![]() |
| Minh họa Lê Anh Vân |
Tôi nghiến răng đến mức hai hàm va vào nhau bật thành tiếng ken két. Ngón tay trỏ cứng đờ trên cò súng. Tay trái vẫn đang nắm chặt sợi dây thừng buộc con bò, sợi dây thô ráp cứa vào da đến rát bỏng. Mồ hôi từ trán chảy xuống chân mày mằn mặn tràn vào mắt.
“Bắn chúng nó đi! Nhằm thẳng chúng nó mà bắn!”
Tiếng hét bật ra khỏi cổ họng tôi như mảnh sắt gãy chém ngang buổi trưa tháng năm ở làng Trung Lương.
Nắng đứng im trên bãi cỏ ven sông Ba Lòng đặc quánh như mật. Con bò vàng với xương hông nhô lên dưới lớp da mỏng giật mạnh sợi dây. Hai mắt nó trắng dã, hơi thở phì ra mùi cỏ nhai dở. Đám trẻ đang chơi dưới gốc tre vội ngẩng lên. Một viên bi xanh rơi khỏi tay thằng Tí lăn một đoạn rồi nằm im trong bụi cát.
Tôi quỵ xuống đầu gối chạm đất, cảm giác mềm lạnh và sền sệt. Mùi bùn trộn lẫn mùi kim loại tanh tanh xộc lên. Đất Quảng Trị trồi lên tràn qua mắt tôi, bầu trời sụp thấp xuống nặng trĩu. Gió thổi qua tai tôi là gió Lào năm 1972 khô rát mang theo tiếng pháo vọng về từ một nơi tưởng đã chôn sâu…
Tôi đã quay lại đó.
Tôi là Bảy, lính của Sư đoàn 307. Tháng tư năm 1972, tôi đứng ở bờ bắc sông Thạch Hãn. Nước sông mùa này đục ngầu chảy xiết. Lính tráng thường nói với nhau, nếu đứng lâu nhìn xuống sẽ thấy những thứ không nên thấy. Nhưng chúng tôi vẫn phải bơi qua, không có lựa chọn nào khác.
Sông Thạch Hãn còn là ranh giới, nếu bơi qua được thì chúng tôi sống thêm một ngày. Không qua được thì ở lại với sông và bùn. Gió Lào thổi suốt mùa hè năm đó, gió nóng đến nỗi như thể hút hết nước trong người ra. Ban ngày chúng tôi đào hầm trong tiếng pháo. Ban đêm nằm ép sát đất, luôn nghe thấy tiếng gió hú qua miệng hầm.
Đêm đầu tiên tôi không thể ngủ, đầu căng ra như sợi dây kéo quá mức.
- Bảy ơi mày còn sống không? - Sáu hỏi tôi trong bóng tối.
- Còn thở. - Tôi đáp.
- Vậy là mình hơn khối đứa rồi.
Chúng tôi nhìn nhau cười rất khẽ.
Một buổi sáng mưa trắng trời, nước sông dâng cao cuốn theo cành cây và mảnh áo quần, những thứ không còn hình dạng. Đến trưa nắng rất gắt, không thể áp má xuống. Còn đêm thì pháo sáng thi nhau treo lơ lửng, soi rõ từng bóng người bò sát đất giống như côn trùng vậy.
Tôi còn nhớ chiều hôm đó là ngày 28 tháng sáu năm 1972 gần Thành Cổ. Trời nặng như mây chì vậy, Thành Cổ mờ đi sau màn khói. Sáu bò sát bên tôi. Thằng bạn cùng tuổi, cùng quê khác huyện, thân hình nhỏ nhưng rắn chắc. Khuôn mặt Sáu dài, hai gò má cao, bùn đất bám dày đến mức chỉ còn thấy mỗi đôi mắt. Đôi mắt của Sáu sáng và trong đến lạ giữa chiến trường xám xịt.
Sáu vừa cười vừa hỏi để lộ hàm răng trắng lấm tấm đất.
- Này Bảy, nếu tao còn sống sẽ về cưới con Năm ở xóm trên. Mày nhớ dự đám cưới của tao mừng cho tụi tao nghe mày.
Tôi nhìn Sáu, mồ hôi và bùn hòa thành vệt đen chạy dọc cổ nó. Bàn tay Sáu đặt trên báng súng hơi run nhẹ. Tôi chưa kịp trả lời thì một tiếng rít xé trong không gian rồi nổ đánh ầm… Mặt đất bật tung, khói, mảnh kim loại quật vào người tôi. Tai tôi ù đặc, khi khói loãng dần tôi quay sang thấy Sáu nằm nghiêng. Từ thắt lưng trở xuống không còn gì nữa… Phần thân trên vẫn nguyên, hai tay Sáu vẫn còn nắm chặt đất. Đôi mắt mở to nhìn lên bầu trời đục khói, ngỡ ngàng chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra.
Tôi kéo Sáu vào hầm, cơ thể anh nhẹ bẫng một cách ghê người. Bùn đất lẫn vào máu, dính đầy kẽ tay tôi. Móng tay tôi bật ngược, đất nhét vào từng thớ thịt. Tôi gọi tên Sáu nhưng không nghe tiếng mình, tôi không kịp khóc. Miệng Sáu vẫn hé như còn định nói câu gì chưa kịp nói xong.
*
Mảnh đạn găm vào đầu tôi vào ngay buổi chiều hôm sau. Một tiếng “rẹt” mỏng và sắc như lưỡi dao cắt qua không khí. Mặt đất bật lên từng mảng như bị ai đó dùng cuốc bổ liên tiếp.
Tôi thấy ánh sáng vỡ tung, người tôi nghiêng đi, không đau ngay. Tôi chỉ thấy buồn ngủ. Một cơn buồn ngủ dày và tối. Mắt tôi mờ đi, tôi muốn nhắm mắt lại.
- Đừng ngủ! Mở mắt ra! - Có ai đó hét lớn lên và tát vào má tôi. Tôi mở mắt, máu chảy xuống môi mặn chát. Trời thấp đến mức tôi nghĩ chỉ cần đưa tay ra là chạm tới…
Văng vẳng bên tai tôi lời bác sĩ nói với ai đó. Mảnh đạn nằm rất sát vùng nguy hiểm. Không thể lấy ra được nữa rồi.
- Nó sẽ ở đó suốt đời. - Ông nói.
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình nằm trong một căn nhà tranh trưng dụng làm trạm tập kết. Vách nứa đan hở, ánh sáng lọt qua thành từng vệt xiên chéo. Mùi thuốc đỏ, mùi băng gạc, mùi mồ hôi người quyện lại.
Xung quanh tôi là những gương mặt còn rất trẻ. Có người đầu băng trắng xóa, có người tay bó treo trước ngực. Có người nằm im nhìn trần nhà, ánh mắt vô hồn.
Cửa mở, một người bước vào. Anh cao hơn hẳn những người còn lại, vai rộng, lưng thẳng. Nước da ngăm đen, rám nắng đến sạm lại. Trán cao, cằm vuông vức, đường quai hàm rõ như tạc bằng gỗ. Đôi mắt anh sâu và bình tĩnh, ánh nhìn chậm rãi.
Anh đứng giữa phòng nhìn từng người một. Khi ánh mắt anh dừng lại ở tôi, anh lên tiếng.
- Tôi là Hậu, tiểu đội trưởng.
Giọng anh trầm ấm.
Anh bước chậm qua từng cáng. Đôi giày vải dính đất đỏ khô lại thành từng mảng. Khi đứng cạnh tôi, anh cúi xuống một chút. Tôi thấy rõ vết sẹo nhỏ kéo dài từ thái dương xuống gần tai anh.
- Cố mà sống. - Anh nói. - Chỉ cần sống cho tử tế thôi.
Câu nói ấy theo tôi suốt chặng đường sau này. Trong chiến tranh, “sống cho tử tế” đôi khi khó hơn cả xông lên. Tai tôi vẫn nghe thấy quá nhiều âm thanh cũ. Tiếng pháo nổ trong trí nhớ vẫn dội lên từ những khoảng rỗng của não, nơi mảnh đạn vẫn nằm đó.
Bên cạnh tôi, một cậu lính trẻ mặt còn non choẹt, môi khô nứt thì thầm:
- Anh Bảy, anh có hay mơ không?
Gương mặt cậu đó trắng bệch, hai mắt thâm quầng như thiếu ngủ nhiều ngày.
- Em mơ hoài. Mơ thấy em đang chạy mà không nhấc nổi chân á anh.
Tôi thở ra, nói nhỏ:
- Mơ vậy là còn sống rồi!
Không biết cậu ta có hiểu không, nhưng gật đầu. Tôi nghĩ có những câu trả lời chỉ để người nói tự nghe.
Bình phục được một thời gian ngắn thì chúng tôi nhận nhiệm vụ chốt giữ một điểm cao ven sông.
Đơn vị mới của tôi được ghép lại. Người từ Bắc vào, giọng còn nặng âm vùng núi. Người vừa ra viện, đi tập tễnh. Người mất đơn vị cũ, mắt lúc nào cũng như tìm ai đó phía sau.
Chiều tôi đứng gác bên bờ sông. Dòng nước đục lặng lẽ trôi, lau sậy hai bên bờ lắc lư. Một viên đạn ghim vào thân cây gần đó, tiếng “phập” khô khốc.
Mọi thứ trước mắt tôi nhòe đi. Trong đầu tôi vang lên.
Sáu, Thạch Hãn… và cơ man nào là khói…
- Bảy! - Tiếng Hậu gọi khẽ. - Mày sao vậy?
- Không sao. - Nhưng tay tôi hơi run.
- Bình tĩnh! - Hậu ghì vai tôi. - Nhìn tao nè! Mày đang ở đây, không phải là năm 72 nghe rõ chưa?
Tôi gật đầu, hơi thở bình thường dần trở lại. Tôi hiểu, không phải mọi trận đánh đều ở ngoài kia. Có những trận đánh diễn ra hoàn toàn trong đầu.
Đến tối cậu lính trẻ hỏi tôi hôm trước không còn nữa. Cậu ấy bỏ đi trong đêm, ba lô để lại không lời nhắn.
Có người chửi:
- Đúng là đồ hèn.
Hậu lắc đầu:
- Không, chắc cu cậu mệt quá rồi.
Tôi nghĩ đến đôi chân trong giấc mơ của cậu ấy, đôi chân không chịu nhấc lên. Chiến tranh không giết cậu ấy, nhưng nỗi sợ thì có thể.
Vài tuần sau tôi được gọi lên trên. Người chỉ huy nhìn hồ sơ rồi quay sang nhìn tôi:
- Đồng chí có tiền sử chấn thương sọ não. Có thể xin chuyển về tuyến sau.
Tôi im lặng rất lâu. Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh mạ. Hiện lên dòng sông Ba Lòng.
- Đồng chí suy nghĩ đi. - Ông nói.
Tối đó tôi không ngủ. Tôi ngồi dựa vào gốc cây nghe côn trùng rả rích. Tôi tự hỏi: Ở lại có phải là can đảm, hay chỉ là không dám đối diện với việc sống tiếp sau chiến tranh?
Sáng hôm sau tôi lặng lẽ lên gặp chỉ huy.
- Tôi xin về thưa đồng chí chỉ huy!
Người chỉ huy nhìn tôi rất lâu rồi gật đầu.
- Quyết định nào cũng cần dũng khí. Đồng chí nhớ điều đó.
Ngày rời đơn vị, Hậu đến bắt tay tôi.
- Về sống cho đàng hoàng nghe mày.
- Ừ. - Tôi nói. - Tao sẽ cố.
Chúng tôi không ôm nhau, nhưng cái bắt tay rất chặt. Tôi không biết mình có sống tốt không. Nhưng tôi biết từ giây phút ấy, dường như mỗi nhịp thở của tôi đều mang theo phần thở của những người đã không đi được đến đây. Và có lẽ sống tốt là cách duy nhất để trả món nợ này.
*
Tôi trở về làng vào cuối năm 1973. Sông Ba Lòng vẫn vậy, vẫn hẹp và sâu, lặng lẽ len qua rừng già Đakrông, sông mang màu xanh thẫm của lá và màu nâu của đất, màu trầm mặc của thời gian. Nhưng sông bây giờ không phải im thin thít dưới tán cây rừng, không phải nín thở trước tiếng máy bay gầm rú trên đầu nữa. Ban đêm sông chỉ cần tiếng nước khẽ động, ánh trăng vỡ ra thành những mảnh bạc run rẩy soi bước chân người qua.
Con đường đất đỏ dẫn vào Trung Lương vẫn ngoằn ngoèo như ngày tôi đi, chỉ khác là hai bên đã mọc thêm vài mái nhà mới, tường vôi còn trắng, cửa gỗ còn mùi nhựa tươi. Tôi đứng lại trước ngõ, nhìn hàng cau trước sân nghiêng ngả trong gió, bỗng thấy mình như người khách đến muộn trong chính cuộc đời mình.
Mạ tôi già đi nhiều hơn tôi tưởng. Không phải cái già của tuổi tác, mà là cái già của sự chờ đợi. Lưng bà còng xuống như mang một gánh nặng không bao giờ đặt hẳn xuống đất. Mái tóc bạc búi thấp, sợi tóc rối vướng vào nhau.
Còn vợ tôi đứng trong khung cửa. Ánh sáng phía sau làm dáng cô ấy gầy hơn. Cô mặc áo nâu, tay áo xắn cao để lộ cổ tay nhỏ và chai sần. Má cô hóp lại, xương quai xanh lộ rõ dưới lớp áo mỏng. Cô nhìn tôi rất lâu, trong mắt cô có niềm vui, nhưng còn có sự dè dặt như đứng trước một người vừa quen vừa lạ.
Khi tôi đứng trước ngõ, mạ tần ngần nhìn tôi. Ánh mắt ấy không phải ánh mắt của người đón con về, mà là ánh mắt của người đếm lại một sinh mạng. Như thể bà đang lặng lẽ so sánh tôi với những đứa con hàng xóm đã đi mà không trở lại, với những cái tên đọc trong đám giỗ tập thể mấy năm trước.
- …Bảy đó hả con?
Giọng bà run run.
Tôi gật đầu. Mạ bước tới rất chậm. Bàn tay bà đặt nhẹ lên vai tôi, sờ lên ngực tôi dừng lại lâu hơn một chút rồi mới buông ra.
- Về rồi à…
Từ đó trở đi mạ ít hỏi tôi. Bà quan sát nhiều hơn. Quan sát cách tôi ăn, cách tôi cầm bát, cách tôi đặt chân xuống đất mỗi lần đứng dậy. Khi tôi đau đầu bà không cuống quýt. Bà chỉ nhìn rất lâu như người đã quen với việc sợ hãi trong im lặng.
Đến đêm tôi nghe mạ trở mình liên tục. Sáng ra bà dậy sớm hơn mọi ngày, quét sân thật kỹ, như thể nếu làm sạch đất thì trong nhà sẽ bớt đi một thứ gì đó nặng nề.
Vợ tôi nhìn tôi bằng ánh mắt như người đứng trước một căn nhà cũ nhận ra mọi thứ quen mà không biết nên bước vào bằng cửa nào.
Đến bữa ăn vợ tôi nhỏ nhẹ nói:
- Anh ăn chậm thôi.
Giọng cô nhỏ và đều.
Đêm đó cô ôm tôi, cả cái ôm cũng rất nhẹ, sợ làm tôi đau.
Tôi ít nói, hay ngồi lặng. Có khi cô gọi tôi, tôi nghe mà không trả lời ngay. Không phải tôi không muốn, mà là có những lúc như tôi đang ở một nơi khác rất xa, mà chính tôi cũng không biết đường quay lại.
Một buổi chiều cô gọi tôi ba lần. Đến lần thứ tư giọng cô thấp xuống:
- Anh có nghe em nói gì không?
Tôi giật mình.
- Có… có chớ.
- Vậy sao anh không trả lời?
Tôi im lặng, không biết trả lời sao cho đúng.
Cô đặt rổ khoai xuống. Cô ngồi xuống bậc cửa lưng quay về phía tôi.
- Em không cần anh kể chuyện chiến tranh. Em cũng không cần anh quên. - Cô nói chậm từng chữ. - Em chỉ cần anh ở đây. Mà có lúc… em thấy anh vẫn còn ở ngoài đó.
Tôi nhìn lưng cô, tấm lưng gầy, áo nâu sẫm mồ hôi. Tôi muốn nói gì đó nhưng không nói được. Tôi chưa biết cách.
- Anh về rồi. - Cô thì thầm. - Nhưng anh phải học cách ở lại.
Tôi nhắm mắt. Trong đầu tiếng nước sông Ba Lòng chảy đều lẫn với tiếng pháo cũ rất xa.
Vài ngày sau tôi ra đầu ngõ. Mấy người hàng xóm nhìn tôi, có người mừng, có người chỉ gật đầu.
- Thằng Bảy về rồi à?
- Ừ! Còn sống là phúc lớn.
- Nghe nói bị mảnh đạn trong đầu hả?
Những câu nói nhẹ nhưng đọng lại rất lâu. Tôi cười cho qua, nhưng buổi tối đầu tôi đau nhức như có ai gõ từ bên trong.
Có người thì thào sau lưng:
- Hắn hay la hét ban đêm lắm.
- Ừ! Chiến tranh nó vậy.
Không ai ác ý, nhưng cũng không ai hiểu. Mạ tôi ít hỏi, nhưng mỗi lần tôi ôm đầu bà lại nhìn rất lâu.
Một lần bà hỏi khẽ:
- Con có hay đau không?
- Cũng… có lúc.
Bà thở dài, lấy tay vuốt vạt áo.
- Hồi đó mạ chỉ cầu con còn thở được, giờ con về rồi mạ lại sợ con không sống yên.
Chiều đó tôi ra bờ sông sớm hơn thường lệ. Đầu đau âm ỉ như có ai gõ nhịp từ bên trong. Khi tôi đi rồi trong nhà chỉ còn lại mạ và vợ tôi.
Mạ ngồi ở thềm, tay lần từng hạt bắp vừa phơi, động tác chậm và đều. Vợ tôi nhóm bếp, mùi rơm khô ngai ngái quẩn quanh gian bếp nhỏ. Cả hai đều nghe tiếng bước chân tôi xa dần, nhưng không ai nói gì.
Một lúc lâu mạ lên tiếng trước, giọng không nhìn về phía con dâu:
- Đêm qua hắn lại không ngủ hả con?
Vợ tôi dừng tay, nhưng không quay lại.
- Dạ… ảnh trở mình suốt.
Mạ gật đầu rất nhẹ như xác nhận một điều bà đã biết từ lâu.
- Hồi trước mỗi lần mạ nghe tin có trận đánh lớn, mạ cũng không ngủ được.
Bà nói, giọng đều đều.
- Không biết hắn còn thở không. Không biết sáng ra còn nghe được tin gì.
Vợ tôi cúi xuống thêm củi, than hồng bùng lên, ánh lửa soi rõ khuôn mặt cô. Mắt vợ tôi đã có những nếp nhăn mệt mỏi không giấu.
- Con chờ khác mạ. - Cô nói khẽ. - Mạ chờ để con mạ về. Con chờ… để có một đời sống mạ à.
Mạ im lặng, một hạt bắp rơi khỏi tay bà lăn xuống bậc cửa. Bà cúi xuống chậm rãi nhặt lên.
- Ừ. Mạ chờ để nó còn sống. - Bà dừng lại rồi nói tiếp giọng trầm xuống. - Còn con… chờ để nó sống cho ra sống.
Vợ tôi quay lại nhìn mạ. Hai người đàn bà nhìn nhau rất lâu. Không ai khóc, không ai trách như có một thứ gì đó nặng nề đang đứng giữa.
- Mà nhiều lúc con thấy như vẫn còn phải chờ vậy mạ à!
Mạ tôi thở dài.
- Chiến tranh nó không trả người ta nguyên vẹn đâu con. Mạ nhận lại được cái thân thể ni đã là may lắm rồi.
- Nhưng con sống với ảnh cả đời. - Giọng vợ tôi thấp xuống, nghẹn lại. Vừa nói cô ấy vừa lấy vạt áo chấm chấm vào khóe mắt. - Con không biết phải chờ tới khi nào…
Mạ tôi đặt tay lên tay con dâu.
- Vậy thì hai mạ con mình… cùng chờ!
Vợ tôi cúi đầu. Một giọt nước rơi xuống nền bếp, không rõ là mồ hôi hay nước mắt.
Ngoài sân gió thổi qua hàng cau va vào nhau xào xạc. Tối đó tôi về thấy hai người đàn bà ngồi gần nhau hơn mọi ngày. Mạ vá áo dưới ngọn đèn dầu. Vợ tôi ngồi bên lựa đậu không nói gì.
Tôi biết có những điều họ đã nói với nhau mà tôi không cần phải nghe. Và cũng có những điều họ sẽ không bao giờ nói ra.
Từ đó, mạ không còn nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét nữa. Bà nhìn tôi như nhìn một dòng nước chảy chậm.
Vợ tôi cũng khác, không hỏi tôi “anh nghĩ gì!” nữa. Cô chỉ hỏi “anh có mệt không?”, “anh có muốn ra sông không?”
Còn tôi, tôi học cách ở lại. Không phải lúc nào cũng trọn vẹn. Khi ngồi chăn bò bên sông Ba Lòng, nhìn nước chảy, tôi hiểu ra: Người chờ là người sống cùng thời gian, còn người trở về là người phải học cách sống sau thời gian.
Mạ tôi đã chờ xong phần của bà.
Vợ tôi vẫn đang chờ. Còn tôi, tôi ở giữa hai bờ ấy, tập đặt từng bước chân xuống đất để không làm ai phải đợi thêm nữa.
Sông Ba Lòng vẫn chảy như chưa từng biết đến máu và khói. Nước lặng sâu, mang màu của đất rừng và thời gian. Tôi ngồi nhìn sông, bỗng hiểu ra một điều: Có những dòng sông chảy qua đất, và có những dòng sông chảy qua người.
Có lần tôi lại hét giữa trưa. Tiếng hét bật ra làm con bò giật mạnh. Lũ trẻ đứng chết trân. Tôi quỵ xuống, đất dưới chân tôi mềm mát lạnh. Mạ tôi và vợ chạy ra. Mạ tôi khóc, còn vợ tôi chỉ nói:
- Mình về nhà thôi anh!
Tối đó, cô ngồi xoa đầu cho tôi rất lâu không nói gì.
Thời gian không phải lúc nào cũng chữa lành được mọi vết thương, nhưng thời gian dạy con người ta sống chung với nó.
Những cơn đau đầu của tôi thưa dần, những giấc mơ bớt dữ. Tôi ngồi bên sông Ba Lòng mỗi chiều, nhìn nước trôi, nhìn lũ trẻ lớn lên. Không đứa nào biết tiếng pháo là gì.
Có hôm tôi tự hỏi: Nếu tôi không sống sót, liệu dòng sông này có khác đi không? Không. Sông vẫn chảy, tôi nghĩ vậy, nhưng tôi thì khác. Tôi đã học được cách đặt chiến tranh xuống, bởi dòng sông không bao giờ ngủ.
*
Sáng sáng tôi vẫn dắt bò ra bãi ven sông, trưa ngồi dưới gốc gòn nhìn nước chảy. Đến chiều tôi lùa bò về khi mặt trời đỏ sẫm như vết thương đang dần khép lại.
Sông Ba Lòng vẫn hiền hòa chảy, tôi hay ngồi nhìn sông nghĩ rằng có những thứ trôi đi được và có những thứ thì không thể. Thi thoảng lũ trẻ con tụm lại quanh tôi nghe tôi kể chuyện.
Mấy đứa trẻ ngồi quanh tôi thành một vòng tròn. Thằng Tí ngồi sát bên phải, hai đầu gối nhô lên để cằm trên đó. Nó mặc chiếc áo thun rộng, cổ áo đã giãn. Mắt nó đen và sáng, nhìn tôi không chớp.
Con Hạnh ngồi phía trước, hai bím tóc buộc dây đỏ đã sờn. Nó bứt một cọng cỏ dài, vừa nghe vừa xoắn cọng cỏ quanh ngón tay. Còn thằng Lâm nằm dài trên cỏ, hai tay kê sau đầu nhưng mắt vẫn liếc về phía tôi, chờ tôi nói tiếp.
Tôi hắng giọng:
- Hồi đó… ông bơi qua một con sông nước đục lắm.
Tí nghiêng đầu:
- Đục như sông mình hả ông?
Tôi nhìn ra dòng Ba Lòng trước mặt. Nước hôm nay trong hơn mọi khi, nhìn thấy cả những vệt cát sáng dưới đáy chỗ cạn.
- Đục hơn, nước xoáy rất mạnh.
Tôi nói chậm, từng câu rời rạc như đang lần tìm hình ảnh trong đầu. Bàn tay tôi vô thức siết nhẹ sợi dây thừng. Con bò phía xa giật mình quay lại nhìn, rồi lại tiếp tục nhai cỏ.
Gió thổi qua bãi làm cỏ rạp xuống từng đợt như sóng. Con Hạnh đưa tay gạt tóc, mắt vẫn dán vào mặt tôi.
- Ông có sợ không? - Nó hỏi.
Tôi cười, nụ cười kéo một bên má lên cao hơn bên kia, để lộ vết sẹo mờ chạy từ thái dương xuống gần tai.
- Sợ chớ cháu!
- Sợ sao ông vẫn bơi hả ông? - Tí hỏi dồn.
Tôi không trả lời ngay. Tôi cúi xuống nhặt một hòn sỏi nhỏ ném nhẹ xuống nước. Hòn sỏi rơi “tõm” một tiếng, mặt sông loang ra mấy vòng tròn.
- Vì lúc đó… nếu ông không bơi thì phải ở lại.
- Ở lại làm gì hả ông?
Tôi nhìn từng đứa, những gương mặt rám nắng, da còn căng mịn, ánh mắt rất trong trẻo.
Tôi trả lời:
- Ở lại với tiếng súng.
Tiếng nhai cỏ của đàn bò nghe rõ hơn. Xa xa, có tiếng chim gọi nhau trên lùm cây ven bờ. Mặt trời hạ thấp dần, đỏ sẫm như than hồng.
Tí chợt hỏi, giọng nhỏ hơn:
- Ông ơi… chiến tranh có nhớ ông không?
Câu hỏi của nó làm tôi khựng lại. Tôi đưa tay đặt lên đầu nó. Tóc nó mềm và ấm thơm mùi nắng, mùi mồ hôi con trẻ.
- Có, nhưng ông đang tập quên nó.
- Quên được không ông?
Tôi nhìn mặt nước, gió chiều thổi làm ánh nắng tan ra trên sông.
- Ông không quên hết, nhưng có thể không để nó làm mình ngã nữa.
Con Hạnh chống cằm hỏi:
- Ông đừng kể mấy chuyện ông la nữa nghe. Hôm bữa ông la, con bò chạy suýt đạp trúng con.
Tôi bật cười.
Mặt trời lặn hẳn sau rặng cây, bầu trời chuyển sang màu tím nhạt. Bóng những con bò kéo dài trên cỏ. Tôi chống tay đứng dậy chậm rãi. Mấy đứa trẻ cũng đứng dậy theo. Tí chạy ra trước mặt tôi, quay lại hỏi:
- Mai ông kể tiếp nghe?
Tôi gật đầu.
- Ừ. Mai ông kể tiếp cho tụi con.
Chúng chạy về phía làng, tiếng cười vang lên trong trẻo. Tôi dắt bò đi sau cùng, vừa đi vừa khe khẽ thổi sáo, sợi dây thừng vẫn nằm gọn trong tay. Dòng sông bên cạnh tôi vẫn chảy, lặng lẽ và bền bỉ…