![]() |
| Minh họa Phạm Hà Hải |
1.
Munshi Ram Sevak rời nhà với khuôn mặt nhàu nhĩ và lầm bầm, “chết còn hay hơn sống thế này”.
Nếu cái chết được chấp nhận theo yêu cầu thì giờ thế giới có lẽ đã hoang vắng.
Munshi Ram Sevak là quý tộc ở làng Chandpur và có đủ phúc phần của một quý tộc. Ông ta kiếm tiền từ sự yếu đuối của kẻ khác. Hằng ngày, ông ta ngồi trên chiếc giường ọp ẹp, dưới bóng cây thường xanh trong sân của Tòa sơ thẩm, với một bó giấy tờ đặt trước mặt. Chưa ai thấy ông ta tranh kiện một vụ án nào nhưng ai cũng gọi ông ta là ngài Mukhtar vẫn không thay đổi thói quen hằng ngày. Nhiều dân làng đi với ông ta ra sân tòa. Ông ta được mọi người tôn trọng và tin tưởng. Người ta tin là có thần Saraswati ngồi trên lưỡi ông ta. Dù ai đó gọi ông ta là luật sư hay công tố viên thì trên thực tế, ông ta chỉ làm một việc là duy trì danh dự cho gia đình mình mà thôi. Ông ta không kiếm được nhiều tiền, chỉ có vài xu bạc và đồng đến với ông ta. Hiểu biết về luật pháp của ông ta là kha khá nhưng chính các vấn đề của ông ta đã làm cho ông ta bất lực. Có thể nói, tiếng tăm ông ta có được chủ yếu nhờ vào uy tín. Thu nhập chính của ông ta đến từ những kẻ tin vào ông ta là những bà góa cô độc nhưng giàu có và những người già khá giả. Các bà góa gởi tiền của họ cho ông ta giữ giúp. Người già phó thác của cải của họ cho ông ta vì sợ những đứa con có ý đồ xấu xa. Nhưng mỗi khi tiền đã vào túi mình, ông ta sẽ quên trả lại. Thường thì ông ta nói ông ta vay các khoản đó. Ai có thể lấy lại được tiền của họ? Buổi sáng, ông ta hỏi mượn tiền, hứa chiều sẽ trả nhưng buổi chiều không bao giờ đến. Nói ngắn gọn là ông này sẽ không bao giờ trả lại các khoản tiền mà người ta tín thác cho ông ta. Truyền thống gia đình ông ta là vậy. Nói chung, điều này là chướng ngại vật chắn đường hạnh phúc và bình an của ông ta. Ông ta không sợ luật pháp và tòa án. Cãi với ông ta không khác nào cãi với một con cá sấu dưới nước. Nhưng khi có ai đó hành hung làm dữ, phỉ báng, xúc phạm ông ta vì ông ta không chính trực, thì ông ta thấy bị tổn thương ghê gớm. Điều này là thường trên đời. Có thể thấy ở khắp nơi, kẻ lưu manh chỉ thấy hạnh phúc khi đã đè đầu kẻ khác. Thi thoảng họ còn khích lệ kẻ khác xúc phạm họ. Nếu không có điều này thì một phụ nữ bán rau chẳng bao giờ dám tới nhà và chửi ông ta. Ông ta là khách mua rau của bà, đã mua rau pina và rau xanh của bà nhiều năm. Nếu ông ta không trả tiền ngay thì bà cũng bằng lòng vì nghĩ sớm muộn gì ông ta cũng trả tiền. Nhưng hai năm sau, người phụ nữ bị xúc phạm này giận dữ, không còn nể nang người đàn ông được cho là đáng kính, nợ chỉ vài annas mà không chịu trả. Nếu người đàn ông này bất an đến mức muốn chết đi, thì đó là do lỗi lầm của ông ta.
2.
Có một người phụ nữ góa chồng tên là Munga sống trong làng. Chồng bà đi lính cho người Anh ở Miến Điện và chết ở đó. Để tưởng thưởng, chính phủ đã cấp cho bà năm trăm rupee. Vì mất chồng và do khó khăn, bà trao hết số tiền đó cho ông Munshi Ram Sevak, mong ông ta hằng tháng trả lại cho bà một ít để xoay xở.
Ông ta thực thi được trách nhiệm trong nhiều năm, nhưng khi bà Munga đã già nua mà chưa chết, ông ta bồn chồn, nghĩ không biết bà có thể để lại cho mình một nửa số tiền bởi trước khi đi lên thiên đàng hay không.
Ngày nọ, ông ta nói với bà, “Bà Munga! Bà sắp chết chưa? Nói cho tôi biết để tôi có kế hoạch cho chính đời tôi.” Nghe vậy, hai mắt bà Munga mở to. Bà như tỉnh ngủ. Bà nói, “Trả lại toàn bộ tiền cho tôi.”
| Premchand được xem là một trong các nhà văn lớn ở thời kì đầu của văn học Ấn Độ. Ông sinh năm 1880 tại làng Lamhi, bang Banaras trong một gia đình nghèo và sớm mồ côi cha mẹ. Premchand là nhà báo, nhà viết kịch, dịch giả, tác giả truyện ngắn và tiểu thuyết. Ông thông thạo nhiều thứ tiếng như Urdu, Hindi, Bengali và tiếng Anh. Premchand là Chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội các nhà văn tiến bộ Ấn Độ (Progressive Writer’s Association) một tổ chức có khuynh hướng Marxist. Truyện ngắn Premchand có nhiều chủ đề, trong đó có tiếng nói phản kháng thực dân, kêu gọi lòng yêu nước, tự hào dân tộc, phơi bày nỗi thống khổ của con người và chống lại áp bức, hủ tục, luật lệ hà khắc, sự phân biệt đẳng cấp. Ông mất năm 1936 tại Ấn Độ. |
Sự vụ đã quá rõ. Người nhận giữ hộ tiền đã tiêu hết, không còn một xu. Bà Munga giận dữ chộp lấy tay ông ta và nói, “ông còn giữ của tôi hai trăm năm mươi rupee. Tôi không để lại một xu cho ông.”
Nhưng sự giận dữ của người phụ nữ bất lực như pháo nổ, chỉ làm trẻ em sợ mà không gây được thương tích. Bà không thể đưa vụ việc ra tòa. Không có sổ sách, giấy tờ. Bà vẫn hi vọng vào ông ta. Ông ta ngồi xuống. Dân các làng kéo đến. Ông ta là kẻ có đầu óc. Ông ta đứng dậy và nói với năm người già nhất làng:
“Các anh em! Các anh em là những người đáng tín của các gia đình đáng kính. Tôi là đầy tớ của anh em. Đời tôi biết ơn sự rộng rãi, lòng tốt và tình cảm của anh em. Anh em có nghĩ là tôi lừa đảo tiền của người phụ nữ góa bụa này không?”
Những người già đều đồng thanh nói: “Không, không! Anh không làm điều đó!”
Ram Sevak nói, “Nếu những cụ già này nói tôi lừa gạt bà ấy, tôi sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc tự sát. Tôi không giàu có, cũng không thiếu lòng bao dung. Nhưng nhờ có ngòi bút của mình và nhờ sự giúp đỡ của mọi người, tôi không phải nợ nần gì ai. Tôi tự hạ thấp mình khi đi lừa tiền người phụ nữ khốn khổ này sao?”
Những người già lại đồng thanh nói: “Không, không! Anh không làm chuyện đó!” Theo nghi lễ của người Hindu, khi nói một người là đáng trọng, người ta làm dấu trên trán anh ta. Những người già tha bổng ông ta và đứng dậy.
Bà Munga thở dài và tự nhủ: “Được. Tôi không lấy lại được tiền nhưng ông trời có mắt.”
3.
Giờ không có ai lắng nghe câu chuyện bi hận của bà Munga hoặc giúp đỡ bà. Bà buộc phải chịu đựng tất cả nỗi khổ cực do nghèo túng mang tới. Bà cao khỏe, có thể lao động tay chân, nếu bà muốn. Nhưng kể từ ngày họp hội đồng làng, bà thề sẽ không bao giờ đi làm nữa. Giờ bà chỉ nghĩ về tiền mình ngày và đêm. Khi ngồi, khi ngủ, khi thức và chỉ nghĩ về nó và cầu cho ông Sevak được khỏe mạnh. Bà ngồi ở bậu cửa túp lều mình, chân thành cầu cho ông ta. Nhiều lần, người ta ngạc nhiên khi nghe bà cười. Và nói lảm nhảm. Dần dần, bà mất thăng bằng tâm lí. Bà ngồi đầu tuần, không áo ở những nơi vắng vẻ, tay cầm một cây cuốc chim. Thay vì ở trong túp lều của mình, bà giờ lang thang khắp các khu vực hỏa táng ven sông. Tóc bà rối bời, đôi mắt đỏ rực, khuôn mặt hốc hác, chân tay gầy yếu. Dân làng hoảng sợ khi thấy bà. Không ai nói chuyện với bà, ngay cả đùa chơi cũng không. Nếu thấy bà đi trong làng, phụ nữ sẽ gài chốt cửa nhà họ lại. Đàn ông sẽ quay mặt, tìm đường tránh bà còn trẻ em thì hét lên và bỏ chạy. Nếu có một đứa trẻ không bỏ chạy, đó là Ram Ghulam, con trai Munshi Ram Sevak. Những gì người cha không có đều thấy hiện diện đủ đầy trong đứa con này. Bọn trẻ trong làng ghét cậu ta. Kẻ một mắt, kẻ quê trong làng không muốn thấy cậu này. Thậm chí một chàng rể đang đi đến nhà cô dâu trong hân hoan cũng không thích những lời dè bỉu của đứa bé này. Nó vỗ tay sau lưng bà Munga và dẫn chó dọa bà, cho tới khi người phụ nữ nghèo bực bội rời làng. Bị mất tiền và mất trí, bà bị gọi là bà điên. Mà giờ đúng vậy. Bà ngồi hàng giờ lảm nhảm, đòi ăn, xé và cào cấu thịt, xương, da, mắt, gan của Munshi. Khi điên loạn đỉnh điểm, bà đi tới nhà Ram Sevak, la rống lên: “Tao sẽ uống máu mày!”
Người ta thường nghe bà rống lên trong đêm thanh tĩnh. Nhưng khủng khiếp hơn là tiếng bà cười. Bà cười to, ngỡ là đã được sung sướng nhờ uống máu Sevak. Nghe những lời độc ác của bà trong đêm, máu người ta trở nên lạnh. Tiếng cười của bà như tiếng của hàng trăm con cú đêm đồng thanh, Munshi Ram Sevak là kẻ kiên gan. Ông ta không sợ gì các vụ kiện dân sự hay hình sự nhưng vẫn phải rùng mình khi nghe bà kêu rống. Chúng ta không sợ phán quyết của người đời nhưng theo bản năng, chúng ta sợ phán quyết của Trời. Những tiếng kêu lạnh lưng trong đêm của bà Munga đánh thức nỗi sợ hãi trong tâm khảm Ram Sevak và cả vợ của ông ta. Bà này rất thông minh, thường tư vấn cho chồng trong nhiều vấn đề. Người ta nhầm khi nói nữ thần khôn ngoan nằm trong lưỡi ông ta. Mọi thứ đều là nhờ bà vợ. Bà ta nói khôn khéo. Hiện tại, hai vợ chồng bàn kế đối phó.
Đã nửa đêm. Theo thói quen, Ram Sevak uống vài ngụm rượu để giải phiền và đi ngủ. Bỗng bà Munga đi đến cửa nhà ông ta và hét. “Tao sẽ uống máu mày!” rồi cười khằng khặc.
Ram Sevak tỉnh ngủ khi nghe những lời hãi hùng này. Chân ông ta bắt đầu run còn tim thì bắt đầu đập mạnh. Bằng tất cả sự bình tĩnh, ông ta mở cửa phòng mình và đánh thức vợ là bà Nagin dậy.
Bà ta bồn chồn hỏi, “Anh nói gì?”
Ram Sevak thì thào, “Bà ta đang đứng trước nhà mình.”
Nagin ngồi dậy, “Bà ta nói gì?”
“Bà đoán đi!”
“Có thật là bà ta đang đứng ở ngoài?”
“Đúng. Bà không nghe gì sao?”
Nagin không sợ bà Munga, dù bà ta hãi hùng ánh mắt của bà ấy: Bà ta tin là mình có thể cãi được với bà Munga.
Bà ta trấn tĩnh mình và nói, “Nếu ông đồng ý, tôi sẽ ra đôi co với bà ta.”
Nhưng Ram Sevak cản bà ta lại.
Cả hai rón rén đi ra cửa và nhòm ra ngoài. Bà Munga nằm trên sân và họ có thể nghe được tiếng thở của bà. Bà đói vì muốn ăn thịt Ram Sevak. Một đứa bé có thể quật ngã bà nhưng cả làng phải chịu thua bà. Chúng ta không sợ kẻ sống nhưng sợ kẻ chết. Đêm đã tàn. Dù cửa đóng nhưng Nagin và ông chồng đã phải ngồi cả đêm. Bà Munga không biết làm gì ngoài việc kêu rống. Giọng bà đáng sợ hơn con người bà.
Lúc bình minh, Ram Sevak đi ra và hỏi bà Munga, “Tại sao chị ngồi ở đây?”
Bà đáp, “Tao sẽ uống máu mày!”
Bà Nagin nói, “Tao sẽ đốt mặt mày!”
Nhưng lời nói độc địa của bà ta không làm bà Munga sợ sệt. Bà cười rú lên, làm cho vợ chồng Ram Sevak lúng túng và đứng ngẩn ngơ.
Ram Sevak lặp lại: “Đứng dậy!”
“Tao không đứng.”
“Bà còn ngồi đây bao lâu nữa?”
“Tao sẽ uống máu mày!”
Sự hùng hổ vốn thấy của Ram Sevak là vô ích trong tình huống này còn cái miệng dữ tợn của Nagin thì trở nên câm lặng. Họ lui vào nhà để bàn cách thoát khỏi thảm họa, sự khổ sở này.
Khi các nữ thần đến, họ uống máu dê rồi đi nhưng người đàn bà điên này lại muốn uống huyết người. Nếu một giọt máu của Ram Sevak đổ xuống khi ông sửa chữa một cây viết thì cả làng sẽ xót xa cho ông ta hàng tuần, hàng tháng và tin tức của sự vụ sẽ lan truyền khắp làng. Đó cũng là giọt máu mà bà Munga muốn uống để làm tươi lại thân thể gầy khô của bà?
Trong làng, người ta truyền nhau tin bà Munga ngồi kêu ca trước nhà ông ta. Dân làng thấy thích thú vì ông này bị sỉ nhục. Như thi thoảng có thể thấy, rất nhanh chóng, đám đông hàng trăm người tới tụ tập ở lối vào nhà ông ta. Ram Ghulam không thích như vậy. Cậu ta giận dữ tới mức, muốn xô bà Munga xuống giếng, nếu có thể. Ý nghĩ này làm cho cậu ta buồn cười nhưng cậu ta đã kìm lại được.
“Ha ha, sẽ là vui biết mấy nếu xô bà ta xuống giếng!”
Nhưng bà già không nhúc nhích nên cậu ta phải lảng sang chuyện khác.
Nhà ông Ram Sevak có một con bò cái, được cho ăn bánh khô dầu, ngũ cốc và rơm. Các món này đi thẳng vào xương nó và nó ngày càng cường tráng. Ram Ghulam trộn phân bò và nước trong một cái xoong đất lớn và đổ nó lên đầu bà Munga khốn đốn. Vài hạt nước tung tóe vào người đang đứng xem.
Người bà Munga khô lại và đám đông bỏ đi.
Họ xì xào: “Đây là phép lịch sự chúng ta thấy được ở nhà ông Ram Sevak. Đi nhanh cho để ông ấy mến chúng ta!”
Bên ngoài, đám đông đã giải tán và trong nhà, Ram Ghulam cười sặc sụa và tự vỗ tay. Cha cậu ta vỗ lưng con trai mình một cách khoái trá vì nó làm được điều đơn giản mà giải tán được đám đông tò mò. Người ta đi hết nhưng bà Munga bất hạnh vẫn còn ngồi đó.
Chiều đến bà Munga chưa có gì để ăn. Đêm về. Dù đói cồn cào, bà vẫn không chịu ăn. Ông trưởng làng cố gắng dỗ cho bà ăn. Dù Ram Sevak vòng tay cầu xin bà, bà vẫn không nhúc nhích.
Cuối cùng, ông ta đứng dậy và đi vào nhà. Ông ta nghĩ, cơn đói là phương thuốc cho những ai đang giận dữ. Bà Munga không ăn uống gì vào đêm đó. Ông Ram Sevak và vợ trằn trọc tới bình minh. Ngày hôm sau, tiếng kêu rống của bà Munga yếu dần. Cả nhà ông ta nghĩ tai họa đã qua. Sáng hôm đó, khi mở cửa nhà mình, họ thấy bà Munga nằm bất động, ruồi bu đầy mặt. Bà muốn chết trước cửa nhà ông ta. Bà muốn giao đời mình cho kẻ đã lừa gạt bà. Bà muốn giao thi thể mình cho ông ta. Người ta cầu cho được giàu có. Đối với họ, giàu có quý hơn mạng sống, nhất là khi họ về già. Thường thì trả nợ thì phải trả cả lãi.
Thật là vu vơ nếu diễn tả cảm xúc của mọi người trong làng về vụ việc, nhất là khi nó đã làm cho ông Munshi Ram Sevak hổ thẹn. Trong làng có sự huyên náo, đồn đại nhiều hơn các sự kiện khác. Ram Sevak hổ thẹn hơn thường lệ. Danh dự của ông ta đã mất. Tiện dân cũng chẳng muốn uống nước ông ta mời. Nếu con bò cái của ai đó chết khi đang bị cột trước nhà của một ai đó thì chủ của ngôi nhà đành phải đi lạy lục hết nhà này tới nhà khác. Không ông thợ cạo nào cạo râu cho ông ta, không người gánh nước mướn nào gánh nước cho ông ta, không ai thèm sờ đến ông ta. Đó là cái giá kẻ giết con bò phải trả. Sự trừng phạt đối với kẻ đã giết chết một người Bàlamôn còn nghiêm trọng hơn cả vạn sự ô nhục. Bà Munga biết thế và đó là lí do tại sao bà muốn chết trước cửa nhà ông Ram Sevak. Đã biết là khi còn sống, bà không đòi được gì nhưng khi đã chết, bà sẽ có rất nhiều thứ. Sau khi đốt phân bò cái thành tro, các vị thần lấy tro này xức lên trán họ. Khi một viên đá được ném vào lửa, nó nóng hơn và nguy hiểm hơn lửa.
4.
Munshi Ram Sevak có hiểu biết pháp luật. Ông ta biết mình sẽ không bị buộc tội. Cái chết của bà Munga sẽ không liên quan đến một tội nào và ngay cả luật hình sự cũng không đếm xỉa tới. Đó là lí do tại sao người ta đã sai lầm khi kêu gọi ông chuộc tội vì cái chết của bà. Việc người ta không kéo nước giếng cho ông không thành vấn đề. Ông ta có thể tự kéo. Không có gì xấu hổ khi tự mình lo liệu cho mình. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu ông thợ cạo từ chối cạo râu cho ông ta: Râu là vẻ đẹp của con người. Nếu người ta ghét râu tóc, thì đã có dao cạo. Ông ta cũng chẳng lo, nếu người giặt thuê từ chối giặt quần áo cho mình. Xà bông giặt được bán khắp các ngõ, giá chỉ vài đồng tiền sò. Chỉ một thanh gỗ thôi, có thể đập quần áo trắng như con diệc bạch. Có người giặt thuê nào giặt trắng được như thế không? Họ đập quần áo người ta trên đá, cho tới khi chúng rách tươm. Giặt xong họ lấy mặc hoặc cho thuê hoặc nấu sôi chúng và nhúng chúng vào nước muối. Họ hủy hoại quần áo. Đó là lí do tại sao áo kurta chẳng thọ được hơn hai, ba năm. Cứ năm năm ông nội ông ta lại mua hai áo achkan và hai áo kurta mới. Munshi Ram Sevak và vợ tự an ủi nhau như vậy cả ngày. Khi đêm xuống, họ im bặt.
Giờ họ bị nỗi sợ hãi vây bủa. Đêm tới, họ càng sợ. Họ thấy cửa chính bị mở ra nhưng không có ai dám tới đóng lại. Cuối cùng, Nagin cầm một cây đèn dầu nhấp nháy, Sevak cầm một cây cuốc chim còn Ram Ghulam cầm liềm và cả ba rón rén đi ra cửa. Sevak tỏ ra rất can đảm. Ông ta hùng hổ dấn bước.
Ông ta run rẩy nói lớn với Nagin, “Không có gì phải sợ. Bà nghĩ bà ta ngồi ở đó sao?”
Nhưng vợ yêu Nagin của ông ta kéo ông ta lại và giận dữ nói, “Ông đừng có như con nít!”
Sau khi đóng lại cửa, cả ba xuống nhà bếp chuẩn bị bữa tối.
Nhưng bà Munga đã chui vào mắt họ. Họ sợ sệt khi họ nhìn thấy bóng của chính mình. Bà hình như đang luẩn quẩn trong góc tối. Họ hình dung ra bà một cách rõ rệt: Cũng vẫn là bộ xương khô, đầu tóc rối bời, đôi mắt điên dại. Có vài con chuột sống trong buồng kho và vài cái nồi để đựng bột và bèo. Chuột cồn cào vì đói. Các bộ nồi không có ngũ cốc bên trong nhưng người làng nói, chuột là kẻ trộm siêu hạng trong nhà. Chuột sục sạo bột và bèo là những thứ không có trong nồi. Bọn chuột chạy lén lút. Có âm thanh chút chít dưới bó quần áo và chân cẳng các con chuột đã trở thành chân cẳng của bà Munga. Nagin thấy chúng và kêu ré lên. Munshi hổn hển chạy tới cửa. Ram Ghulam chạy tới ôm chân mẹ. Con chuột xuất hiện. Thấy vậy, họ hoàn hồn lại. Giờ thì Munshi bình tĩnh lại và đi tới nhìn các bộ nồi.
Nagin nói, “Không sao! Tôi biết ông khá can đảm đó!”
Munshi bực dọc vì vợ thiếu tôn trọng, “Bà nghĩ tôi sợ sao? Có gì mà sợ? Bà Munga đã chết. Hay bà ta còn ngồi đây? Hôm qua tôi định ra ngoài, bà cản tôi nhưng tôi không nghe, đúng không?”
Lời lẽ của ông ta làm bà Nagin cứng họng. Hôm đó, đi ra ngoài là khác thường. Làm sao có thể gọi là hèn nhát khi ông ta làm như vậy? Bà Nagin dốt.
Sau bữa tối, cả ba vô phòng ngủ nhưng bà Munga vẫn đuổi theo. Họ trò chuyện để đánh trống lảng. Nagin kể chuyện về Raja Hardaul và Rami Sarandha. Munshi kể chuyện các vụ án nhưng dù gắng gượng, hình ảnh của bà Munga vẫn hiện ra trước mắt họ. Họ giật mình khi có bất cứ tiếng động nào. Tóc họ dựng lên khi nghe tiếng lá rơi. Càng lúc họ càng nghe giọng nói từ lòng đất dội vào tai họ: “Tao sẽ uống máu mày!”
Nửa đêm, Nagin giật mình thức dậy. Bà Munga, với đôi mắt đỏ ngầu, cái lưỡi dài và nhọn, dường như đang ngồi trên ngực bà ta. Nagin hét lên. Bà ta điên dại chạy ra sân rồi ngã ngửa. Cơ thể bà ta ướt đẫm mồ hôi. Ông Munshi giật mình tỉnh dậy khi nghe bà vợ hét nhưng người cứng đơ, mắt không thể mở ra. Ông ta loạng choạng bước như một kẻ mù. Phải mất khá lâu ông ta mới đi được ra sân. Bà Nagin đang nằm trên sân, chân tay co giật. Ông chồng ẵm bà ta vô nhà nhưng mắt bà ta mở suốt đêm. Lúc bình minh, bà ta nói lảm nhảm và sau đó, phát sốt. Thân thể bà ta nóng rực. Tối đó, bà ta bất tỉnh và đến nửa đêm, khi mọi thứ đã yên nghỉ, bà ta chết. Nỗi sợ hãi bà Munga đã giết chết bà ta, khi còn sống, bà Munga sợ tiếng tru tréo chê bai của bà này. Ngay cả khi đã phát điên, bà cũng không đối mặt với bà ta. Nhưng để bù trừ, bà đã lấy mạng bà Nagin. Nỗi sợ hãi có sức mạnh. Người ta không thể cột dây vào gió nhưng bà Munga có thể sáng tạo ra cả thế giới từ không khí mong manh.
Đêm đã tàn. Khi mặt trời lên cao hơn, cũng không có ai trong làng đến nhấc thi thể vợ ông ta lên. Ông Munshi đi khắp làng nhưng không ai bước ra khỏi cửa. Ai muốn đến nhà kẻ sát nhân? Ai muốn đưa vai khiêng kẻ đó? Khi đó, danh tiếng, sức mạnh của cây viết, sự tài giỏi của ông Munshi là vô ích. Thấy bại hoại, thất vọng, ông ta trở về nhà mình. Trong nhà, mọi thứ trở nên tối tăm. Ông ta đến cửa nhà mình nhưng không đi vào. Tuy nhiên, ông ta không thể đứng lâu ở ngoài. Bên ngoài là thi thể bà Munga, bên trong là thi thể Nagin. Ông ta cứng người và đọc bốn mươi câu thơ để cầu thần khỉ Hanuman, sau đó, bước vô. Chỉ có ông ta biết tâm địa ông ta lúc đó. Thật khó hình dung nó. Chỉ có một thi thể trong nhà, trước sau đều không có ai. Ông ta có thể tục huyền vì chỉ mới năm mươi tuổi vào tháng phagun này. Nhưng tìm đâu ra một người vợ có miệng lưỡi? Thật xấu hổ! Giờ còn ai để cự với thiên hạ khi họ tới đòi tiền lại? Giờ ai có thể giúp làm họ cứng họng? Giờ ai là người giữ tiền bạc để sinh lợi? Còn ai có giọng nói sắc như mũi tên để xuyên thủng chủ nợ? Không ai có thể thay thế bà ta. Hai ngày sau khi bà ta chết, Munshi bỏ thi thể bà ta lên một chiếc xe bò và chở ra sông Hằng.
5.
Không có ai muốn đi theo tiễn đưa, ngoài ông Munshi và con trai Ram Ghulam. Không chỉ có bà Munga phải đau khổ vì bị sỉ nhục.
Sau khi giết chết bà Nagin, bà Munga không để cho Munshi yên thân. Hình ảnh bà luôn ám ảnh đầu óc ông ta. Dù đi đâu thì bà vẫn luôn được ông lưu tâm.
Ông ta muốn được an ủi, có thể vì chưa quá quẫn túng, nhưng không có ai trong làng nhìn về phía nhà ông ta. Người đàn ông đau khổ này tự đi lấy nước, tự chùi xoong nồi. Đầu óc người ta có thể chịu đựng được bao lâu các kẻ thù là sự ám ảnh, giận dữ và lo âu, sợ hãi? Đặc biệt là với những cái đầu thường căng ra để tranh cãi các vấn đề pháp lí hằng ngày.
Ông ta xoay xở để sống sót như một tù nhân trong ngục đã chín hoặc mười ngày rồi. Vào ngày thứ mười bốn, ông ta thay quần áo, xách giỏ và đi đến tòa án. Hôm nay, khuôn mặt ông có vẻ sáng hơn. Khi ông ta đến, khách của ông sẽ bao quanh ông. Họ chia buồn với ông. Ông nhỏ ba giọt nước mắt. Sau đó người ta sẽ đưa ra cả tá các giấy tờ mua bán, cầm cố và thanh toán. Tay ông sẽ nóng lên vì được cầm tiền. Buổi tối, ông sẽ uống một, hai chầu rượu. Không rượu, ông thấy thêm muộn phiền. Mải mê với những suy nghĩ đó, ông đi đến tòa án.
Nhưng thay vì có hàng tá giấy tờ cầm cố, hàng tá các hợp đồng mua bán và đám đông khách hàng, ông chỉ thấy một sa mạc cát của sự thất vọng. Ông ta ngồi hàng giờ, giấy tờ để trước mặt nhưng không có ai đến gần. Không ai hỏi ông ta giờ thế nào. Không chỉ có khách mới mà cả khách cũ, là những thế hệ ông đã tư vấn, cũng quay mặt đi. Ngay cả gã Ramzan bất tài và non nớt, viết cái chữ không nên mà ông thường đùa vui, hôm nay như thần Krishna, được người ta tha chết vây quanh. Anh ta may làm sao! Khách quay đi, như thế họ không biết ông là ai.
Sau khi ngồi bơ phờ cả ngày ở tòa, ông Munshi thất vọng và bồn chồn trở về nhà. Khi ông ta trở về nhà, hình ảnh bà Munga ập tới ngay lúc ông mở cửa. Lúc đó, hai con chó mà Ram Ghulam nhốt bên trong đã nhảy ào ra. Ông ta hoảng loạn, thét lên và ngã quỵ xuống đất.
Không có sức mạnh nào có tác động lớn đến tim óc con người bằng nỗi sợ. Tình yêu, sự lo âu, thất vọng và mất mát chỉ như cơn gió nhẹ làm khổ con tim, không như nỗi sợ là một cơn bão lớn.
Tôi không biết điều gì xảy ra sau đó với ông Munshi, chỉ biết nhiều ngày sau, người ta thấy ông ta đi đến tòa và nặng trĩu trở về. Đến tòa là trách nhiệm của ông ta và dù không có khách nhưng đây là cách để ông ta có cơ hội làm cao, các chủ nợ của mình cùng đường và bảo đảm với họ rằng, ông sẽ trả nợ cho họ. Sau đó, không ai nhìn thấy ông ta trong nhiều tháng. Ông ta đã đến Badrinath.
Một ngày nọ, có một tiện dân đến làng. Người ông bẩn thỉu vì tro phân bò, tóc dài, rũ rượi và tay cầm một cái chén xin ăn. Khuôn mặt ông rất giống khuôn mặt của Munshi Ram Sevak. Cách ăn nói cũng giống. Ông ngồi dưới một bóng cây, trước một đống lửa đang ngún. Đêm đó, khói bốc lên từ nhà Munshi Ram Sevak, càng lúc càng cao. Hàng trăm dân làng chạy đến nhưng không phải để dập lửa mà để thích thú nhìn đám cháy.
Tiếng kêu đau khổ của một người phụ nữ nghèo đã gây ra vụ cháy này! Sau khi Munshi bỏ đi, Ram Ghulam đến sống với một ông cậu nhưng không hạnh phúc, vì cách cư xử của ổng.
Ngày nọ, cậu ta trộm củ cải trên đồng. Ông chủ đồng tát cậu ta. Ram Ghulam căm tức, đến đốt trại của ông này. Tất cả đậu xanh bị cháy thành tro. Hàng ngàn rupee trở thành khói. Cảnh sát điều tra và bắt giữ Ram Ghulam. Cậu ta giờ đang ở trong một trại cải tạo ở Chunar.
Trần Ngọc Hồ Trường
Dịch từ tiếng Anh, trong “Premchand, The complete short stories”, Volume 1, Penguin Books, 2017.