Diễn đàn lý luận

Lịch sử và mối tương quan thẩm mỹ trong tiểu thuyết "Cuộc phân tranh"

Lê Thành Nghị
Lý luận phê bình 09:00 | 19/12/2025
Baovannghe.vn - Tiểu thuyết Cuộc phân tranh của nhà văn Thiên Sơn ra mắt bạn đọc vào tháng 9 năm 2025, là cuốn thứ 2 trong loạt sách về lịch sử hiện đại Việt Nam thế kỷ 20 mà tác giả đang thực hiện.
aa

Tiếp nối quyển đầu tiên Gió bụi đầy trời viết về giai đoạn bão táp của cách mạng từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 5 năm 1946, Cuộc phân tranh tái hiện giai đoạn lịch sử 1946-1949 từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nước Pháp tháng 6 năm 1946 đến tháng 4 năm 1949 thời điểm Cựu hoàng Bảo Đại trở về nước với vai trò quốc trưởng, sau thỏa thuận với Pháp, chuẩn bị thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam, đưa đất nước vào giai đoạn khắc nghiệt đen tối trong những năm tiếp theo.

Lịch sử và mối tương quan thẩm mỹ trong tiểu thuyết
Bìa cuốn Tiểu thuyết Cuộc phân tranh

Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám từ 1946 đến 1949 là một thời kỳ xã hội phức tạp bao gồm nhiều thế lực, nhiều toan tính với những diễn biến chính trị - quân sự mau lẹ, đảo chiều liên tục, ẩn chứa nhiều khả năng, nhiều bước ngoặt liên quan đến vận mệnh của đất nước, quyết định tương lai của dân tộc. Nhân dân ta vừa mới giành lại nền độc lập tự do từ tay Phát xít Nhật, trong khi thực dân Pháp được đế quốc Mỹ và Anh đồng lõa, quay lại với ý đồ xảo quyệt nhằm vô hiệu hóa chính quyền Cách mạng, dã tâm “cướp nước ta một lần nữa”, hòng áp đặt quyền cai trị thuộc địa đã mất bằng cách dựng lên những chính quyền bù nhìn, để thâu tóm quyền lực về tay mình. Các thế lực xã hội Việt quốc, Việt cách… cũng như các phần tử xã hội khác nhân cơ hội này bước ra sân khấu chính trị với những ý đồ muốn đưa đất nước theo những toan tính khác nhau. Chính quyền Việt Minh, đứng đầu là Hồ Chí Minh như đang đứng trước những phong ba bão tố của thời cuộc. Mọi níu kéo, mọi cố gắng, mọi khôn khéo, mọi kiên nhẫn, mọi lo toan chân thành để giữ gìn hòa bình và độc lập, tự do của dân tộc của Chính phủ Hồ Chí Minh bị những tên cáo già chính trị thực dân Pháp ở Cao ủy Đông Dương chà đạp. Cuối cùng, không còn cách nào khác, cuộc kháng chiến chín năm của nhân dân ta để bảo vệ chính quyền non trẻ nổ ra, viết tiếp một trong những trang sử vẻ vang hào hùng nhất của dân tộc!

Những biến cố của giai đoạn lịch sử hiện đại này dường như chưa phai mờ trong ký ức người đương thời, đã được thể hiện trong các công trình nghiên cứu của các sử gia trong và ngoài nước. Lịch sử diễn ra một lần, có thể có những “góc nhìn” khác nhau từ những “điểm mờ”, có thể “viết lại”, nhưng không một nhà sử học nào có quyền thay đổi bản chất của những biến cố ấy. Văn học nghệ thuật cũng vậy, thuận lợi và khó khăn cũng bắt đầu từ đó. Vì cảm hứng lịch sử và cảm hứng nghệ thuật đôi khi vẫn không hoàn toàn trùng nhau, nghệ thuật đôi khi vẫn không bị ràng buộc hoàn toàn bởi một “chuẩn mực” duy nhất như lịch sử. Sự “đóng đinh” của sự kiện với vai trò là những căn cứ của thời gian và lịch sử, là những cột mốc cho “phần việc” sáng tạo văn học nghệ thuật, trong đó có lĩnh vực tiểu thuyết.

Với tiểu thuyết Cuộc phân tranh nhà văn Thiên Sơn đã bỏ nhiều công sức và tài năng cho “phần việc” ấy. Một bức tranh lịch sử hiện đại vốn trong tầm hiểu biết của mỗi người, những sự kiện tưởng như “im lìm” trong ký ức của thời gian, bỗng dưng như được làm “mới lại”, chứa đầy những bí ẩn hấp dẫn, lôi cuốn trên từng trang viết, đang muốn “đối thoại” với người đọc hôm nay. Những biến cố lịch sử, những người thật, việc thật của một thời qua ngòi bút của Thiên Sơn đang bước vào trang sách với tư cách là nhân vật văn học, bây giờ trước mắt chúng ta như một khối vuông rubic liên kết với nhau chằng chịt trên một trục chính giấu kín, được nhà tiểu thuyết xoay trở, đảo chiều liên tục, soi chiếu bởi nhiều góc độ, nhiều ánh sáng khác nhau. Và cuối cùng, dưới “lớp bụi mờ sự kiện” kia, diễn ra một cách sinh động những xung đột mang tính loại trừ lẫn nhau, những “khúc quanh” nghẹt thở của tình huống lịch sử, những toan tính chính trị mang màu sắc ý thức hệ, những tham vọng điên rồ của các phần tử cơ hội, những cam go, những khó khăn phức tạp của những người đứng mũi chịu sào bảo vệ nền Độc lập non trẻ đã trải qua.

Dắt dẫn bạn đọc vào những năm tháng đầy biến động ấy bằng sự lựa chọn với số lượng lớn những nhân vật ở “tâm bão”, Thiên Sơn như muốn bạn đọc cùng sống lại với các sự kiện và con người, cùng anh quan sát thật khách quan, rồi mỗi người tự rút ra cảm nhận của mình. Lịch sử như một khối vuông rubic với những mảng màu khác nhau, những lực lượng chính trị khác nhau, bước vào không gian nghệ thuật của tiểu thuyết, cuối cùng cũng được “sắp xếp” một cách sáng rõ, “cuộc phân tranh” cuối cùng cũng đến hồi kết thúc. Vũ đài chính trị chỉ còn hai nhân vật chính với ý thức hệ khác nhau, đối đầu một mất một còn là Việt Minh và Pháp. Như một điểm hẹn của lịch sử, khi mọi cố gắng, mọi kiên trì, mọi nỗ lực, mọi nhân nhượng để níu kéo hòa bình đã bị những kẻ hiếu chiến là thực dân Pháp trắng trợn chối bỏ, thời cuộc đã đặt lên vai Việt Minh nhiệm vụ chiến đấu để kết thúc số phận của chủ nghĩa thực dân trên đất nước Việt Nam, mở đầu cho thời kỳ giải phóng thuộc địa trên phạm vi thế giới.

Những nhân vật ở “tâm bão” kia có những người là nhân vật chính của lịch sử, và trở thành nhân vật của tiểu thuyết qua sự “sắp xếp” đầy bản lĩnh và quyền năng của người viết. Về phía Việt Minh, những đại diện cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Minh Giám… Về phía Pháp có Bidault, D’Argenlier, Sainteny, Leclerc, Pignon, Salan, Valuy, Bollaert, Moutet… Về phía Việt Nam Quốc dân Đảng có Vũ Hồng Khanh. Phía Việt nam Cách mạng Đồng minh hội có Nguyễn Hải Thần. Phía Đại Việt có Trương Tử Anh. Phía “Chính phủ Nam Kỳ tự trị” có Nguyễn Văn Thinh, Lê Văn Hoạch. Phía những người nhân danh tư tưởng quốc gia có Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Xuân, Ngô Đình Diệm, Trần Văn Hữu, Phan Văn Giáo… Và nhiều “nhân vật phụ” mờ tỏ, thấp thoáng làm tăng thêm mối quan hệ nhiều chiều của nhân vật, tăng thêm tính chân thực câu chuyện Thiên Sơn đang kể như Nam Phương Hoàng hậu, Lý Lệ Hà, Hoàng Tiểu Lan, Hồng Liên… Họ đang hoạt động trên một không gian rộng, ở một thời gian dồn dập sự kiện từ giữa năm 1946 khi Hồ Chí Minh sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau đến tháng Tư năm 1949 trước hôm Bảo Đại từ biệt Nam Phương Hoàng hậu trở về Đà Lạt chuẩn bị nhậm chức Quốc trưởng, lập ra “Chính Quốc gia Việt Nam”. Những nhân vật “người thật, việc thật” ấy qua ngòi bút của Thiên Sơn, hiện lên trước mắt chúng ta, tất cả đang đi lại, nói năng, hành động “theo cách của mỗi người” rất sống động, rất “đời thường”. Nếu Thiên Sơn thiếu đi khả năng làm chủ ngòi bút của mình, nhân vật có thể sẽ trượt theo hướng “thần tượng hóa” trở nên sơ đồ hoặc “hồ sơ hóa” cứng nhắc, hoặc ngược lại có thể bị “tầm thường hóa”. Và nếu vậy tác giả sẽ không thoát khỏi sự xu nịnh tô vẽ thần tượng, hoặc bôi nhọ hạ thấp những nhân vật lịch sử! Thiên Sơn tránh được lối mòn đó, bằng ngôn ngữ đối thoại, bằng những khoảnh khắc khắc họa nội tâm, bằng thứ ánh sáng soi rọi từ góc nhìn của người khác, kể cả góc nhìn của đối phương trước một con người, một sự việc cụ thể. Đây là nơi không gian sáng tạo không giới hạn của nhà văn, mà không một nhà viết sử nào có được.

Người đọc không còn nhận ra đâu là lịch sử, đâu là văn học, đâu là lời của nhân vật lịch sử, đâu là sự biến hóa trong ngòi bút của Thiên Sơn. Nói cách khác, cảm hứng lịch sử đang chuyển động trong cảm hứng nghệ thuật theo quy luật của cái đẹp. Lịch sử đang được nhà văn viết lại bằng ngôn ngữ nghệ thuật, bằng những thủ pháp nghệ thuật!

Trước hết, ta chú ý đến thủ pháp “soi gương”, được Thiên Sơn rất chú trọng. Đấy là cách tác giả soi chiếu một nhân vật qua cái nhìn và suy nghĩ của nhân vật khác để tạo nên sự đa dạng, phong phú của hình tượng, tạo nên những cảm suy và tầng ngữ nghĩa khác nhau.

Chẳng hạn hình ảnh nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết Hồ Chí Minh qua nhận xét của Bảo Đại: “Ông Hồ, như tôi biết là một người ôn hòa và khôn khéo. Ông ấy không muốn chiến tranh, và thực lòng muốn xây dựng bang giao với người Pháp” (tr.342). Hồ Chí Minh qua ngôn ngữ của Phan Kích Nam, đại biểu cấp cao của Quốc dân đảng: “Ông Hồ đang ở Paris đối mặt với bầy sói muốn làm thịt ông ta” (tr.74). Hồ Chí Minh qua lời của Dier Michel nói với ngài Cao ủy Bollaert: “Hồ Chí Minh là người khôn ngoan. Ông ấy có nhiều bạn là các nhân vật quan trọng trong chính giới Paris…” (tr.340). Hồ Chí Minh qua lời của D’Argenlier nói với đồng sự Cedile: “Giờ là lúc làm cho những kẻ ảo tưởng ở Paris choàng tỉnh khỏi một giấc mộng. Hãy cho họ biết, Hồ Chí Minh dù có tài ăn nói khéo léo thu phục hàng trăm chính khách và các nhà trí thức danh tiếng, lúc nào ông ấy cũng nói đến hòa bình và hữu nghị với nước Pháp nhưng chính quyền của ông ta thực sự ghê gớm như thế nào. Hãy tạo nên một sự va chạm quân sự. Điều đó sẽ đánh sập hoàn toàn Hội nghị Fontainebleau” (tr.142-143). Hồ Chí Minh qua ngôn ngữ trực tiếp nói với Bidault, thủ tướng Pháp thể hiện thiện chí của Việt Nam: “Chúng tôi tha thiết xây dựng nền hòa bình với nước Pháp, tình hữu nghị với nước Pháp. Chúng tôi mong gắn kết hai nước vì sự phát triển thịnh vượng của cả Việt Nam và Pháp” (tr.131)…

Mặt khác, để tạo nên chiều sâu và sự sống động của nhân vật, Thiên Sơn đã sử dụng bút pháp tâm lý như nhập thân vào nội tâm của nhân vật để miêu tả với điểm nhìn từ bên trong. Và đây là “cận cảnh” tâm trạng của Hồ Chí Minh trước đêm ông phải trở lại Việt Bắc: “Trời sáng dần… Hồ Chí Minh đứng dậy, châm một điếu thuốc lá, đến bên khung cửa sổ lặng nhìn những lùm cây um tùm lào xào trong gió lạnh. Và trong trí tưởng của ông như hiện ra những trận chiến đấu giáp lá cà trên từng đường phố Hà Nội; những đoàn binh hành quân trên những đoạn đường rừng trong đêm mưa trơn ướt và gió lạnh, những đoạn đường đèo dốc dựng đứng; những đội quân vận tải hàng trăm ngàn tấn máy móc, khí tài, lương thực từ thành phố và đồng bằng về vùng căn cứ địa; những đội quân ém mình trong những vùng hoang vu, sình lầy tận vùng bưng biền cực nam của Tổ quốc; và những cảnh chạy giặc của bao nhiêu người dân từ cụ già tóc trắng lưng còng đến những em nhỏ sơ sinh; cảnh máu chảy trên đường phố; cảnh người chết dọc cánh đồng làng… Những cảnh đó như xoáy vặn trái tim ông, khiến ngực ông nhức lên từng cơn dài” (tr. 283-284). Những lo toan, hy vọng, những thao thức hằng đêm, những tất bật ngược xuôi tìm đường để dân tộc thoát khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc Việt - Pháp đã khép lại.

Đây là tâm trạng của D’Argenlieu khi trở về Pháp, sau khi trực tiếp gây ra chiến tranh tại Việt Nam, đang đối diện với Thủ tướng Pháp Ramadier: “D’Argenlieu lặng đi vài giây, bậm môi và cúi mặt xuống. Toàn thân ông lạnh toát… lặng lẽ bước ra khỏi căn phòng với một cảm giác cay đắng và cô đơn” (tr.310). Những hung hăng, ngạo mạn, hiếu chiến, xảo quyệt của kẻ toàn quyền tại xứ Đông Dương đã biến mất trên gương mặt thất thần của ông ta.

Đây là tâm trạng của Nguyễn Văn Thinh, thủ tướng của “Chính phủ Nam Kỳ tự trị” do thực dân Pháp dựng lên để phá hoại Hội nghị Fontainebleau: “Đêm hôm ấy, ông lại trằn trọc không ngủ được. Một cảm giác lạ lùng dần dần xâm chiếm lấy cơ thể ông. Có lúc người ông như nhẹ bẫng, như đang trôi vào một cõi ảo diệu nào xa lắc. Nguyễn Văn Thinh ngồi dậy, tựa vào ghế bành nhìn ra không gian đen thẳm. Lúc sau thì ông thoát khỏi tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Nhưng càng tỉnh, lòng ông lại như thắt lại như có một vết thương. Cái cảm giác cay đắng, căm hận trước những trò lừa dối và bỉ ổi của người Pháp làm cho máu trong người ông như sôi lên…” (tr.199).

Còn đây là tâm trạng buồn lo, lành ít dữ nhiều của Nam Phương đêm Bảo Đại từ biệt để về nước. Trong khi Bảo Đại chưa hết ảo tưởng về một xã hội Việt Nam do thực dân Pháp nặn ra để phục vụ quyền lợi của chúng, thì Nam Phương Hoàng hậu như biết trước những hiểm họa đang chờ vị hoàng đế vốn nổi tiếng ham chơi: “Đêm hôm ấy dài như vô tận! Nam Phương trở mình liên tục và hầu như không thể nào chợp mắt được…, trong lòng bà lại xuất hiện một dự cảm khó hiểu. Nằm trên giường, nhắm mắt lại mà bà như thấy mình đang trôi trên một con đường quanh co, mờ tối về chân trời mờ mịt và lạnh giá… Những ước mơ nguyên khiết về một gia đình với tất cả vẻ đẹp của nó hình thành trong tâm hồn bà từ khi còn là một thiếu nữ, thực chất đã không còn nguyên vẹn nữa từ khi bà đội lên đầu chiếc vương miện hoàng hậu… Khi đêm nghiêng về sáng, Nam Phương mới chợp mắt được một lúc. Trong giấc ngủ chập chờn đến, Nam Phương thấy mình như bị chìm xuống một vùng tối đen, rồi từ trong cái vùng đen kịt ấy như bùng lên những vệt lửa. Như từ đâu đó hiện về những chiếc đầu lâu và những thân hình cháy rụi…” (tr.343-344)…

Một trong những “thủ pháp” gây hiệu ứng cao trong tiểu thuyết Cuộc phân tranh là phương pháp chuyển cảnh nhanh, liên tục của điện ảnh, tạo ra tốc độ khá nhanh của các tình huống, và vì thế lại cần phải đọc chậm để nắm bắt được mạch truyện. Sự kiện vừa nhắc tới chương trước tưởng như chỉ thoáng qua, liền được đưa đến cận cảnh ở chương sau, chuyển vào trung tâm của của sự chú ý, dắt dẫn theo một ý đồ xuyên suốt của ngòi bút, tạo thành một bố cục liên hoàn. Người dẫn chuyện vì thế hình như không có thì giờ, không chủ trương dừng lại để tạo ra những “vùng đệm” của tả cảnh, của bình luận, của “trữ tình ngoại đề”, những thứ có thể làm giảm đi tính khách quan của câu chuyện. Tất cả như được tinh giản tối đa để nhanh chóng đưa người đọc vào cuộc. Không gian báo hiệu đầu, hoặc cuối mỗi chương đoạn thường được điểm xuyết chỉ đôi ba dòng ngắn gọn với mục đích “định vị” nhưng rất gợi. Chẳng hạn, Đêm. Khắp Sài Gòn lại bùng lên những đám cháy và những tiếng nổ lớn (tr.13); Sài Gòn rực nắng vàng (tr.46); Nửa đêm, Trương Tử Anh đang ngồi bàn công việc cùng các cộng sự trong một ngôi biệt thự ven Hồ Tây. (tr.65); Nắng thu trải vàng trên con đường im lặng. Những hàng cây hai bên đường trút lá (tr.157); Sài Gòn nắng như đổ lửa (tr.192); Bầu trời xám. Khí trời lạnh se (tr.216); Đêm khuya thăm thẳm (tr.368)…

Ngôn ngữ tiểu thuyết trong Cuộc phân tranh cũng là một lựa chọn được cân nhắc của tác giả. Với một giai đoạn phức tạp, chứa đựng chất bi tráng của tinh thần dân tộc, chứa đựng cảm hứng sử thi, cảm hứng chính luận, tinh thần yêu nước, với những nhân vật lịch sử tầm cỡ, chọn lối viết cổ điển, cân đối nhịp nhàng nhưng biết cách biến hóa bằng tiết tấu, bằng nhịp điệu nội tại của câu chữ, Thiên Sơn nhắm đến hai mục đích vừa thể hiện sự mực thước của ngòi bút trước lịch sử, vừa khắc phục được sự dềnh dàng chậm chạp có thể mắc phải. Ngôn ngữ chuẩn mực, trong sáng vẫn thường được “cá biệt hóa” trong mỗi hình tượng nhân vật. Chẳng hạn, ngôn ngữ của D’Argenlier, tên cáo già chính trị, vừa mưu mẹo, vừa hiếu chiến “vẽ” lên con người của ông ta trong cuộc trò chuyện với Pignon bề ngoài muốn lòe bịp, ve vuốt Bảo Đại, nhưng trong bụng thì nham hiểm: “Bề ngoài hãy tỏ ra như một phương án có thể chọn lựa. Điều đó sẽ khiến Bảo Đại phải xuống thang, có lợi khi chúng ta đàm phán với ông ấy. Mục đích chính của chúng ta hiện nay là loại bỏ Hồ Chí Minh, còn trong trường hợp bất đắc dĩ, tình thế diễn ra không thuận lợi thì phải trở lại đàm phán với ông ta. Nếu phải đàm phán với Hồ Chí Minh, chúng ta vẫn giữ mối liên hệ với Bảo Đại, biến Bảo Đại thành đối tượng cạnh tranh nhằm giảm bớt những yêu cầu khó chịu của Hồ Chí Minh” (tr.299-300). D’Argenlier không chỉ nham hiểm mà còn ngạo mạn: “Không hiểu Hồ Chí Minh có phép bùa gì mà khiến cho hết kẻ này đến kẻ khác do dự ngại va chạm với ông ta? Chẳng nhẽ chỉ với một nhúm quân chân đất với gậy gộc giáo mác có thể chống lại được xe tăng đại bác?” (lời D’Argenlier nói với Cedile tr.144). Còn ngôn ngữ của Hồ Chí Minh thì điềm tĩnh, mạch lạc và kiên quyết: “Lẽ ra ông Bollaert nên nhận lấy trách nhiệm sửa sai cho người tiền nhiệm và tháo ngòi nổ cho một cuộc chiến tranh chỉ làm tổn hại cho Pháp và Việt Nam. Nhưng… ông ấy đòi chúng tôi phải đầu hàng. Không! Chúng tôi không bao giờ đầu hàng! Tôi đã nói rất nhiều lần, chúng tôi sẽ chiến đấu bằng tất cả khả năng của mình. Đó là một cuộc chiến tranh sẽ mang đến cho nước Pháp sự thất bại và đau đớn. Cuối cùng chúng tôi sẽ chiến thắng và người Pháp sẽ không còn lợi ích gì trên đất nước chúng tôi. Đừng để chúng tôi đến hoàn cảnh phải kháng cự như vậy. Chúng tôi muốn hòa bình trong danh dự và hữu nghị. Tổ quốc tôi, nhân dân tôi không cho phép tôi lùi bước…” (lời Hồ Chí Minh trả lời Paul Mus tr.325).

Không bận tâm đến những “thủ pháp” hiện đại, Thiên Sơn tạo ra một cấu trúc chặt chẽ, “tuyến tính”, tạo ra những khoảnh khắc tâm trạng thay cho “dòng ý thức”, tạo ra tính chân thực tối đa của trang viết thay cho những “điểm mờ” huyền ảo… vẫn thường được sử dụng trong những tiểu thuyết về lịch sử. Đây là một lựa chọn phù hợp, bởi vì lịch sử, như đã nói, chưa xa trong ký ức của nhiều người. Một “sáng tạo” nào đó cho dù là mang giọng kể, mang ý đồ nghệ thuật riêng của tác giả đôi khi cũng có thể không phải là một lựa chọn phù hợp với số đông người đọc. Hơn nữa sau Cuộc phân tranh, bộ sách có thể còn những tập khác, nên một sự nhất quán xuyên suốt trong ngôn ngữ, trong kết cấu, trong giọng kể là lựa chọn cần thiết.

Loạt tiểu thuyết lịch sử thế kỷ 20 mà Thiên Sơn đang thực hiện, thực sự thử thách bản lĩnh và tầm mức tư tưởng của người viết. Nó cũng đòi hỏi một khả năng làm chủ các sự kiện, các nguồn tư liệu và sự chuẩn xác, mực thước trong diễn ngôn nghệ thuật về một đề tài mang nhiều ý nghĩa với đời sống tinh thần hôm nay. Những gì Thiên Sơn làm được qua Gió bụi đầy trờiCuộc phân tranh tạo cho người đọc niềm tin và sự đón đợi.

Thành phố Hà Nội: Miễn phí tham quan nhiều di tích lịch sử

Thành phố Hà Nội: Miễn phí tham quan nhiều di tích lịch sử

Baovannghe.vn - Để phục vụ nhu cầu du lịch văn hóa của người dân, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội đã có Văn bản số 914 về việc mở cửa miễn phí tham quan các di tích từ ngày 20 - 22/2, (tức mùng 4 - 6 Tết Bính Ngọ)
Tái bản lần thứ 3 tác phẩm "Tranh dân gian Việt Nam sưu tầm và nghiên cứu"

Tái bản lần thứ 3 tác phẩm "Tranh dân gian Việt Nam sưu tầm và nghiên cứu"

Baovannghe.vn - NXB Tổng hợp TP.HCM vừa thực hiện tái bản lần 3 tác phẩm "Tranh dân gian Việt Nam sưu tầm và nghiên cứu"
Hoa gạo son - Thơ Nguyễn Xuân Thâm

Hoa gạo son - Thơ Nguyễn Xuân Thâm

Baovannghe.vn- Thèm ngó hoa gạo son/ Tìm về nơi cố quận
Thêm ớt. Truyện ngắn của Hoàng Hải Lâm

Thêm ớt. Truyện ngắn của Hoàng Hải Lâm

Baovannghe.vn - Đấy không phải là mưa, đấy là gió, Tôi nói với cái Hân lúc nó nhấp nhổm đưa mắt nhìn vào cái lỗ bằng ngón tay ở cửa sổ.
Chuyển đổi số với đời sống tinh thần xã hội

Chuyển đổi số với đời sống tinh thần xã hội

Baovannghe.vn - Có thể nói, thế giới ngày nay đang chứng kiến một cuộc chuyển dịch sâu rộng, mang tính thời đại, đó là cuộc cách mạng 4.0.