![]() |
| Minh họa Lê Anh Vân |
Bà tên Hương, mọi người vẫn hay gọi: o Hương.
Đó là một người đàn bà miền Trung có nước da trắng nõn nà. Trắng như chưa từng đi qua nắng gió chiến tranh, dù đời bà đã chìm nổi qua đủ mất mát, đau thương. Bà hơi thấp nhưng trông cân đối, tóc vấn gọn sau gáy, lúc nào cũng sạch sẽ thơm mùi xà phòng. Bà có cái dáng của một tiểu thư khuê các thất lạc giữa thời loạn. Nhưng càng ở gần, người ta càng thấy nơi bà có một thứ lạnh lẽo rất khó gọi tên. Bà không bao giờ làm những việc lau chùi, cọ rửa vì sợ mòn tay. Có lần tôi hỏi đùa: “Mẹ sợ xấu à?” Bà liếc tôi, giọng tỉnh queo: “Tay đàn bà mà thô ráp thì còn gì là đàn bà.” Tôi cười gượng. Sau này mới hiểu, bà yêu đôi bàn tay mình như giữ lại chút kiêu hãnh cuối cùng của tuổi trẻ.
Bà yêu bản thân mình nhưng lại khắc nghiệt với người khác. Sự khắc nghiệt của bà hiện lên trong từng chuyện nhỏ. Người nghèo, người yếu thế bước vào nhà thường nhận ánh nhìn khinh khỉnh. Chồng tôi hiếm khi nhắc về mẹ, nhưng mỗi lần nhắc là ánh mắt anh tối lại như chạm phải một vết thương cũ.
Một đêm mất điện, trời oi bức, anh nằm ngoài hiên hút thuốc rồi bất ngờ kể: “Hồi nhỏ, mẹ bán gạo trên vùng cao.” Tôi im lặng nghe tiếng côn trùng rả rích ngoài vườn. “Trong mười lon gạo, bảy lon đầy. Ba lon cuối, mẹ lật ngược đáy lon lên để bớt gạo.” Tôi sững người. “Người dân tộc thật thà lắm. Họ đâu biết.” Anh cười nhạt: “Tôi đứng cạnh nhìn thấy hết. Muốn nói mà không dám.” Khói thuốc tan trong bóng tối. “Từ đó tôi không còn kính phục mẹ nữa.” Câu nói ấy làm tôi nhớ mãi.
Có những đứa trẻ lớn lên bằng roi vọt. Có những đứa trẻ lớn lên bằng sự thất vọng.
Chồng tôi thuộc kiểu thứ hai.
Sau này, mỗi lần nhìn thấy mẹ cặm cụi đong gạo trong bếp, anh đều quay mặt đi. Giữa họ tồn tại một khoảng cách âm thầm, dài như con sông mùa lũ, không ai đủ can đảm bước qua.
*
Thời trẻ, o Hương đẹp nổi tiếng cả vùng.
Người ta kể bà đi đến đâu là trai làng nhìn theo đến đó. Da bà trắng, môi đỏ tự nhiên, tóc dài chấm lưng. Nhưng điều khiến đàn ông mê mẩn nhất lại là đôi mắt vừa ngang bướng vừa tinh nghịch của bà. Bà không hề ngại ngùng, e thẹn trước sự chọc ghẹo của đám đàn ông trong làng. Họ trêu bà một câu, bà đáp lại hai, ba câu. “Con Hương đáo để nhất làng,” đám con trai trong làng kháo nhau.
Năm mười tám tuổi, bà đã được hứa gả cho một người trong làng. Người ấy hiền lành, có ruộng đất, cha mẹ tử tế. Ai cũng nghĩ bà sẽ sống một đời yên ổn.
Rồi bà gặp ba chồng tôi.
Ông là lính, cao lớn, đẹp trai, nói giọng Huế trầm như nước sông Hương buổi chiều. Chỉ một lần gặp ở bến đò Thiên Mụ, bà bỏ hết mọi sắp đặt của gia đình.
Bà kể lại chuyện ấy trong một buổi trưa hiếm hoi vui vẻ: “Tau thấy ông ấy bước xuống thuyền, tự nhiên biết đời mình thay đổi rồi.” Nói xong bà cười, nụ cười vừa trẻ con vừa cay đắng.
Mấy hôm sau ngày gặp ba chồng tôi, bà tự gánh lễ vật qua nhà trai cũ trả lễ từ hôn. Cả làng nhìn theo, chửi bà là đồ mất nết. Nhưng bà không quay đầu.
Người đàn bà ấy yêu dữ dội như lửa cháy rừng. Bà quyết cua cho được người bà thích, và cuối cùng cha chồng tôi cũng đổ vì bà. Bà trở thành vợ của ông mặc cho cha mẹ ngăn cản, xóm làng xầm xì.
Cha chồng tôi hiền lành, đẹp trai, ít nói. Ông bị bà lấn át mọi điều, nhưng được bà cưng chiều như cậu ấm. Bà rất tự hào về chồng. Mỗi lúc kể về ông, mắt bà lại sáng long lanh, cố gắng nhớ lại những ký ức đẹp đẽ như để sống lại quãng thời gian hạnh phúc nhất khi đời bà còn có ông. “Mấy con mẹ trong làng hay ganh tỵ với tao, hễ gặp tao đi với chồng là tụi hắn lại trêu ghẹo đòi mượn một đêm.” Bà kể một cách sung sướng. Ông không ở nhà thường xuyên, mỗi lần về phép thì chín tháng mười ngày sau nhà lại có thêm thành viên. Có những đợt ông đi biền biệt không về nhà. Bà một thân vác cái bụng bầu tìm đến đơn vị đòi vào gặp cho được ông Toàn - chồng bà. “Tui ngồi đây, mấy ông không cho tui gặp chồng thì tui sẽ ngồi chờ mãi, tui mà đau bụng ở đây là mấy ông phải đỡ đẻ cho tui,” bà nói càn, nói bướng buộc chỉ huy phải cho bà gặp chồng. Ông gặp bà, hoảng hốt khi thấy vợ bụng mang dạ chửa tìm vào chiến trường tìm chồng: “Răng mà mạ mi gan rứa, không sợ bom đạn à!” Bà vểu môi hờn trách: “Rứa răng, có con mô khác rồi nên không muốn gặp vợ à!” Trách móc nhau nhưng nước mắt chảy dài. Dù chỉ gặp nhau vài phút bà cũng thỏa mãn.
Rồi chiến tranh cướp mất tất cả. Bà không còn cơ hội đi thăm chồng lần nào nữa.
Ba chồng tôi tử trận khi mẹ Hương đang mang thai đứa thứ năm.
Hôm nhận giấy báo tử, bà ngồi bất động đến tối. Không khóc. Không nói. Sau khi chôn cất chồng, ngày nào bà cũng mặc nguyên bộ đồ đen rồi đi bộ ra nghĩa địa.
Những người trong xóm kể, suốt nhiều tháng trời, chiều nào bà cũng ngồi trước mộ chồng đến tối mới về, dù mưa hay nắng, bà vẫn ngồi bên mộ chồng như thế cho đến ngày sinh. Không ai biết bà nghĩ gì. Bà không nói, không cười, không quan tâm gì đến mấy đứa con. Những ngày tháng ấy, mấy chị em trong nhà không dám hỏi gì mẹ, chỉ lấm lét nhìn, tự chăm sóc, bảo ban nhau.
Đến ngày bà trở dạ, đứa con trai út sinh ra giống cha như đúc. Từ đó, bà không ra mộ chồng nữa mà tập trung làm ăn, buôn bán. Có lẽ chính những ngày đau khổ ấy đã giết dần phần mềm yếu trong bà.
Bà buôn đồ hộp lính Mỹ, đổi từng thùng sữa, từng hộp thịt để nuôi năm đứa con. Vàng bà giấu trong ruột tượng, quấn quanh bụng mỗi đêm ngủ. Ngay cả khi tắm cũng không rời người.
Một điều lạ là càng buồn bà trông càng quyến rũ. Từ ngày chồng mất, lúc nào bà cũng mặc bộ đồ đen, càng làm nổi bật nước da trắng nõn của bà, và càng thu hút nhiều đàn ông trong làng. Thấy bà góa chồng, không ít ông đến ve vãn. Trước mặt họ, bà vẫn đon đả mời chào, nhưng khi họ quay đi, bà bĩu môi chua chát: “Cái ngữ ấy không bằng gót chân ông Toàn.” Nói rồi bà lặng lẽ ra mộ thắp nhang cho chồng. Thỉnh thoảng bà ra bến sông, nơi lần đầu bà gặp ông, ngồi thẫn thờ nhìn mọi người lên bến xuống thuyền, đôi mắt xa xăm tìm kiếm bóng dáng người xưa. Chiều buông, bến sông vắng lặng, bà thở dài rời bến, vì bà biết năm đứa con thơ đang chờ mẹ ở nhà.
Bà buôn bán lanh lợi, và tích góp được một số vốn kha khá. Nhưng chiến tranh khốc liệt, dắt díu con chạy vào Nam, bà mất sạch. Căn nhà lớn bỏ lại ngoài quê. Đồ đạc thất lạc. Những chỉ vàng dành dụm cũng lần lượt bị cắt ra để nuôi con ăn học. Mỗi lần cắt vàng, bà ngồi lặng rất lâu. Như thể bà đang tự cắt từng phần đời mình đem đổi lấy tương lai cho các con.
*
Mẹ Hương tin đàn ông là cột trời.
Trong mâm cơm, con trai luôn được ăn trước. Miếng cá ngon nhất đặt vào bát con trai trưởng. Con gái chỉ cúi đầu ăn phần còn lại.
Tôi trở thành vợ của con trai bà, và bị sốc ngay sau ngày cưới. Chưa kịp tận hưởng mật ngọt của đêm tân hôn, bà gọi tôi vào phòng, bà bảo: “Con này, vòng vàng trong lễ cưới không phải mạ cho, mà cho bây mượn đeo để bây nở mặt nở mày với thiên hạ, giờ xong việc rồi, con trả lại cho mạ nghe.” Tôi cay đắng, lẳng lặng mang mọi thứ giao lại cho bà, lòng thầm hiểu chuỗi ngày sung sướng bên cha mẹ đã chấm dứt.
Bà thường nói: Đàn bà lúc nào cũng phải đội chồng lên đầu. Tôi nghe mà nghẹn. Nhưng chẳng ai cãi được bà.
Chồng tôi là con trai trưởng nên được mẹ yêu nhất. Mà thứ tình yêu ấy nặng nề như một món nợ. Bà kiểm soát anh từ tiền bạc đến lời ăn tiếng nói. Và cấm anh đụng vào bất cứ việc gì trong nhà, nhất là phụ vợ việc bếp núc, lau dọn. Với bà, đàn ông làm việc nhà là bần hèn.
Hai mẹ con thường to tiếng với nhau
“Mạ sống vậy ai chịu nổi?”
Bà đập bàn:
“Tao cực cả đời vì tụi bây!”
“Nhưng mạ sống ác quá!”
Căn nhà im phăng phắc.
Tôi đứng ngoài cửa nghe tiếng thở dốc của hai mẹ con. Rồi bà bật khóc:
“Nếu tao không ác thì năm đứa con của tao chết đói từ lâu rồi!”
Đó là lần đầu tiên tôi thấy chồng mình im lặng trước mẹ.
Nhưng sự cay nghiệt của bà lại đổ nhiều nhất lên đầu em dâu tôi. Chỉ vì nó sinh hai con gái.
Bà chì chiết em từng ngày. Hết chuyện cơm nước đến chuyện “không biết đẻ”. Có lần hai người cãi nhau, bà tự ngã xuống nền rồi la làng bị con dâu đánh. Khi em dâu hoảng hốt chạy lại đỡ, bà cầm nón bảo hiểm vụt tới tấp. Hai đứa nhỏ đứng nhìn sợ hãi rồi khóc ré lên. Tôi nhớ hôm ấy trời mưa rất lớn. Nước từ mái hiên chảy tong tong xuống bậc thềm. Trời khóc, em dâu ngồi ôm mặt khóc, tóc bết vào má. Còn mẹ Hương thì ngồi trong phòng, thở hổn hển như vừa thắng một trận chiến. Cả nhà chìm trong thứ không khí đặc quánh mệt mỏi.
*
Tuổi già khiến mẹ chồng tôi càng khó gần hơn.
Tiền con cháu cho, bà nhét đầy trong túi áo nhưng vẫn than thiếu. Mỗi lần không vừa ý, bà nhốt mình trong phòng. Có lần giận chồng tôi vì chuyện tiền nong, bà đóng cửa suốt một tuần chỉ ăn mì gói. Tôi thấy xót xa nấu cháo mang lên. Bà hất nguyên tô cháo xuống đất. Cháo nóng văng tung tóe lên chân tôi. Tôi đứng chết lặng. Đúng lúc ấy, thằng con trai lớn của tôi chạy vào:
“Nội ơi, mẹ đau!”
Bà nhìn cháu, đôi môi run lên. Rồi quay mặt đi. Thằng bé cúi xuống nhặt từng mảnh tô vỡ. Bất ngờ bà bật khóc. Tiếng khóc của người già nghe mỏng và cô độc như gió lùa qua khe cửa. Từ hôm đó, tôi bắt đầu nhìn bà khác đi.
Tôi gần gũi, trò chuyện với bà nhiều hơn. Có những chiều khi xong mọi việc, bà nhờ tôi nhổ tóc sâu. Đó là những khoảnh khắc tôi thấy bà hiền lành, dễ gần. “Thằng cha đầu ngõ dê lắm, khi nào tao đi ngang cũng cười cười mơn trớn, rủ tao vào nhà chơi.” Tôi ngạc nhiên trước câu chuyện của bà. “Rồi mẹ có vào không?” Bà cười lớn: “Mụ vợ ông ấy như đoán biết ý đồ của lão, khi nào thấy tao mụ nớ cũng gầm gừ.” Tôi nghe rồi im lặng, không dám hỏi gì thêm. Bà lại mơ màng nhớ đến chuyện cũ: “Hồi xưa có ông giáo trong làng nho nhã, đẹp trai ưng tao. Mỗi lần ông ấy tới chơi là thằng chồng con, lúc đó mới mười ba tuổi, đã biết đứng lườm lườm trước cửa, hắn phân công mấy đứa em nhỏ luân phiên ngồi lỳ trong nhà không cho tao nói chuyện riêng...”
Bà vừa kể vừa cười, tiếng cười vừa yêu thương pha lẫn chút chua xót.
Một buổi chiều cuối năm, trời lạnh. Tôi đi ngang phòng mẹ thì nghe tiếng máy khâu ngừng bặt. Hé cửa nhìn vào, tôi thấy bà đang ngồi khâu áo bên cửa sổ. Ánh sáng hắt lên gương mặt đã hằn vết tuổi già nhưng vẫn còn nét đẹp cũ. Bàn tay bà run run. Kim đâm vào đầu ngón tay. Tôi nghe bà xuýt xoa rồi cười một mình:
“Ở đời… kim đâm thì đau… thịt đâm thì sướng…”
Tôi đứng chết sững ngoài cửa.
Bà không biết có người nghe thấy.
Ánh mắt bà lúc ấy xa xăm vô cùng, như đang nhìn về một thời rất xa. Tôi bỗng hình dung ra người đàn bà trẻ mặc áo đen ngồi bên mộ chồng năm nào. Một thân một mình. Đẹp đẽ. Cô độc. Khao khát. Nhưng phải sống như đá.
Có lẽ bà từng muốn đi thêm bước nữa.
Có lẽ bà từng có tình cảm với một người đàn ông khác ngoài chồng.
Nhưng năm đứa con và miệng đời đã khóa chặt phần đàn bà trong bà lại.
Từ hôm ấy, mỗi lần nhìn mẹ ngồi vá áo bên cửa sổ, tôi không còn thấy ở bà sự cay nghiệt nữa. Có những người đàn bà đi qua quá nhiều mất mát nên quên mất cách sống dịu dàng. Bà keo kiệt vì từng đói nghèo. Bà thích kiểm soát vì đời bà đã quá nhiều mất mát. Bà bấu víu tiền bạc vì tuổi trẻ từng trắng tay giữa chiến tranh. Và bà độc đoán vì chưa từng được quyền yếu đuối.
*
Những năm cuối đời, mẹ chuẩn bị cái chết kỹ lưỡng như chuẩn bị cho một lễ cưới.
Bà mua sẵn đất nghĩa trang. Xây vòng thành. Chọn ảnh thờ. Chọn cả vải may áo dài trắng. Một hôm, bà gọi tôi vào phòng: Mai mốt tao chết, nhớ mặc bộ này cho tao.
Bà mở chiếc rương gỗ cũ. Mùi long não và vải mới bốc lên ngai ngái. Bên trong là xấp vải trắng tinh được xếp ngay ngắn.
“Cái này lót lưng. Cái này phủ chân. Đừng làm sai.”
Bà dặn rất kỹ. Tôi nghe mà sống mũi cay cay.
Cuối tháng hai, bà vấp ngã trong nhà tắm.
Bà nằm viện, con cái lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh, cố gắng níu kéo cuộc sống cho mẹ, nhưng sau ba tuần bà về nhà trong trạng thái mê man. Hôm cuối cùng, trời rất yên. Không mưa. Không gió.
Bà mở mắt nhìn từng đứa con rồi dừng lại rất lâu ở nơi tôi - người con dâu đã cùng bà đi qua gần ba mươi năm thăng trầm của cái gia đình này.
Bà không nói được nữa.
Chỉ có một giọt nước mắt chảy xuống từ khóe mắt nhăn nheo.
Rồi bà đi.
Nhẹ như một tiếng thở dài.
Tang lễ xong, các con dọn phòng bà. Vàng bạc, tiền giấu trong ruột gối, trong đáy tủ, trong ống quần lần lượt được tìm thấy. Cả đời bà ôm khư khư chúng như ôm lấy sự an toàn cuối cùng. Nhưng lúc đi, bà chẳng mang theo được gì. Tất cả những gói ghém, dè sẻn, chắt chiu bà để lại cho các con, và cả những câu chuyện về những lon gạo khuyết, về một người đàn bà đẹp ngồi khóc bên mộ chồng, về đôi bàn tay trắng trẻo suốt đời không chịu chạm vào cái thớt dính mỡ…
Ngày cúng thất đầu tiên, tôi dọn dẹp lại phòng của bà. Chiếc máy khâu vẫn để nguyên chỗ cũ như một kỷ vật để thấy hằng ngày mẹ vẫn hiện diện trong nhà. Trong đáy chiếc rương cũ, tôi tìm thấy một túi vải bạc màu. Bên trong là đôi vòng vàng ngày cưới năm xưa.
Có một mảnh giấy gấp tư, nét chữ run run:
“Hồi đó mạ lấy lại vì sợ sau này nghèo đói còn có cái mà sống. Chớ mạ biết con tủi. Cả đời mạ không học được cách nói lời thương. Cực cho con rồi.”
Tôi ngồi lặng rất lâu. Ngoài sân, khói nhang bay mỏng trong chiều.
Lần đầu tiên sau gần ba mươi năm làm dâu, tôi bật khóc như một đứa con gái...