Sự kiện & Bình luận

Nhà giàn DK1 - Khúc tráng ca trên biển

Nguyễn Văn Học
Bút ký phóng sự 09:07 | 18/07/2026
Baovannghe.vn - ...Chúng tôi yêu biển, yêu từng nét phác họa của gió trên biển, những cánh sóng và yêu lòng thủy chung son sắt của lòng biển với đất liền. Chúng tôi thích xê dịch, và hành trình lần này, với tôi, như được về nhà!..
aa

Buổi sáng, trời trong veo và gió nhẹ. Tại cảng của Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, đóng trên địa bàn phường Phước Thắng (Thành phố Hồ Chí Minh), các đại biểu trong Đoàn công tác số 1, tàu Trường Sa 01 và Đoàn công tác số 2, tàu Trường Sa 19 (Vùng 2 Hải quân), những ca khúc được cất lên, vừa khỏe khoắn vừa khoan thai, du dương mà đầy sức gợi: “Nắng gió mặc nắng gió/ Lính nhà giàn thề không ngại khó/ Mưa giông mặc mưa giông/ Lính nhà giàn vẫn thắm hoa hồng…” Ca khúc được sóng đệm đàn, gió du dương cổ vũ. Lòng người đầy hứng khởi. Lúc ấy, bỗng xuất hiện hai giọng ca khác hòa nhịp trên boong tàu, kết nối sẻ chia của hai thành viên Hội Biển đảo Việt Nam. Ánh mắt mỗi người nói với nhau nhiều điều. Chúng tôi yêu biển, yêu từng nét phác họa của gió trên biển, những cánh sóng và yêu lòng thủy chung son sắt của lòng biển với đất liền. Chúng tôi thích xê dịch, và hành trình lần này, với tôi, như được về nhà!

Trong lễ tiễn đoàn thăm các nhà giàn DK1, tàu trực và cơ quan dân chính Đảng Đặc khu Côn Đảo, trong tôi có một bất ngờ. Một số vợ cán bộ, chiến sĩ nhà giàn cũng có mặt, với sự rạng ngời, gửi những món quà tới chồng và đồng đội. Trong đó có chị Nguyễn Thị Thùy Dương (xã Đại Phước, tỉnh Đồng Nai), vợ Thiếu tá Cao Lê Anh Phương, nguyên Chỉ huy trưởng Nhà giàn DK1/18, nguyên Thuyền trưởng tàu Trường Sa 19. Suốt hơn 11 năm qua, Thiếu tá Cao Lê Anh Phương bám trụ ở các vị trí khác nhau, trên những nhà giàn khác nhau. Năm nay, khi chồng được về đất liền công tác, đón Tết Bính Ngọ 2026, chị Dương đã xin ra Nhà giàn DK1 thăm các cán bộ, chiến sĩ (theo Đoàn công tác số 2, tàu Trường Sa 19). Vì sao chị chọn đến với các chiến sĩ? Chị Dương chia sẻ: “Là vợ bộ đội và cũng là thành viên của Hội Biển đảo Việt Nam, tôi thấu hiểu hơn ai hết những hy sinh thầm lặng của người lính biển và hậu phương. Sau nhiều năm nghe chồng kể về những khó khăn vất vả của các anh, tôi mơ ước được một lần đặt chân lên nhà giàn, và nay ước mơ đó đã thành hiện thực. Đối với tôi, chuyến đi này không chỉ là hành trình trải nghiệm, mà còn là sự nối dài niềm tin và khát vọng.”

Công việc chuẩn bị hoàn tất. Còi tàu vang lên. Hai con tàu có biệt hiệu “Mỗi hải trình là một gia đình” từ từ rẽ sóng, rời bến. Có rất nhiều tâm sự trong những cái vẫy tay với bao ánh mắt trìu mến của người đứng lại bến cảng và người trên hai con tàu. Cũng có rất nhiều lời nhắn gửi cho những người làm nhiệm vụ ngoài khơi xa. Tôi cúi chào đất liền để bắt đầu một hành trình mới, để hiểu hơn và tri ân các chiến sĩ, hằng ngày canh giữ vùng biển trời thiêng liêng của Tổ quốc.

Từ xa, nhà giàn như một đóa sen trên sóng nước mênh mông. Sóng là “đặc sản” của biển khơi. Sóng ập òa. Sóng thiết tha. Có lúc sóng dữ dằn, dư thừa năng lượng, quần thảo như muốn hất tung tất cả những gì nhô lên trên mặt biển. Hệ thống Nhà giàn DK1 cách đất liền hàng trăm hải lý, không có bất cứ thứ gì che chắn, nên mỗi cơn cuồng phong đều trở thành thử thách khắc nghiệt đối với những người lính. Đại tá Phạm Tiến Dũng, Phó Tham mưu trưởng Vùng 2 Hải quân (Bộ Tư lệnh Hải quân), Trưởng Đoàn công tác số 1, dõi mắt ra khơi xa, nói: “Mùa này đi biển, bảy phần sóng lớn, ba phần sóng nhẹ. Hy vọng chúng ta lên được tất cả các nhà giàn để anh em phóng viên lần đầu đi có thêm trải nghiệm. Công việc và sự hy sinh của ‘lính nhà giàn’ trong điều kiện khắc nghiệt, là minh chứng rõ nét nhất cho lòng quả cảm, bản lĩnh thép của lính Hải quân Việt Nam - những cột mốc sống giữa biển khơi…”

Lời chia sẻ của Đại tá Phạm Tiến Dũng mở ra rất nhiều câu chuyện. Đó là quá trình xây dựng nhà giàn, sự phát triển của các “thế hệ” nhà giàn, tầm nhìn chiến lược và lòng kiên trì bảo vệ vững chắc vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, hậu phương người lính, tình quân dân nơi đầu sóng ngọn gió...

Nhà giàn DK1 - Khúc tráng ca trên biển
Nhà giàn DK1/15

*

Theo Bộ Tư lệnh vùng 2 Hải quân, vùng biển rộng lớn mà hệ thống Nhà giàn DK1 “đóng quân” có diện tích khoảng 80.000km2, là khu vực đặc biệt quan trọng về An ninh - Quốc phòng, giàu có về tài nguyên, án ngữ trên đường hàng hải quốc tế qua Biển Đông. Sau sự kiện Gạc Ma (14/3/1988), Bộ Quốc phòng nhận định rằng, nước ngoài sẽ bành trướng sang các đảo khác ở Trường Sa và có thể nhòm ngó sang các khu vực khác, nhất là thềm lục địa phía nam, cách đất liền 250-350 hải lý, nơi Việt Nam đang tiến hành khai thác dầu khí. Theo đề nghị của Tư lệnh Hải quân và Bộ Quốc phòng, ngày 17/10/1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã ký Quyết định số 19/NQ-TW chủ trương tiến hành xây dựng các công trình trên các bãi đá ngầm với tên gọi “Trạm dịch vụ Kinh tế - Khoa học - Dịch vụ”, gọi tắt là công trình DK1.

Hiện nay, một số lãnh đạo, kỹ sư, những người thiết kế, xây dựng nhà giàn “đời đầu” vẫn còn sống và nhớ rõ ký ức về một thời oanh liệt, giai đoạn đặt nền móng cho những cột mốc chủ quyền thiêng liêng trên biển. Như Đại tá Nguyễn Quý, nguyên Cục trưởng Cục kỹ thuật, Bộ Tư lệnh Công Binh, nguyên Trưởng Ban xây dựng DK1 (giai đoạn 1990-1996); ông Ngô Thường San, nguyên Phó Tổng giám đốc Vietsovpetro; kỹ sư Đặng Hữu Quý ở Viện Nghiên cứu Khoa học & Thiết kế dầu khí biển… Để hiểu rõ hơn về lịch sử xây dựng nhà giàn, tôi đã đến xin gặp Đại tá Nguyễn Quý, được ông kể lại những câu chuyện vô cùng xúc động, thể hiện ý chí và tinh thần quyết tâm cao độ của Đảng, Nhà nước, quân đội ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

*

Trước hải trình này, tôi đã may mắn được gặp Đại tá Nguyễn Quý tại Hà Nội, người được giao làm Tổng chỉ huy các lực lượng thiết kế, sản xuất, thi công 4 thượng tầng nhà giàn. Ông Quý (sinh năm 1933), năm nay đã 93 tuổi, nhưng còn minh mẫn, giọng nói ấm, khỏe khoắn và bắt tay thật chặt. Ông chia sẻ: Trong quá trình triển khai xây dựng ba nhà giàn đầu tiên, Liên doanh dầu khí Vietsovpetro được giao làm hai chân đế theo kiểu móng cọc (chân đế giàn khoan), còn Viện Nghiên cứu Khoa học & Thiết kế dầu khí biển (Bộ Giao thông vận tải) làm 2 chân đế theo kiểu pông tông (đánh chìm sà lan và bơm bê tông vào, nguyên tắc này trong kỹ thuật gọi là móng trọng lực kiểu con lật đật). Nhà nước giao Bộ Tư lệnh Công binh thi công phần thượng tầng (phần nhà nổi trên mặt nước).

Đại tá Nguyễn Quý, kể: Ngày 31/7/1989, tại Lữ đoàn 171, Ban chỉ đạo xây dựng Nhà giàn DK1 họp rút kinh nghiệm. Sau đó, ngày 26/2/1990, tôi được giao Tổng chỉ huy các lực lượng thiết kế, sản xuất, thi công 4 thượng tầng và trang bị vũ khí, trang thiết bị theo biên chế. Chủ trì thiết kế là Viện kỹ thuật Công binh, chủ trì sản xuất là Nhà máy X49.

Khi hỏi về cảm xúc lúc đó, Đại tá Nguyễn Quý bồi hồi: “Chúng tôi mừng lắm. Ở một nơi sóng gió, sự sống và cái chết cách nhau trong gang tấc như thế mà hoàn thành công trình để đời cho Tổ quốc, cắm mốc chủ quyền của đất nước, trên một khu vực có tiềm năng rất lớn về kinh tế biển cả và kinh tế dầu khí là thành công lớn.” Song, để công trình bền vững trước sóng gió, ngoài việc cung cấp số liệu khí tượng hải văn chính xác, theo Đại tá Nguyễn Quý, cần có sự khảo sát diện mạo mặt bằng đáy biển nơi dự kiến xây dựng công trình để chọn vị trí thuận lợi nhất, tiến hành khoan địa chất để thiết kế chân đế và cọc phù hợp. “Thời điểm đó, ta đã lắp dựng được 3 công trình nhưng từ thực tế đã bộc lộ hạn chế, chân đế có nguy cơ không trụ vững nên cần có phương án gia cố, gia cường”, ông Quý nhớ lại.

Xúc động khi nhắc lại chuyện năm xưa, Đại tá Nguyễn Quý hào hứng kể, ông đã trực tiếp cùng anh em thi công từ nhà giàn đầu tiên cho đến nhà giàn thứ 16, năm 1996, ông nghỉ hưu. Nhìn lại lịch sử, ông luôn nghĩ rằng, Đảng và Chính phủ đã hết sức sáng suốt trong chủ trương xây dựng các nhà giàn ở khu vực DK1. Những công trình ở đó chính là những cột mốc chủ quyền khẳng định, đây là vùng biển hoàn toàn thuộc về Việt Nam.

Những công trình đầu tiên khi thi công trên biển được chia thành 6 mô-đun, sau này việc tổ hợp lại thành 3 mô-đun chính (cọc, chân đế và thượng tầng) đã giảm đáng kể số ngày thi công trên biển. Về hình thức, các công trình DK1 tương tự như các công trình bằng thép cố định mà nhiều quốc gia xây dựng trên biển dùng trong khai thác dầu khí. Với những đóng góp về thiết kế, thi công các nhà giàn, Nhà nước đã tặng thưởng cho Liên doanh Vietsovpetro và Ban DK1 Huân chương chiến công hạng Nhất vào năm 1995. Năm 2012, công trình DK1 được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ. Năm 2015, Ban quản lý dự án công trình DK1 được đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhà giàn DK1 - Khúc tráng ca trên biển
Chiến sĩ Nhà giàn DK1/12 đón khách.

*

Trong giai đoạn đầu, người lính làm nhiệm vụ ở nhà giàn DK1 trải qua vô vàn khó khăn, trong điều kiện thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Thiếu nhiều nhất là nước ngọt và rau xanh. Những người lính hải quân, trong đó có những người còn rất trẻ ở các nhà giàn bám trụ trên biển từ 8-12 tháng. Cũng có khi do yêu cầu nhiệm vụ họ phải ở hơn 20 tháng mới vào đất liền. Tàu cấp hàng phải theo kế hoạch mới đưa đến được. Nhưng có những đợt sóng to gió lớn, việc cấp hàng bị chậm và cán bộ, chiến sĩ phải chờ đợi.

Trước đây, nếu không ra nhà giàn, nhiều người sẽ không tưởng tượng nổi cảnh tắm táp của các chiến sĩ. Các anh phải tắm kiểu trẻ con để tiết kiệm từng lít nước cho sinh hoạt và tưới rau. Mùa mưa, các anh có thể được tắm thoải mái một chút, nhưng mùa khô, 3 đến 4 ngày mới tắm giặt một lần. Khó khăn là vậy nhưng anh em vẫn trụ vững. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước, đời sống vật chất tinh thần cán bộ, chiến sĩ đã được nâng lên rất nhiều. Điều đó càng làm cho những người lính nhà giàn DK1 càng thêm vững tin chắc tay súng quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, giúp đỡ ngư dân trên biển...

Trong hải trình này, Đoàn công tác số 1, tàu Trường Sa 01 đã làm lễ truy điệu các cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh. Tàu gióng ba hồi còi ngân vang trên sóng nước. Tiếng nhạc trầm hùng. Trong giây phút thiêng liêng, tĩnh lặng giữa trùng khơi, các đại biểu đã thắp nén nhang, tưởng nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ nhà giàn. Những con hạc giấy tượng trưng cho hòa bình, niềm hy vọng và những cành hoa cúc thắm tươi như nắng xuân tượng trưng cho sự tri ân, được thả xuống biển, như lời thầm thì thương nhớ.

Chúng ta không thể nào quên, đêm 4/12/1990 bão đổ về. Từng đợt sóng cao 14 đến 15 mét đánh lên làm nhà giàn DK1/3 nghiêng ngả. Giữa đêm tối mịt mù, cán bộ, chiến sĩ chuẩn bị phao cứu sinh, đồ ăn, nước uống để sẵn sàng lao xuống biển khi nhà giàn đổ. Lúc đó áo phao chỉ có 5 chiếc, mà có đến 8 người trực. Trung úy Bùi Xuân Bổng, Chỉ huy trưởng nhà giàn và Trung úy Nguyễn Hữu Quảng, Phó Chỉ huy trưởng đã nhường áo phao cho anh em. Lúc 2 giờ sáng, một cơn sóng lớn hất đổ nhà giàn. Trung úy Bùi Xuân Bổng đã may mắn bám vào một mảnh phao bè. Lúc sau, hai nhân viên cũng bơi đến cùng bám vào mảnh phao bè. Suốt ngày hôm sau các anh vật lộn với sóng nước. Phải đến 19 giờ ngày 5/12, tàu mới ra cứu được 5 người. Ba cán bộ, nhân viên của nhà giàn đã vĩnh viễn ở lại lòng biển sâu đó là Trung úy Nguyễn Hữu Quảng, y sĩ Trần Văn Là, nhân viên cơ điện Hồ Văn Hiền.

Chúng ta ngậm ngùi nhớ lại, ngày 13/12/1998, bão Faith giật cấp 13 quần thảo kinh hoàng, khiến các nhà giàn trong khu vực run rẩy. Đại tá Lại Thế Công, Phòng Chính trị Vùng 2 Hải quân, xúc động đọc điếu văn tưởng nhớ: Ngày 13/12/1998, bão Faith quét vào thềm lục địa phía nam, những bức tường nước cao hàng chục mét đập thẳng vào nhà giàn DK1/6. Giữa biển động mịt mù, cán bộ, chiến sĩ nhà giàn DK1/6 vẫn kiên cường bám trụ, chống chọi thiên tai khắc nghiệt… Bão tan, sau ba ngày lênh đênh tìm kiếm trong điều kiện vô cùng nguy hiểm, cán bộ, chiến sĩ tàu HQ 606 đã tiếp cận được hiện trường và cứu sáu cán bộ, chiến sĩ còn sống sau 14 giờ bám vào phao bè, lênh đênh trên biển. Ba đồng đội đã mãi mãi nằm lại biển khơi. Tinh thần của ba liệt sĩ Vũ Quang Chương, Lê Đức Hồng và Nguyễn Văn An đã trở thành biểu tượng của tinh thần quả cảm, làm nên bản lĩnh “không rời trận địa” của các thế hệ “lính nhà giàn”. Linh hồn các anh vẫn neo lại nơi đây, chở che cho những con tàu vươn khơi mạnh mẽ, để các nhà giàn luôn vững chãi giữa trùng khơi…

Tối ấy, đàn cá heo bơi hai bên mạn tàu và ngay phía trước mũi tàu, như để cùng dự lễ tưởng niệm, gợi trong tôi một điều, có những sự hy sinh sẽ thành bất tử, có những câu chuyện lay động đến cả mỗi con sóng, mỗi sinh linh ngoài biển khơi.

Từ năm 2012, nhà nước đã giao ngành dầu khí đầu tư nâng cấp, sửa chữa các nhà giàn. Với công nghệ tiên tiến, nhà giàn thế hệ thứ ba có kết cấu liên hoàn theo mẫu giàn khoan nước sâu, rộng và cao gấp nhiều lần so với nhà giàn cũ. Không những thế, các nhà giàn mới đặc biệt kiên cố, chịu được sóng gió cấp 11-12; được lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời hiện đại hơn, két chứa nước gấp nhiều lần nhà cũ, lắp đặt hệ thống hải đăng... Các con tàu cấp hàng lớn hơn được sử dụng, nhưng đôi khi phải “cấp qua dây”. Một sợi dây từ nhà giàn, đầu buộc phao được thả xuống biển, xuồng từ tàu ra kéo phao vào, buộc hàng (đã được đóng gói cẩn thận) để các chiến sĩ ở nhà giàn kéo lên. Cũng có khi dùng cách “vũ điệu của sóng”. Vũ điệu của sóng là cách nói cường điệu của chiến sĩ khi dùng ròng rọc đưa người - hàng từ tàu lên nhà giàn hoặc từ nhà giàn xuống tàu. Những con tàu trực và cán bộ, chiến sĩ nhà giàn vì thế mà như tay với chân. Tình thân như ruột thịt.

Trong hệ thống, nhà giàn DK1/10 (đóng trên khu vực bãi cạn Cà Mau) là nhà giàn khá đặc biệt. Nơi đây khí hậu khô nóng quanh năm do ảnh hưởng liên tục bởi gió chướng và gió mùa Tây Nam. Cán bộ, chiến sĩ nhà giàn DK1/10 hồ hởi, nhiệt tình đón đoàn bằng “đường hàng không” (đu dây). Thiếu tá Mai Trường Vinh, Chỉ huy trưởng nhà giàn DK1/10 nắm tay tôi thật chặt. Anh chia sẻ: “Nơi đây biển luôn động, sóng cao hơn sáu mét, nhưng anh em vẫn kiên cường bám trụ.” Tôi hỏi: “Đồng chí à, thế anh em phối hợp với nhau thế nào?” Anh Vinh trả lời: “Chúng tôi sống với nhau, ngoài tình đồng đội, còn là tình anh em. Giữa mênh mông sóng nước, mỗi người phải rèn luyện ý chí, sức khỏe, công tác sẵn sàng chiến đấu, khả năng cơ động, hiệp đồng giữa các bộ phận trong mọi điều kiện thời tiết. Chúng tôi làm nhiệm vụ ở vùng lãnh hải giáp ranh của ba nước Việt Nam, Philippines và Malaysia, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Do đó, cán bộ, chiến sĩ đơn vị luôn ý thức về trách nhiệm được giao, thực hiện nghiêm ứng trực, nêu cao tinh thần cảnh giác, nắm bắt tình hình. Chúng tôi làm việc với phương châm ‘giỏi việc mình, biết và làm tốt việc người khác’. Nhờ thế, khi có tình huống xảy ra, bảo đảm ai cũng có thể thay thế được vị trí của người khác.”

Và đây nữa, Đại úy Trần Văn Lực, Chính trị viên nhà giàn DK1/10, là chồng của chị Trần Thị Liên, người đã mang con ra cảng tiễn đoàn vào hôm bắt đầu hải trình. Anh Lực còn rất trẻ, đẹp giai, đúng là “môn đăng hộ đối” vì chị Liên cũng rất đẹp. Song, “khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau”. Anh Lực bảo, với người lính hải quân, hậu phương phải thật vững để chuyên tâm làm nhiệm vụ. Vì thế, mỗi người đều có cách quan tâm riêng đến gia đình, nhất là cách động viên vợ - người đã thay chồng gánh vác những việc nặng nhọc. Trong điều kiện khắc nghiệt, anh em vẫn tăng gia sản xuất, trồng rau, câu cá để cải thiện bữa ăn.

Nhìn “ruộng rau” mơn mởn, xanh ngắt trên nhà giàn, tôi nghĩ rằng, những hình ảnh này không chỉ là biểu hiện sức sống mãnh liệt của cỏ cây hoa lá nơi khí hậu khắc nghiệt, mà khẳng định tinh thần làm chủ cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ nhà giàn nơi đầu sóng ngọn gió. Những ngày xuân, những bồn rau xanh được làm “nền” để các chiến sĩ chụp ảnh, gửi tặng người thân yêu của mình trên facebook, những người đã gác lại những tình cảm riêng tư, gác lại bao hoài bão, khát vọng lớn lao của tuổi trẻ để có mặt, làm nhiệm vụ trên các nhà giàn thuộc thềm lục địa phía Nam.

*

Tàu rời khu vực nhà giàn DK1/10 để hướng về Đặc khu Côn Đảo. Tôi lại thêm háo hức, vì Côn Đảo là nơi có nhiều bài học về tinh thần bồi đắp thêm bản lĩnh chính trị, niềm tin, lý tưởng sống đẹp, có trách nhiệm cho các thế hệ người Việt Nam. Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ thăm, chúc Tết, tặng quà cho các cán bộ, chiến sĩ nhà giàn, tàu trực, và cơ quan dân chính Đảng, lực lượng vũ trang Đặc khu Côn Đảo nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Đại tá Phạm Tiến Dũng bảo rằng, các thành viên trong đoàn đã là những sứ giả mang theo hương vị mùa xuân, mang theo tình cảm ấm áp, sự quan tâm sâu sắc và sự tri ân của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tới các chiến sĩ và đồng bào ta nơi nhà giàn, đảo xa. Mỗi món quà Tết, mỗi lời thăm hỏi, mỗi cái bắt tay sẽ tiếp thêm sức mạnh, củng cố thêm ý chí, sưởi ấm thêm trái tim những người lính đảo trong những ngày Tết đến xuân về. Thả lòng mình với biển, ông thì thầm câu hát: “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên/ Cơn bão chưa ngưng trong tâm hồn biết bao người…” Câu hát của ông làm lòng những người có mặt thắt lại. Biển trào lên cuộn sóng. Tôi hiểu tâm trạng của ông, một con người nhiều năm gắn bó với biển, quen với cuồng phong bão giật đang muốn nói rất nhiều điều. Ông hẹn chúng tôi về những hải trình sắp tới.

Có câu nói “người ta là hoa của đất”. Những người xây dựng nhà giàn như ông Quý, như bao thế hệ lính nhà giàn, là những chiến binh thép, tinh thần thép. Họ đã viết khúc tráng ca của biển bằng tinh thần tận hiến của mình. Nơi đó, mỗi chiến sĩ luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của cha anh đi trước: “Bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn, nhưng không thể bẻ cong ý chí người lính DK1.” Và chúng tôi hào hứng lại cất lên bài khát, một khúc tráng ca âm vang, để tri ân: “Bao người con trai kiêu hùng cùng nhau tách bến/ Ra khơi mênh mông sóng to gió mưa không sờn/ Ta là chiến sĩ của trùng dương muôn sức sống/ Hiên ngang ra khơi giữ vững cõi bờ Việt Nam…” Tôi đã đọc tặng các chiến sĩ, các thành viên trong đoàn những bài thơ, tản văn mình viết trong 15 ngày lênh đênh trên biển, và thấy mình viết mãi cũng không đủ. Song tôi biết, mình đã được nhận lại rất nhiều.

Nhà giàn DK1 - Khúc tráng ca trên biển
Lên thăm Nhà giàn bằng hình thức đu dây.

Mơ - Thơ Nguyễn Chí Hoan

Mơ - Thơ Nguyễn Chí Hoan

Baovannghe.vn- Mỏng manh và nóng bừng/ Trong mơ anh thấy em một cây sậy biết nói
Hạc trời - Thơ Hải Đường

Hạc trời - Thơ Hải Đường

Baovannghe.vn- Gió rỗng trời/ sao tiếng sáo mắc sông/ sao cánh diều mắc núi
Cuộc đời hạnh phúc và ám ảnh của các nhà văn

Cuộc đời hạnh phúc và ám ảnh của các nhà văn

Baovannghe.vn - Bộ phim truyền hình Notes from last row (tên tiếng Việt: Những ghi chú từ hàng cuối) của biên kịch Jang Myung-woo và đạo diễn Kim Gyu-tae, với sự tham gia diễn xuất của “quái kiệt” Choi Min-sik và tài năng trẻ Choi Hyun-wook vừa lên sóng Netflix.
Chiến lược phát triển nhà ở cho thuê

Chiến lược phát triển nhà ở cho thuê

Baovannghe.vn - Nhà ở cho thuê được xác định là phân khúc chiến lược dài hạn, phục vụ đông đảo người dân, đặc biệt là công nhân, người lao động, sinh viên, cán bộ, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc gặp gỡ lực lượng làm nhiệm vụ tại công viên Lê Thị Riêng

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc gặp gỡ lực lượng làm nhiệm vụ tại công viên Lê Thị Riêng

Baovannghe.vn - Chiều 17/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đến thăm, động viên và có bài phát biểu với các lực lượng đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, TP Hồ Chí Minh. Văn nghệ trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: