Có tiếng động rất nhẹ. Tiếng cá quẫy mình? Hay tiếng của con nhái bén, ngồi trầm ngâm đớp bóng trong khóm lục bình? Một, rồi hai,... năm cái ống sậy nhô lên. Có tiếng lào khào trong gió sông: “Chuẩn bị nương hàng một theo mép lục bình. Khoảng trăm mét nữa là tới đồn Z... Tất cả các đồng chí chuẩn bị?"...
- Rõ...
Trăng vẫn đau đáu phía trên cao. Gió sông bỗng gờn gợn, thảm hoa lục bình chuyển động, cuộn mình như có dòng nước xoáy. Tiếng hô sắc gọn:
- Tất cả chú ý, có giang thuyền đang tiến đến. Lặn hụp sâu xuống…
Mặt nước sông bỗng như duềnh lên, sóng ào ạt xua tới, tiếng động cơ u u, i, i... và luồng đèn pha cực mạnh quét tới. Thoáng chốc, thảm lục bình như ngừng trôi, dạt về phía bờ đông. Lửa bỗng bừng lên ở phía mũi giang thuyền, tràng đại liên khạc đạn vào thảm lục bình, sóng nước trào lên, cuộn nhào, nhấn chìm. Một giây chợt im bặt. Hai tiếng “ùm” vang lên, kéo theo hai cột nước cao, xác hoa lục bình văng lên cao, xoay tròn như điệu luân vũ. Vầng trăng chợt rùng mình, ẩn mình sau đám mây đen. Tiếng động cơ của chiếc giang thuyền đã ì ì, hướng về thượng nguồn. Dòng sông bỗng tối đen như mực, gió rít lạnh lẽo. Những cây tràm, cây vừng, cây mù u bên bờ nhìn nhau xao xác...
- Báo cáo đội trưởng, Cầm bị... rồi ạ!
- Đưa gấp vào bờ, băng tạm vết thương... - Tiếng đội trưởng nói trong hơi thở.
Không biết chung quanh có nhà ai không? Vết thương trên vai, máu ra nhiều, Cầm ơi, cố chịu đựng...
- Cầm run quá đội trưởng ơi! Làm sao bây giờ?
…Yên lặng mấy giây, tiếng đội trưởng như rít trong kẽ răng:
- Tôi ra lệnh Lợi cõng Cầm tìm chỗ an toàn chăm sóc. Còn ba người tiếp tục nhiệm vụ! Không thể bỏ ngang tại đây...
- Dạ, nhưng... - Tiếng một ai đó ngập ngừng.
- Quyết định như thế! Các đồng chí chấp hành!..
- Rõ.
- Lạnh... lạnh quá!
Cầm run bần bật trên vai Lợi. Lợi cõng Cầm, cố cắt ngang bãi dứa dại, qua mé Ngũ Long là ruộng, ở đó chắc có nhà dân.
- Cố gắng chịu một chút Cầm ơi, sắp đến nơi rồi...
Bỗng Lợi như khựng lại, rờn rợn da gà, cố dỏng tai lắng nghe. Hình như có tiếng đờn đâu đó. Mà ai đờn vào giấc này? Tai Lợi không thể nhầm lẫn được, dường như là khúc Văn Thiên Tường, réo rắt, ai oán? Ô, hình như người gảy đờn chơi lại bản nhạc? Trong đêm tối, bước chân Lợi dò dẫm, sục xuống bùn. Trên lưng hình như Cầm đã ngất đi, hơi thở nghe khò khè. Cố nhắm hướng tiếng đờn, Lợi đi như có ai chỉ hướng... Phía trước đã lờ mờ một cái chòi chăn vịt, cây đèn bão được đốt lên và tắt phụt, tiếng một người đàn ông chừng trung niên cất lên:
- Mau, mau... đưa vào đây!
Lợi bỗng thoáng chút chần chừ...
- Ngay từ chạng vạng, ngồi câu cá, tôi đã thấy mấy anh. Hồi nãy nghe tiếng giang thuyền và đạn nổ, biết chắc có chuyện, nên tui...
- Tối quá! – Lợi buột miệng.
- Ở đây có lệnh từ 10 giờ trở đi, không được thắp đèn. Tại giang thuyền thấy là nổ súng...
Đặt Cầm nằm xuống chiếc chõng tre ở giữa lều, người đàn ông cởi ngay bộ đồ đang mặc thảy tới cho Lợi.
- Lau khô và thay đồ cho anh ta đi, tôi lấy bình nước nóng...
Và suốt đêm đó, Lợi và người đàn ông trung niên, gọi là chú Sáu Đờn, thay phiên chăm sóc cho Cầm, may mà vết thương chỉ ở phần mềm...
Vừa mờ sáng, tiếng chim bìm bịp kêu dậy phía mé sông, chú Sáu Đờn đã kéo đến cái cộ, Lợi và chú Sáu đặt Cầm nằm vào cái cộ, phủ rơm và kéo đi. Có lẽ tại lính địa phương quân đi lùng sục, vì đêm qua có động? Khoảng chừng mặt trời vừa lên khỏi đọt duối phía xa. Chú Sáu đẩy Lợi và Cầm vào một động mã, dày dặc những cây mua, hoa tím gờn gợn. Chú Sáu dặn: “Tụi bây chờ tao ở đây, tao dọ đường vào nhà con Nguyệt.... Chú Sáu vừa khuất, Lợi đã nghe hai mắt mình nặng trịch, kéo nhíp lại, đi vào giấc ngủ chẳng biết trời trăng gì nữa.
Độ chừng hút tàn điếu thuốc, chú Sáu quay lại với một cô gái, mặt bịt khăn rằn, chỉ chừa hai con mắt to tròn, đen lay láy, rồi không biết bằng cách nào, chú Sáu và cô gái đã đưa Cầm và Lợi về nhà. Lợi cứ mang máng hai chân mình như đi trên mây, hai mắt có khi mở ra, có khi nhắm híp lại. Cơn đói ngủ đã ba đêm rồi. Đang sức trai, Lợi cũng không cưỡng nổi mình... anh nhớ là mình nằm lăn ra trên một tấm ván ngựa đen bóng, mát lạnh, để đi vào thế giới của riêng mình..
Tiếng đờn kìm buông duy nhất một điệu Đảo ngũ cung của ông lão mù đình chợ Cây Dầu, đã cuốn hút cậu bé muời ba tuổi ngày ngày buổi trưa trốn ngủ, theo ông lão học đờn, và sau đó nổi trôi theo gánh hát của bầu Ngư khắp Nam Kỳ lục tỉnh, để rồi đến với đoàn Văn công Giải phóng, phục vụ hết chiến trường miền Đông Nam bộ. Nhờ biết thêm chút ít võ nghệ, Lợi được tuyển vào đội ngũ Đặc công nước, và giờ đây...
Lợi mở mắt ra, căn phòng đã phủ chút ánh sáng lờ nhờ cuối ngày. Anh nhìn lên vách, bức tường xây không tô, nhạt nhòa dấu rêu phong của thời gian, chợt anh chú ý, phía vách đối diện với cửa sổ treo đủ một dàn đờn bốn chiếc: Đờn nhị, đờn kìm, đờn tranh và cây ghi ta phím lõm, của một ban nhạc đờn ca tài tử. Sực nhớ đến Cầm, Lợi bật ngồi dậy, anh nhận ra đây là hậu liêu của một ngôi đình có lẽ cũng cổ xưa rồi. Không gian ắng lặng, gió mát lạnh. Trên chiếc băng đá đặt cạnh gốc me già cổ thụ, một cô gái đang chăm chút đút cháo cho Cầm. Một khung cảnh bình yên, tự nhiên Lợi nghe mắt mình rưng rưng...
Cô gái đã quay lại: Ủa, anh Lợi thức rồi à? Sao cô biết tên Lợi? Lợi thắc mắc, nhưng nhìn vẻ tỉnh táo của Cầm, Lợi đoán bạn đã kể về Lợi cho cô gái biết. Anh khẽ gật đầu. Cám ơn cô... Cầm đã khỏe rồi hả? Em tên Nguyệt, cô gái tự giới thiệu, anh Cầm đã ổn rồi! Ăn chén cháo chắc lát sau khỏe thôi.
Lợi thoáng thấy Cầm cười, nụ cười thật rạng rỡ, anh chợt nghĩ đến cái tên Nguyệt - Cầm. Cả hai tên ghép lại là tên của cây đờn kìm, Lợi bỗng liên tưởng đến tiếng đờn chỉ đường đêm qua. Một sự trùng hợp hay sự hữu duyên kỳ thú. Có tiếng tằng hắng, chú Sáu Đờn đã bước tới sân gạch, đưa tay lên miệng tỏ ý im lặng, và ra hiệu mọi người vào căn phòng Lợi vừa ngủ, chú Sáu nói nhỏ: Đây là nơi của đội nhạc lễ đình, người vào ra nhiều, không ai chú ý, nhưng... chú đây đang băng vết thương trên vai, cần phải kín đáo. Vừa nói, chú Sáu vừa vắt trên vai Cầm cái áo dài xanh của ban nhạc lễ, rồi khẽ khàng khép cửa lại...
Bóng tối đã trùm lên căn phòng, Nguyệt cũng đã đi từ hồi nào. Cánh cửa căn phòng dường như đã bị khóa ngoài. Cầm nhìn Lợi căng thẳng. Lợi ôm bạn ra dấu yên lòng, nhưng trong đầu cũng đang gấp rút vạch ra một kế hoạch để kịp thời đối phó với tình huống xấu...
Tiếng đờn kìm bỗng vang lên ngọt ngào điệu Nam Xuân phấn chấn, rạo rực. Rồi tiếng giọng nữ rao lên dịu dàng đầm ấm. Cầm lim dim đôi mắt, Lợi căng mình lắng nghe. Từng giọt đờn thánh thót như mưa xuân rơi trên cành lá, khúc “lưu thủy" ềm đềm, và thánh thót giọt ca, gợi cho Lợi những phấn chấn, nhớ ngày trên chiếc thuyền gánh hát...
Vở diễn tuồng Chinh phụ chờ chồng, người con trai là nhạc sư Nguyệt Cầm của một hội Chầu văn, lừng danh kinh đô, nàng là ca nương tài sắc vẹn toàn. Ngày lên đường, nhạc sư mang theo chiếc Nguyệt Cầm bốn dây, nàng rút bớt hai dây, nói để đỡ nhớ chồng, và nhắc mình tấm lòng chung thủy chờ chồng. Việc quân, chàng cũng không cần phải gảy lên những bản đờn ai oán, cứ dồn dập, thúc giục, như tiếng vó ngựa sa trường là được... Những đêm trăng thanh vắng, nhạc sư lấy cây Nguyệt Cầm chỉ còn hai dây ra đánh, tay vê, tay rung thành những bản nhạc “oán”, chàng bị khép vào tội “làm nản lòng quân” phải vào tù. Nàng ở nhà mỏi mòn chờ chồng, gắn hai dây đã giữ, thành chiếc đờn mới và giã từ kinh đô. Ra biên giới tìm chồng... Cây đờn về sau lưu lạc vào tận phương Nam gồm có tám phím, hai dây... và được gọi là cây đờn kìm, một trong những cây đờn trong những cuộc đờn ca tài tử của vùng sông nước mênh mông.
![]() |
Mới sáng sớm, Nguyệt mặt mày xanh lét, từ ngoài chạy vào: Các anh ơi, đàng mình nhổ xong đồn Z rồi, nhưng... Đang nằm lơ mơ nghĩ cách về đơn vị, Lợi bật dậy nhanh chóng. Nhưng... cái gì? Bên mình có sao không? Nghe nói... hy sinh hai người! một người kẹt lại, bị tụi giang thuyền cho phơi xác ở chợ Dầu. hu, hu... Nguyệt bỗng nấc lên.
Trên giường, Cầm cũng đã lồm cồm ngồi dậy, vết thương bỗng bật máu, thấm ướt đỏ khoảng băng trắng. Lợi nắm chặt tay Nguyệt lắc lắc: Có biết tên hai đồng chí đó không? Ai bị phơi xác... Trời ơi! Lũ ác ôn mà!. Lợi bỗng hét lên, lòng anh như có lửa đốt. Anh hình dung ba đồng đội của mình... sau khi cho nổ tung đồn Z, chẳng may hai người hy sinh. Người còn lại đành cõng một người... Anh đấm ngực. Giá có thêm một người thì đâu nông nỗi...
Có tiếng gõ cửa nhẹ, ông Sáu Đờn hé cửa bước vào. Chú Sáu ơi, bây giờ phải làm sao đây? Lợi nhổm dậy. Tui, tui... phải tìm cách ra chợ mới được. Ông Sáu Đờn ấn mạnh vai Lợi, mắt nhìn thẳng: Không được đâu. Tụi lính trên quận xuống tăng cường. Chú mà ra, là tụi nó hốt liền. Bây giờ phải vận động các má, các chị lên quận đòi cho mang xác về chôn... úi trời ơi! Sao anh Cầm nóng sốt dữ vầy nè? Nguyệt rờ tay Cầm và la lên.
Nhìn mặt Cầm xanh ngắt như không còn chút máu. Lợi biết bạn cũng như mình đang cháy ruột cháy gan lo cho đồng đội... Anh tưởng tượng ra cái xác của bạn, bùn sình lấm lem, lại phải nằm phơi ra giữa chợ. Ruồi nhặng bầu vào... Tim anh nhói đau, hai dòng nước mắt tuôn chảy... Thôi cũng chỉ có cách như vậy. Con Nguyệt về vận động mấy chị, mấy má... Tao đi kiếm mớ thuốc cho chú Cầm. Còn chú Lợi tuyệt đối không đi đâu hết. Chú phải biết giữ cho sinh mạng của chú và chú Cầm đây nữa... Lợi cắn chặt răng mình đến bật máu. Anh cũng không thể yên lòng bỏ Cầm ở đây một mình...
Lợi quyết định, nếu chiều nay, các má không mang xác của đồng đội về, tối đến Lợi sẽ một mình hành động. Buổi trưa, Nguyệt mang cơm tới báo tin. Ông quận trưởng mới về, muốn lấy lòng dân chúng, nên cho mấy má đem xác đi, nhưng phải chôn ngay trong chiều. Người chiến sĩ hy sinh tên là Đực! Một đơn vị mới hay chiến sĩ mới đánh đồn? Không phải đội đặc công nước của Lợi. Lợi như trút đi gánh nặng ngàn cân, nhưng nước mắt vẫn ứa ra, thương xót cho người chiến sĩ ấy...
Quận Hạ đưa xuống một trung đội mặc toàn áo bà ba đen, bà con nói là xây dựng nông thôn gì đó. Chú Sáu Đờn nói trên phổ biến đây là đám “Thiên Nga, Phượng Hoàng” trá hình, chuyên đi săn hầm bí mật và chỉ điểm. Lợi và Cầm không thể ở lại, phải di chuyển về Bà Tươi để tránh địch phát hiện.
Ngay đêm đó, có chiếc ghe tro xuôi xuống miền Tây, ông Sáu Đờn gửi Cầm và Lợi quá giang trong vai nhóm nhạc lễ đi hát đình Cao. Lợi, Cầm ăn bận áo dài, khăn đóng, thêm Nguyệt và dì Năm trầu. Nguyệt ôm cây đờn tranh, đưa Cầm cây ghi ta. Chú Sáu đưa cho Lợi đúng cây đờn kìm của chú, cười nói. Đây là cây đờn... gia truyền kiếm cơm của tao. Mày phải giữ kỹ, đến nơi gửi Năm trầu cầm về cho tao, nhược mà căng quá... hòa bình gửi tao cũng được. Mọi người cười vui, lục tục xuống ghe.
Chiếc ghe tro xuôi về lục tỉnh lấy hàng, nên chỉ chở theo mấy chục bao củ mì, và đậu phộng, món đặc sản của miền Hạ, nên rộng thênh, thung dung chạy giữa dòng sông. Gió hiu hiu mát rượi. Tài công thấy mọi người ôm đờn, bèn đề nghị: Mấy huynh, mấy tỉ ơi! Đêm thanh gió mát, mình tấu lên vài bản đờn nghe chơi được hông dậy?
Lợi cũng đang... ngứa nghề, đưa mắt nhìn dì Năm trầu và Nguyệt, thấy dì Năm gật đầu, Lợi cao hứng dạo khúc Nam Xuân. Tiếng đờn vang lên thánh thót vui tươi, nghe thật quang hòa đầm ấm. Nguyệt hòa theo, giọng đờn tranh trong trẻo, khoan thai. Cả vùng sông nước mênh mông chợt như nhỏ lại, nín thở lắng nghe thanh âm từ hai cây đờn như hòa chung một nhịp điệu giữa một vùng khói sóng lung liêng. Cầm ôm cây ghi ta vào lòng, anh không biết đờn, dựa lưng vào thành thuyền lắng nghe. Dì Năm thủng thẳng, lục túi têm trầu, đưa tay vuốt hai bên mép, đầu gật gù ưng ý. Bỗng tài công hứng chí cất cao giọng ca: “Quan san lá rơi Thu Hà em ơi! Đường dài mịt mùng anh không tới nơi. Mây nước buồn cơn lửa binh. Biết nói chuyện tâm tình. Khóc than riêng anh một mình...”. Giọng ca làm ấm khoang ghe gió lạnh.
Tiếng đờn, tiếng ca du dương dìu dặt, làm rung cảm đến những con tim tưởng chừng chỉ biết có khói lửa, súng đạn. Họ đắm mình trong tiếng nhạc lời ca, không hề để ý tiếng rè rè của một chiếc “cán gáo” đang đảo quanh, soi mói chiếc ghe. Rồi một luồng pha cực mạnh, từ dưới bụng chiếc cán gáo soi thẳng vào khoang ghe. “Tất cả bình tĩnh ngồi yên, không động đậy...” tài công la lớn. Lợi chuyển cây đờn kìm cho Cầm, đề phòng bất trắc. Chiếc cán gáo đã hạ thấp độ cao, gió rít xoáy phía trên đầu. Vừa lúc ấy một loạt đạn lửa từ phía bờ Tây bắn thẳng lên chiếc cán gáo.
- Chết cha rồi! Du kích bắn nó, thế nào nó cũng nã đại liên xuống, mọi người chú ý... Tài công vừa tăng tốc vừa cảnh giác mọi người. Và chiếc cán gáo bốc thẳng lên, một tràng đại liên xối xuống chiếc ghe tro như người ta rãi thóc. Nguyệt lao tới, che cho Cầm, và cô lãnh trọn hai viên đạn xuyên luôn qua người của Cầm. Chiếc ghe như bị thương, rùng mình. Tài công kịp tắt máy, lủi vào phía có nhiều dừa nước. Chiếc cán gáo tăng độ cao và bay mất...
Từ ngực Nguyệt và bụng của Cầm, hai dòng máu như trộn vào nhau, chảy lênh láng trên phím đờn kìm, nhỏ xuống thành ghe, rồi xuống dòng sông nghe rõ những âm thanh long tong, rợn người. Không gian chung quanh như tối thẫm hơn bởi hơi sương, hơi sóng lạnh. Tiếng dì Năm trầu khóc nấc lên, u uất nghẹn ngào...
Bầu trời trong xanh văng vắc. Mặt trăng như chiếc đĩa ngọc tròn to treo giữa bầu trời. Phía dưới, dòng sông xanh biếc, lấp lánh muôn vạn ánh kim ngân như chiếc áo giáp kim khôi. Một chiếc thuyền du lịch, sơn màu trắng, neo đậu giữa dòng, trên chiếc bàn nhỏ, trưng bày một bình hoa ly cũng trắng muốt. Bốn người ngồi chung quanh cái bàn, họ gồm hai người đàn ông trung niên, một người đàn bà tóc bạc trắng, vai vắt chiếc khăn rằn màu cổ trầu và một cô gái tuổi chừng đôi mươi. Đây là chỗ… ngày xưa Nguyệt và Cầm hy sinh... Người đàn ông trung niên, chỉ ra dòng sông, nét mặt buồn buồn. Ngoại ơi, tuổi má Nguyệt hồi ấy cũng bằng con bây giờ à? Cô gái trẻ khá xinh xắn, nép sát vào người đàn bà tóc bạc hỏi.
Người đàn ông trung niên nãy giờ trầm tư im lặng bỗng đứng lên, tay cầm chai Rémy rót xuống dòng sông, miệng nói: Nhân danh đội trưởng đội đặc công nước, hôm nay trở về thăm các đồng chí. Xin mời các đồng chí, cùng chung chén rượu. Người đàn ông trung niên kia đứng lên, nghiêm trang, đưa tay chào. Nguyệt ơi, Cầm ơi, Đức ơi... Lợi về thăm lại các bạn đây... Rồi quay qua người đàn bà, Lợi nói: Dì Năm lấy cho con chiếc đờn kìm. Con muốn đờn lại nguyên vẹn bản đờn ngày xưa cho Nguyệt và Cầm nghe, hẳn ở bên... kia, hai đứa vẫn còn nhớ....
Tiếng đờn vang lên khoan thai, giọt giọt đờn như thấm sâu vào sâu thẳm nỗi lòng của từng người có mặt. Tiếng ca bỗng vút lên cao trào ai oán: “Lá rừng rơi rụng như mưa. Phải chăng xây hộ nấm mồ cho ta...”. Lợi tưởng nghe từng giọt máu năm xưa chảy xuống phím đờn, nhỏ giọt giọt xuống sông. Tay anh bỗng run lên. Bực! Sợi dây đờn bỗng đứt ngang, và anh đăm đắm nhìn xuống dòng nước xanh thật hiền hòa, êm đềm. Nước mắt anh nhạt nhòa cả khuôn mặt...