là lý do nhà nào cũng nhét sẵn một cái bô tráng men trắng dưới gầm giường, dùng đến sứt sẹo không dám vứt. Tôi còn nhớ cả cảnh tối tối đứa bạn thân được mẹ nó rửa ráy ngay trong nhà với một ca nước và cái chậu hứng dưới mông. Thỉnh thoảng nghĩ lại vừa thấy buồn cười, vừa thấy hoài thương, hoài nhớ.
Tuy vậy, mẹ tôi vẫn bảo “ở đâu âu đấy”. Nhà chật nhưng may phía dưới có cái sân rộng để nuôi gà, vịt. Bố tôi còn đóng thêm cả một cái chuồng lợn trông như cái cũi. Không biết có phải nhà nào cũng có một, hai cái chuồng không mà tôi thấy nhiều lắm, gọi là dãy chuồng gà. Những cái hộp chắp vá từ những thanh tre nứa hay gỗ tạp, có khi cả miếng giấy dầu, lổn nhổn đủ kích cỡ nằm cạnh nhau, xám xịt, kiểu như đám hà lởm chởm bám trên mặt hòn đá khổng lồ. Gà lợn giống, mẹ thường mua ở quê vào dịp cuối hè vì lúc đó bà con nông dân sẽ bán rẻ lấy tiền đóng học cho con. Đôi khi bố tôi đi công tác mang về cả giống gà bản hay con lợn Móng Cái. Lợn Móng Cái lưng võng, chân ngắn, lông loang lổ trắng đen. Khi ăn no trông nó chũn chĩn, thích lắm. Cũng nhờ thế, mặc dù tem phiếu chỉ được mua ít thịt, cá nhưng thỉnh thoảng chúng tôi vẫn có bữa thịt gà tươi cải thiện.
Tôi nhớ như in hình ảnh mẹ đứng ở hành lang trước nhà, một tay nhấc con gà tròn tròn đã sạch lông, tay kia vẫy tôi vừa được bố đón từ quê ra sau kỳ nghỉ hè cả tháng. Nhìn từ dưới lên, ngay sát mẹ tôi là những cô chú hàng xóm cũng đang đứng dàn hàng sau bệ hành lang chuẩn bị bữa cơm chiều. Cả tòa nhà có bốn tầng, tầng nào cũng lô nhô người đứng vo gạo, rửa rau, nấu nướng, cứ như một dây chuyền trong nhà máy. Mỗi tội công nhân nhà máy này không có đồng phục và tất cả đàn ông mặc áo may ô hoặc cởi trần.
Với tôi, thích nhất là tòa nhà có cầu thang bắc lên tầng thượng. Chỉ cần trời không lạnh là sau bữa tối, người lớn trẻ con kéo nhau lên đó chơi cho thoáng. À, mà người lớn rảnh rang lúc ấy thường là các ông bố vì hầu hết các mẹ còn lo giặt giũ, dọn nhà. Tôi không thể nào quên những đêm được lên đó nằm nghe bố kể chuyện. Bố tôi vốn hiếu học, nên ông chẳng khác gì một kho truyện cổ tích cho chúng tôi khám phá. Nào chuyện ông quan bắt đom đóm bỏ vào lọ thay đèn đọc sách. Nào chuyện ông trạng ham học đến nỗi chim làm tổ ở tai vẫn không biết. Nào chuyện có ông tham lam, ước sờ vào đâu vật đó biến thành vàng, thế là chết đói. Thỉnh thoảng bọn cái Xuân, thằng Trung và em chúng nó cũng sang nghe bố tôi kể chuyện. Cái chiếu chật, cả lũ nằm đạp nhau cười rinh rích.
Tối mùa hè trên sân thượng gió lùa mát rượi, khác hẳn cái bức bí, nóng nực ở trong nhà. Phải muồn muộn mẹ tôi mới được lên ngả lưng một lúc. Bên cạnh chúng tôi là la liệt chiếu của các nhà hàng xóm. Tiếng trẻ con, người lớn cười nói râm ran. Có lẽ đó là một trong những khoảnh khắc mà bao mệt mỏi của bố mẹ tan biến hết. Cả nhà, cả khu tập thể như hòa làm một, không khoảng cách. Giờ ước cũng chả có cái sân thượng nào như thế, để cả khu cùng nằm, cùng trò chuyện, ngắm trăng, hóng gió như xưa.
Trẻ con ngày ấy đơn giản lắm. Như tôi vốn chả nghĩ gì về nghèo khó hay sướng khổ. Tôi cũng chả biết gì về thời thế. Cuộc sống cứ chầm chậm, bình yên. Cho đến một ngày đợi mãi không thấy mẹ về, tôi mới giật mình về một điều đơn giản nhất là những bữa cơm chiều, là đói no, vất vả.
Hôm đó, khi nắng đã tắt và bọn trẻ con đã được bố mẹ gọi về nhà tắm rửa, ăn tối để lại cái sân tập thể vắng hoe, sâm sẩm tối, trơ ra tôi và hai đứa em. Chúng tôi cũng lủi thủi về nhà nhưng cửa nhà vẫn im ỉm, không thấy mẹ. Tôi lo lắng chạy qua nhà cô Sâm, đồng nghiệp cùng phòng mẹ hỏi han. Cô bảo “mẹ mày còn đang bán rau ngoài chợ”. Thế là nước mắt ngắn dài, tôi òa lên khóc: “Tại sao mẹ cháu phải đi bán rau hả cô?” Lúc đó tôi thấy mình chơi vơi, bấn loạn như thể gà con lạc mẹ. Chưa bao giờ tôi ra chợ một mình. Chợ họp tạm ở góc đường cách cổng khu tập thể một đoạn nhưng với đứa bé bảy tuổi là cả một thử thách. Không sao, tôi tự nhủ khi ngoài trời mỗi lúc một tối rồi lao đi tìm mẹ.
Hóa ra, đã nhiều ngày cơ quan ít việc nên mẹ tôi tranh thủ ra chợ kiếm thêm đồng tiền bát gạo. Chạy chợ thì có hôm nắng, hôm mưa, hôm đắt, hôm ế, sớm muộn chẳng biết đâu mà lần. Từ đó tôi bắt đầu nhận nhiệm vụ nấu cơm và luôn thắc thỏm trông mẹ mỗi lúc chiều về.
Những ngày đầu bật diêm châm bếp với tôi rất đáng sợ. Xoẹt một cái, que diêm lóe sáng cũng là lúc tôi hốt hoảng vứt nó. Phải mất vài ngày tôi mới làm thành thạo. Nấu cơm bếp dầu phải canh lửa, ghế cơm liên tục nhưng tôi vẫn thích. Tôi thấy mình lớn hẳn khi biết nấu cơm giúp mẹ, không muốn đi chơi nhiều nữa nhưng đồng thời tôi cũng biết thế nào là nỗi đau thắt thớ mỗi khi nắng cứ nhạt dần. Tôi vẫn nhớ khuôn mặt đỏ sạm của mẹ sau những ngày hè bỏng rát. Những hôm mưa gió mẹ trở về với đôi mắt mưng mưng đỏ, tóc tai, quần áo dính bết. Tôi nghĩ có lẽ mẹ vừa khóc. Tôi nhớ dáng mẹ lệch đi khi cắp cái mẹt có chai nước và mấy mớ rau heo héo trở về. Thương lắm nhưng tôi chả biết làm gì hơn là cứ sà vào sát mẹ phe phẩy cái quạt, miệng líu lo cùng hai đứa em nào là rau hôm nay bán chạy không mẹ, mẹ uống nước đi, mẹ nghỉ tí đi rồi rửa mặt ăn cơm. Giây phút ấy rưng rưng như vừa mới hôm qua.
Thực ra nhà tôi không đến nỗi thiếu ăn bởi chế độ tem phiếu của bố mẹ tôi thuộc dạng cao. Mẹ chạy chợ là do thói quen tần tảo bán buôn từ bà ngoại, cũng là để bữa cơm vẫn luôn có quả trứng, miếng thịt đảm bảo sức khỏe cho con. Có khi mẹ còn mua tí thịt bò hay khúc cá thu, khoanh giò cho chúng tôi ăn. Mẹ hầu như chẳng gắp miếng ngon nào, để dành hết cho ba chị em tôi - ba cái tàu há mồm. Giờ đây khi đồ ăn lúc nào cũng đầy đĩa to, đĩa nhỏ tôi lại càng thương bố mẹ tôi ngày ấy, lúc nào cũng bóp mồm bóp miệng dành hết cho con.
Nhiều năm sau, thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn phải chạy chợ khi cơ quan hết việc. Lúc rảnh rỗi, niềm vui của tôi là chạy ra bán hàng giúp mẹ. Cái miệng tôi ngày ấy đã biết mời chào rất dẻo “cô ơi mua cho cháu đi, rau ngon lắm”. Đôi tay bé nhỏ đã biết cùng mẹ, thoăn thoắt gói hàng, chỉ mong rau nhanh hết để hai mẹ con được sớm về nhà.
Có một lần khi đang đứng bán rau, tôi chợt nhìn thấy cô giáo chủ nhiệm. Tôi vội cúi đầu. Cô cũng bước đi vờ như không thấy. Thế là phải mất mấy hôm hụt hẫng, tôi không còn năng nổ chào mời khách như trước. Tôi đi học trong nỗi ngượng ngùng khó tả. Tôi cứ nghĩ, khéo cô sẽ kể chuyện với các bạn. Khéo cô sẽ cười ghét bỏ tôi. Nhưng không, đến giờ sinh hoạt lớp, cô đến ngồi bên tôi và hỏi thăm cuộc sống. Cô khen tôi ngoan biết giúp bố mẹ mà vẫn học giỏi. Giọng cô thì thầm chỉ đủ để tôi nghe. Cô cũng giải thích về việc trước đó đã trách tôi không xin mẹ tiền mua vé xem xiếc ở trường, làm lớp mất thi đua. Còn tôi cứ cúi gằm mặt lấy tay lau nước mắt. Y như cảnh trong một bộ phim nào đó. Mà phim có lẽ cũng từ đời của ai đó mà thành.
Khi tôi gần chín tuổi thì mẹ tôi được cấp nhà mới trong khu tập thể Kim Giang, lúc đó là đất mở rộng ven quận Đống Đa. Nhà mới gồm một phòng mười lăm mét vuông kèm cái bếp của căn hộ ba mươi sáu mét. Chung căn hộ với nhà tôi chính là nhà cô Sâm với nửa còn lại gồm cái phòng mười ba mét vuông, nhà tắm và một cái ban công nhỏ. Chúng tôi vẫn phải dùng chung nhà vệ sinh và chung cửa ra vào. Những cái khóa vẫn phải móc vào nhau như mắt xích. Hình ảnh kết nối đó cũng đẹp lắm chứ. Giống như những con người thuở ấy, kết vào nhau, dựa vào nhau.
Vì điều kiện sống chật chội nên nhà nào cũng phải thay đổi, thiết kế lại chức năng của các phòng. Bếp nhà tôi được chia ra làm ba phần. Chính diện là bể nước. Góc phải gồm nhiều tầng để mắm muối, xoong nồi, tầng trên cùng đặt một bếp dầu, một bếp điện lò xo. Góc trái là cái chuồng lợn thành xi măng cao ngang bụng tôi. Trên chuồng lợn là cái chuồng nuôi được cả chục con gà. Cái vòng quay chăn nuôi ở phố vẫn không dễ gì bỏ được.
Thời gian này bố tôi đã được chuyển công tác gần nhà. Bố thường gánh nước, lau nhà, đưa bọn tôi ra vòi tắm. Hệ thống vòi nước ở Kim Giang cũng nhiều hơn, nước chảy to nên cũng đỡ đông đúc. Thỉnh thoảng tôi cũng gánh được hai xô nước vơi vơi và biết giặt quần áo. Tôi nhớ ngày đó xà phòng giặt là một cục cứng đanh hình chữ nhật, màu đường đỏ nhạt. Cái thứ xà phòng ấy, chà xát mãi không thấy bọt, giặt giũ mãi quần áo vẫn không sáng lên được.
“Bán anh em xa, mua láng giềng gần” là câu nói rất hợp với những khu tập thể ngày ấy. Chỉ cần thiếu tí mắm, tí muối hay củ hành, củ tỏi là chúng tôi có thể gọi với sang xin nhau dễ thế. Cô Sâm còn rất hay sang nhà tôi vay gạo vì hai thằng con trai ăn khỏe. Cô còn hay kỳ cạch giã muối vừng buổi tối khiến bác Long tầng dưới phải gọi réo lên: “Giã đập gì ầm ĩ thế, có cho tôi ngủ tí không?” Cô Sâm lại phải hãm tay, nhè nhẹ qua quýt cho xong. Chỉ có nhà tôi, vì nuôi gà, nuôi lợn nên đôi khi bị người này người khác xì xào, chửi đổng mà phải nhịn. Biết làm sao được vì cảnh nghèo, nhà chật. Dọn rửa mấy vẫn có mùi. Mẹ tôi cứ phải cười trừ. Rồi khi thịt con gà hay bán con lợn thì mẹ tôi cũng sai chúng tôi mang qua hàng xóm nắm xôi, miếng thịt gọi là cảm ơn. Gì thì gì tình làng nghĩa xóm thời ấy vẫn son sắt lắm. Có gì cũng sẻ chia, đùm bọc. Bọn trẻ con thì khỏi phải nói, thoải mái ghé chơi nhà này, lăn lóc nhà kia, mà chả thấy một lời than phiền, trách móc.
Có điều, khu tập thể mới vẫn chưa xây xong trường nên tôi phải học trường cũ gần một năm. Lũ trẻ cấp một, sáng chơi ngoài sân, chiều khóa cửa đi học. Có khi mải chơi, đến giờ chả đứa nào kịp ăn trưa. Nhà tôi có lợn gà nên bận hơn, cứ nháo nhào xúc cho chúng ít cám rồi cũng chạy cho kịp lũ bạn. Chúng tôi thường đi thành đám để bảo vệ lẫn nhau. Khi đi học, tôi phải nhốt thằng em út trong nhà. Những lúc đó, nó đứng bám vào chấn song cửa sổ nhìn với theo tôi, gào thét đòi mở khóa. Chân tôi chạy mà lòng nhoi nhói thương em. Có hôm tôi quay lại mở cửa, thế là chiều về bị mẹ mắng. Ngày đó tôi đâu hiểu những nguy hiểm có thể xảy đến nếu để em chơi một mình bên ngoài. Ngày đó, nhà nào có con nhỏ cũng nhốt vậy hết. May mà trong nhà cũng chả có điện đóm, máy móc gì nên an toàn.
Đường tới trường phải đi theo một lối mòn dọc con mương dài xăm xắp nước, xung quanh là cánh đồng lúa mênh mông. Trên cánh đồng còn có một hố bom đầy nước. Người lớn luôn sợ trẻ con rơi xuống đó. Còn lũ trẻ chúng tôi lại sợ trâu bò. Có lần tôi phải bỏ học vì ngang đường có mấy con trâu lừng lững đứng lúc lắc cái đầu với đôi sừng cong nhọn hoắt. Lũ bạn giậm chân quát to “hây, hây” rồi liều lách qua, chỉ tôi nhát gan nên mắc lại. Sau này lớn rồi, tôi vẫn còn những giấc mơ bị trâu bò đuổi. Cảm giác chạy đứt hơi mà không thoát.
Lại nói về việc nhà tôi nuôi gà lợn. Tôi cực kỳ ấn tượng về một em gà lùn với cái đuôi cong dài, mượt mà, đẹp đến nỗi tôi gọi là hoa hậu. Cả đàn gà chục con thường chạy rất nhanh lên cầu thang mỗi khi tôi gọi “tích tích” với nắm gạo trong tay. Em gà lùn nổi bật với cái dáng ngúng nguẩy, sà hẳn vào lòng tôi mổ gạo. Em còn rất thích được tôi ôm vào lòng, vuốt ve.
Nuôi gà ngày ấy, lâu vẫn bị dịch cúm. Mẹ tôi ra sức cho uống thuốc B1, nhồi cơm, có khi nhét cả một tép tỏi vào thẳng diều. Thế nhưng chúng vẫn lăn ra chết. Mẹ tôi tiếc rẻ thịt, ướp rất nhiều gừng, rang lên thơm nưng nức. Nhưng có lẽ vì ăn liên tục nên tôi thấy sợ. Sợ cho đến tận bây giờ cái vị gà rang gừng.
Vậy đấy. Tuổi thơ tôi như một bức tranh bình yên buổi sớm. Bên cạnh một vài gợn mây xam xám, tôi luôn tìm thấy những sắc màu rực rỡ, ấm áp yêu thương. Nếu ai đó nhắc nhớ về một thời bao cấp đói khổ thì tôi lại hoài niệm về một tuổi thơ thú vị, ngọt ngào. Tôi chưa bao giờ thấy mình khổ. Có chăng người khổ chỉ là những người như mẹ tôi, quanh năm tần tảo, bươn chải sớm hôm, lo cho đàn con đủ cơm ăn, áo mặc, nên người...
![]() |
| Minh họa Lê Trí Dũng |