Nhưng khi lớn rồi, nhất là khi, bước vào tuổi trung niên, mọi câu chuyện đều tựa như là cơ hội thẩm lại các kinh nghiệm xưa, dù đã học nhiều bài học nhưng lời giải cuối cùng vẫn cứ chờ đâu đó.
1. Xui khiến thế nào mà từ khi còn nhỏ, tôi đã hay gặp người già. Một phần là do bố tôi sinh ra tôi năm ông 43 tuổi, khoảng cách tuổi khá xa. Vì thế những người bác hay bậc trên của bố mẹ tôi cũng toàn hơn tuổi tôi cả nửa thế kỉ. Khi tôi bắt đầu lớn thì một thế giới người già đã ở đó sẵn.
Nhưng một lí do chính có lẽ là tôi đã sớm sống trong thế giới mà kinh nghiệm sống quyết định sự thành bại của đời người. Những bài học, những thất bát cũng là thứ thường trực có mặt trong những lời chỉ bảo của người lớn. Cho đến đầu những năm chín mươi, cuộc sống dù ở đô thị như Hà Nội vẫn mang đậm nét cộng đồng, dù là phố phường hay ngõ xóm hoặc khu tập thể. Do điều kiện vật chất, nơi ăn chốn ở chật hẹp, không gian sinh hoạt thường được chia sẻ giữa các thế hệ. Sự gối đầu lên nhau của các thế hệ là một đặc điểm khiến cho sự ảnh hưởng của lớp trước đến lớp sau đã hình thành từ nhỏ.
Thế giới của người già luôn bắt đầu từ sự so sánh, không hẳn là ôn cố tri tân mà là một sự vận dụng điều đã qua để chống chọi với thực tại. Thời bao cấp, đấy là câu chuyện triền miên về cái khổ, cái lỡ dở, cái không toại nguyện của số phận con người chịu đựng muôn nỗi nhọc nhằn. Nhà tôi ở Hà Nội cũng như một cái trạm đón các cô dì chú bác ở quê ra, đều luôn là câu chuyện sống động về kinh nghiệm. Nhưng dần dà, khi đã muốn “tự lập” hơn, kiểu Dế Mèn phiêu lưu kí (“Tôi sống độc lập từ thuở bé” - ấy là câu đầu tiên của câu chuyện nổi tiếng của Tô Hoài), tôi thấy các câu chuyện kinh nghiệm giống một sự đào đi xới lại khá nhàm chán và lắm khi giống như mình đang phải rút kinh nghiệm cho những thứ xôi hỏng bỏng không của các thế hệ trước. Lâu dần, những sự mất mát của người già trong quá khứ khi được kể đi kể lại tạo ra một vết thương giả trong kí ức.
2. Khoảng cách thế hệ là gì? Không hiểu sao có những chi tiết bé tí hồi còn nhỏ tôi cứ nhớ. Chẳng có sức nặng gì nhưng cứ vẩn vơ nhớ thôi. Đọc một cuốn sách nhắc đến những nơi chốn, xem một bộ phim kể về quá khứ, tôi hay nhớ các câu chuyện về kinh nghiệm của bố mẹ tôi.
Hồi nhỏ, tôi rất say mê xem bản đồ. Hồi ấy có quả địa cầu nhựa của CHDC Đức in cho Việt Nam, in trên nhựa nên sắc nét và màu đẹp, chứ không phải loại địa cầu dán giấy của công ty sách và thiết bị trường học trong nước. Quả địa cầu này là địa cầu tự nhiên, có tên các đỉnh núi, con sông và những hòn đảo tên lạ lẫm, như đảo Hoàng tử Edward, hồ Muối Lớn, đảo Thuyền trưởng Cúc... Địa danh lẫn lộn phiên âm với không phiên âm nên các cái tên khó đọc. Nhưng nó là cả một thế giới đúng nghĩa đen để trí óc tôi phiêu lưu, như con dế mèn du ngoạn khắp thế gian.
Có lần, bố tôi có khách. Bác này già hơn bố, có vẻ là người làm nghề giáo. Bố tôi liền khoe “con tôi thuộc bản đồ thế giới”, tôi hồi hộp đợi hỏi thủ đô nước này là gì, nước kia ra sao. Bác hỏi: Đồng bằng Lưỡng Hà ở đâu?
Tôi chịu chết, mình có biết sông Tigris và Euphrates (địa cầu ghi Tigrơ và Ơphrat) ở đâu đó quãng cạnh bán đảo Ả Rập và đổ ra vịnh Péc-xích (lúc đấy có biết chính là vịnh Ba Tư đâu) nhưng không thể ngờ “lưỡng hà” nghĩa là hai sông và hai sông là sông nào? Chẳng lẽ Hoàng Hà và Trường Giang? Thế là tan màn biểu diễn trò giỏi.
Sau này khi đã trưởng thành, tôi ngẫm lại, quả thực cải cách giáo dục hoặc các phương tiện học tập đã làm gián đoạn thế hệ. Nhiều địa danh, cách gọi của thời các cụ (thừa hưởng từ thời Pháp) đã thay đổi vào thập niên 1980 khi nỗ lực phiên âm kiểu mới (thay vì giữ cách gọi Hán Việt hoặc ghi chuyển tự Latinh hoặc tiếng Anh) đã làm thế hệ sau không biết thế hệ trước đã học đã làm cái họ đang làm, như thể một người Pháp làm ra giấy mà không biết người Trung Quốc đã làm ra rồi.
Nhưng có một điều quan trọng hơn, bác đó hỏi vậy vì nó là một kiến thức cơ bản về lịch sử và địa lí - Lưỡng Hà là một cái nôi văn minh được đề cập trong sách giáo khoa phổ thông thế giới - nó là một cái gốc để dẫn đến những kiến thức nhỏ hơn trong sơ đồ tư duy trường quy. Chắc sách Việt Nam tôi học cũng có nhưng hình như được nhắc rất mờ nhạt hoặc là chúng tôi học theo kiểu học vẹt, hai con sông nổi tiếng kia học mà có biết nó có ý nghĩa gì trong lịch sử hay địa lí đâu.
Rồi tôi nghĩ bác đó tên là gì. Chắc bác cũng chẳng còn sống, bố tôi cũng mất hơn mười năm rồi. Mà kí ức này tôi không thể hỏi ai. Ai mà nhớ một ông già đã hỏi mình Lưỡng Hà ở đâu. Tuy nhiên tôi vẫn láng máng nhớ đó là một buổi chiều chủ nhật, đang chơi ở cái sân ngôi nhà hồi còn một tầng, cột gỗ xoan mái ngói, nền nhà đất nện, có những hạt trám bổ đôi đã moi hết nhân đóng xuống... Bố tôi tiếp khách ở một cái mễ (cái phản kê trên hai cái “ngựa”, là hai cặp chân gỗ) hay một cái bàn cắt quần áo (hồi ấy nhà tôi may quần áo gia công cho xí nghiệp may của mẹ tôi...).
Tôi nghĩ từ góc độ lịch sử tri thức. Có khi nào đó là hệ quả của giáo dục “khai sáng” của người Pháp từ thời quan tâm các cương vực, lãnh thổ và địa danh trong quá trình thực dân, mà bỏ qua các yếu tố văn hóa, xã hội, chủng tộc bản địa không? Có một sự kế thừa nhất định từ cách mô tả xã hội và quan hệ con người diễn ra trong quá trình giải trừ thực dân, ngay cả cách tư duy về các chế độ chính trị nhà nước vẫn là tập trung hóa. Bảo tàng Lịch sử có cái vỏ là tòa nhà bảo tàng của Trường Viễn Đông Bác Cổ, mà ruột cũng kế thừa cách thức trưng bày cũ, tạo ra cảm thức “sử địa diễn cảm” khá quyến rũ nếu là một học trò ngoan.
Những bài thơ hồi nhỏ tôi đọc mà còn nhớ cũng chính là những bài thơ có nhiều địa danh. Đọc thơ Trần Mai Ninh tôi biết “Trăng nghiêng trên sông Trà Khúc... Mây lồng và nước réo. Nắng bột chen dừa Tam Quan”, đọc thơ Tố Hữu tôi nhớ “Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Và đọc Cửu Long Giang ta ơi của Nguyên Hồng, tôi say mê “Chín nhánh phù sa Mê Kông nổi váng”. Nó kết nối với Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, chẳng hạn thế, làm nên một tấm bản đồ trong tâm trí, có nhạc tính và vần điệu thi ca.
Sau này tôi nhận ra bài thơ Cửu Long Giang ta ơi dù mang tinh thần giải thực dân vào thời điểm năm 1955 nhưng mang hình hài một sản phẩm hậu thuộc địa, dẫu không chủ ý, các địa danh nhấn nhá rất có không khí chinh phục:
Ngày xưa ta đi học
Mười tuổi thơ nghe gió thổi mùa thu
Mắt ngẩng lên trông bản đồ rực rỡ
Như đồng hoa bỗng gặp một đêm mơ
Bản đồ mới tường vôi cũng mới
Thầy giáo lớn sao, thước bảng cũng lớn sao
Gậy thần tiên và cánh tay đạo sĩ
Ðưa ta đi sông núi tuyệt vời
Tim đập mạnh hồn ngây không sao hiểu
Mê Kông sông dài hơn hai ngàn cây số
mông mênh
Nguồn tự Trung Hoa có Vạn Lý Trường Thành
Có Hy Mã Lạp Sơn, Ðộng Ðình Hồ, Tây Du,
Thủy Hử
Mê Kông chảy
Cây lao đá đổ
Ngẫm nghĩ voi đi
Thác Khôn cười trắng xoá
Lan hoang dứa mật thông nhựa lên hương
Những trưa hè ngun ngút nắng Trường Sơn
Rừng Lào - Miên rộng quá
Dân Lào - Miên mến yêu...
Xôi nếp nước trong sẵn sàng chia bạn đói.
Ta đi... bản đồ không còn nhìn nữa...
Sáng trời thu lại còn bướm với trời xanh
Trúc đào tươi chim khuyên rỉa cánh sương
đọng long lanh
Ta cởi áo lội dòng sông ta hát
Mê Kông chảy Mê Kông cũng hát
Nguyên Hồng có lẽ cũng chưa đi dọc sông Mê Kông như thế, nhưng trí tưởng tượng của ông được phóng chiếu từ bài học địa lí, từ mĩ cảm về một xứ sở đã được huyền thoại hóa. Đấy chính là một loại kinh nghiệm được trao truyền từ một người già: “Ta đã lớn/ Thầy giáo già đã khuất/ Thước bản to nay thành cán cờ sao”. Khi nghĩ về điều này, tôi nhớ đến ông bác kia đã đến chơi nhà tôi. Ông thuộc về một quá khứ mà tôi không có được cơ hội đào xới thêm trực tiếp, biết đâu tâm hồn ông sẽ như Nguyên Hồng, có cái dào dạt của thế hệ “mắt ngẩng lên trông bản đồ rực rỡ”.
3. Nhưng kể cả có cơ hội, tôi cũng đã bỏ qua. Đó là trường hợp mẹ tôi. Mẹ tôi là một người rất tin tưởng ở kinh nghiệm. Mỗi bữa cơm là một dịp để một câu chuyện về kinh nghiệm được kể ra. Chuyện đi lễ để giải hạn cho tôi, chuyện bố tôi đã đi miền Nam thế nào và chỉ mang về mỗi một cái quạt bàn của Nhật và một cái quạt tai voi. Hồi sau giải phóng, ai có cơ hội đi vào Sài Gòn là cũng sẽ cố gắng mua một vài món đồ hữu dụng. Vậy mà chỉ có hai cái quạt. Nghe không được nhiều nhặn cho lắm. Tất nhiên là kinh nghiệm không vui.
Trước khi gặp bố tôi, mẹ tôi đã từng có thời tuổi trẻ đi làm công nhân xây dựng nhà máy thủy điện Nước Hai ở Hòa An. Mẹ kể nhiều lần về quãng đời này, khi một cô gái ngoại thành Hà Nội đi lên miền núi, chẳng biết có phải trong phong trào vận động kiểu “nổi trống lên rừng núi ơi” hồi đó không? Bà kể đã học được nhiều câu tiếng Tày từ một bà mế, rồi nhờ bà mế ấy chữa một căn bệnh phụ nữ kiểu như khó sinh. Mẹ đã nhiều dịp cứ nói với lũ con là chị em chúng tôi, mà chắc chẳng đứa nào để lọt tai cả. Lúc ấy tôi không bận tâm đến câu chuyện ấy, chỉ vì mẹ tôi kể nhiều lần quá.
Độ mười mấy năm trước, tôi chuẩn bị đi Cao Bằng, kiểu đi “phượt”. Tối trước hôm tôi đi chơi, mẹ có đưa một tờ giấy, bảo: “Mẹ nhờ con tìm đến cái bản ấy, tìm xem bà mế ấy còn sống không, hay là còn con cháu không. Mẹ muốn cảm ơn vì có bà ấy mà mẹ mới có các con.” Tôi ừ hữ, xem qua tờ giấy đặc những con chữ to cồ cộ. Tôi đi theo một nhóm đi về phía Bản Giốc nên khác tuyến đường đi về Hòa An, bởi vậy cũng khó lòng mà có thời gian để đi tìm lại liên lạc đó. Chuyến đi từ Bản Giốc qua Trùng Khánh về theo đường số 4 qua Lạng Sơn hồi ấy rất vất vả, con đường đang làm khiến chuyến xe xóc nhảy chồm chồm. Trong màn đêm miền biên viễn tôi hi vọng nhìn thấy những đèo Bông Lau, Thất Khê, Lùng Vài… lừng danh trong thời chống Pháp nhưng không thể chống cự được cơn buồn ngủ.
Khi về, mẹ tôi cũng không nói gì khi biết tôi không đi đến Nước Hai. Vả lại sau đó tôi đã đi cùng mẹ tôi nhiều chuyến du lịch khác. Cho đến sau khi mẹ tôi qua đời trong năm Covid-19 bùng phát, tôi tìm thấy tờ giấy năm xưa mẹ tôi viết. Trời ơi lời lẽ của mẹ tôi thật thống thiết và đầy cầu mong. Tâm trạng tôi như một miếng xốp ngấm một sự thật là mình đã bỏ lỡ một chuyến đi có lẽ rất ý nghĩa với mẹ tôi. Cũng có khi, nhiều ý nghĩa với tôi nữa.
Khi lớn rồi, bước vào tuổi trung niên, mọi câu chuyện đều tựa như là cơ hội thẩm lại các câu chuyện kinh nghiệm xưa. Tôi đã học nhiều bài học nhưng tôi nhận ra lời giải cuối cùng vẫn cứ chờ đâu đó. Chỉ có điều, những nhân vật của các câu chuyện kinh nghiệm đã và đang dần khuất. “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu. Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” (Bếp lửa - Bằng Việt). Ở đâu còn một người sẽ hỏi tôi về Lưỡng Hà, và tôi sẽ có sự ngỡ ngàng pha lẫn xấu hổ thơ ngây ấy?
![]() |
| Minh hoạ Lê Trí Dũng |