Xuân Bính Ngọ 2026 đang về, một mùa xuân có ý nghĩa đặc biệt, khi diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Bỗng rạo rực trong ta niềm vui, niềm mong đợi khi cả dân tộc trên đường tiến vào Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên xây dựng đất nước văn minh, hiện đại, sánh vai cùng bè bạn năm châu.
Xuân nay, mùa xuân thứ 96 kể từ ngày Đảng ta ra đời. Đảng đã cùng dân tộc đi qua một hành trình lịch sử đầy gian nan, thử thách, đầy vinh quang và hạnh phúc. Xuân của Đảng hòa trong xuân đất nước. Từ mùa xuân đầu tiên khi ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi rọi con đường giải phóng dân tộc, đến hôm nay, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu tối thượng: Nước có vững thì lòng dân mới yên, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy hạnh phúc của nhân dân là thước đo cao nhất của mọi đường lối, chính sách.
Chúng ta vừa đi qua một phần tư thế kỷ 21, một chặng đường với những biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là cách mạng số và trí tuệ nhân tạo, phát triển với tốc độ vượt ngoài mọi dự đoán. Đó là một thế giới mà rủi ro và cơ hội đan xen, thách thức và khả năng bứt phá song hành. Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu đứng ngoài dòng chảy ấy. Hội nhập quốc tế không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu khách quan của phát triển. Nhưng hội nhập như thế nào, hội nhập với tâm thế nào, lại là vấn đề thuộc về bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược của mỗi đảng cầm quyền. Chúng ta hội nhập với tinh thần chủ động, tự tin nhưng tỉnh táo, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Dòng sông Việt Nam đã hòa biển lớn. Đến nay, nước ta đã xây dựng được mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các cường quốc và trung tâm kinh tế - chính trị lớn trên thế giới, khẳng định vị thế ngày càng vững chắc trên trường quốc tế.
Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng xác định: đối ngoại, hội nhập quốc tế đặt ngang hàng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Hội nhập quốc tế, vì thế, là một nội dung hữu cơ của đổi mới. Hội nhập không chỉ là ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, mà là tham gia toàn diện vào đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học-công nghệ của thế giới. Hội nhập để học hỏi, để tiếp thu tinh hoa nhân loại, để nâng cao năng lực nội sinh, chứ không phải để phụ thuộc hay đánh mất bản sắc.
Bởi vậy, suy ngẫm về thế nước-lòng dân hôm nay là những trang mới tươi ròng trong bước đi lên của một quốc gia, dân tộc. Đó là sức mạnh thống nhất của cả nội lực và ngoại lực. Sức mạnh dời non lấp biển của nhân dân bắt nguồn từ truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc, từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến thời đại Hồ Chí Minh. Lòng dân bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, từ trí tuệ con người Việt Nam, trong đó hiền tài được coi là “nguyên khí quốc gia”. Thành lũy lòng dân hiển hiện trong uy linh thơ Nam Quốc Sơn Hà - “Sông núi nước Nam vua Nam ở”; hiển hiện trong dáng rồng bay năm thứ 10 thế kỷ 11, khi Vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long Hà Nội, “tính kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo chí dân”. Gặp khi đất nước lâm nguy, trước họa xâm lăng, gặp cơn bĩ cực về kinh tế, đã xuất hiện những hiền tài giàu lòng yêu nước và có tầm nhìn vượt thời đại. Như trường hợp Nguyễn Trường Tộ, một danh sĩ và là nhà cải cách xã hội Việt Nam, cùng các nhà canh tân đất nước vào nửa cuối thế kỷ 19 đã nguyện cùng biển thẳm non xanh, “thiết kế” lại con đường đi của dân tộc theo hướng canh tân, mở cửa.
Thế nước- lòng dân trong thế kỷ 20 sắt son thời dựng Đảng, tháng 2-1930; thời tiếng sấm Tháng Tám 1945 rung trời chuyển đất, giành chính quyền về tay công nông, lập nên Nhà nước Việt Nam mới; trong chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu; trong Đại thắng Mùa Xuân 1975, đất nước ta sạch bóng quân thù, thu non sông về một mối. Thế nước-lòng dân vững vàng sau những cơn “động đất chính trị” trên thế giới những năm cuối thập niên 80, thế kỷ 20. Lịch sử đã tìm thấy con đường đến chân lý sau những khúc quanh, những gập ghềnh bất trắc. Và nay, khi bước vào kỷ nguyên mới, chúng ta có nền tảng quý báu, có sức mạnh tích tụ từ công cuộc Đổi mới 40 năm qua. Đổi mới, một danh từ khi triết lý, một động từ khi hành động, một từ viết hoa vẫn song hành cùng những bước chân mở lối, dẫu mỗi thời mỗi khác, “thời 4.0” với vẻ đẹp hiện đại và lộng lẫy của thời đại.
Sinh thời, Bác Hồ nói một cách mộc mạc, vì sao lại nói dân là “gốc” của nước, là bởi “lực lượng của dân rất to”, rất đông, rất mạnh. Dân là “gốc” của nước bởi vì dân ta rất tốt, trong mỗi người dân đều có phẩm chất cao quý là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Của cải, sức mạnh, đạo đức, tài năng, lòng tin của nhân dân đã tạo nên “cái gốc” của nước: “Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Lòng dân được ví như “thành lũy muôn đời” vì đó là yếu tố mang tính sống còn, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc. Lòng dân yên thì thế nước vững, không kẻ thù nào có thể xâm phạm. Thế trận lòng dân hôm nay là trí tuệ, niềm tin, là kinh tế phát triển nhanh và bền vững, trong đó sự tiến bộ vượt bậc về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định. Thế nước hôm nay không chỉ được cảm nhận qua những con số tăng trưởng hay vị thế và uy tín quốc tế, mà giống như một dòng chảy đang mở rộng, mang theo khát vọng vươn xa của dân tộc. Trong kỷ nguyên đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, sức mạnh đất nước giống như ngọn gió mới, không ồn ào mà thấm sâu, nâng cánh cho trí tuệ Việt Nam bay lên. Và suy cho cùng, mọi thế đứng chỉ trở nên vững chãi khi neo mình nơi lòng dân, nơi khát vọng phát triển được chưng cất thành sức mạnh tinh thần to lớn, lâu bền.
*
Thế nước muốn vững, lòng dân muốn bền thì phải giữ vững ngọn cờ Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ “bay theo đường dân tộc đang bay”: Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Hai cột mốc 100 năm: Đến năm 2030, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành một quốc gia phát triển có thu nhập cao đã được kiến tạo, với những lộ trình, mục tiêu cụ thể, khả thi. Chủ trương nhất quán là: Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực chính. Con đường tương lai đã định hình. Vấn đề là ở chỗ, phải luôn làm chủ tình thế, xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái, thích ứng với hoàn cảnh để có thể biến nguy thành cơ.
Chợt nhớ câu thơ Tố Hữu “Lòng dân yêu Đảng như là yêu con”. Đảng cần tự đổi mới, tự chỉnh đốn ra sao để Dân ngày càng tin yêu Đảng? Một Đảng thật sự là đạo đức, văn minh là một Đảng xây dựng được văn hóa chính trị liêm chính, minh bạch, chuyên nghiệp; luật hóa các chủ trương, chính sách để “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”. Có câu “sông sâu khó lội, lòng người khó đo”. Nếu tính đếm được thì khắp thế gian này nở hoa. Nhưng dân thì biết cả, hãy lắng nghe dân, hiểu dân và học dân một cách thật sự, từ đó sẽ “thiết kế” một cơ chế để tìm đúng người thực đức, thực tài. Có một nhận xét thú vị của một nhà khoa học nhân văn: phát minh lớn nhất của loài người sau phát minh ra lửa là phát minh ra cái bánh xe. Dù gặp bao lực cản, “bánh xe” của cái thiện, của điều tốt đẹp vẫn lăn về phía trước, kéo xã hội đi lên, bỏ lại những gì cùn mòn, pha tạp. Với Đảng ta, đó chính là niềm tin bền bỉ vào con người, vào Nhân dân - nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng.
Bạn ơi, bình minh đã dậy! Hãy lắng lại hồn mình, lắng nghe tiếng mùa Xuân vẫy gọi.
![]() |
| Hình ảnh đào nở rực rỡ - một cảnh tượng thiên nhiên tuyệt đẹp, mang đến hy vọng mới và sự tươi sáng cho mùa xuân. Ảnh Trần Quỳnh Anh |