Ông học giỏi, thành thạo tiếng Pháp, Trung, Nhật, yêu thích sáng tác thơ văn và nhạc. Năm 1931, ông tốt nghiệp Trường Y khoa Đông Dương (Hà Nội), bác sĩ biệt phái sang Xavanakhet (Lào) rồi về nước, làm việc ở Bệnh viện Nam Định (cũ), ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia Cách mạng, từng làm Giám đốc Bệnh viện Vinh và Giám đốc Sở Y tế Nghệ An (1953-1957), góp phần sáng lập khoa Y học cổ truyền của Trường Đại học Y khoa Hà Nội và Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương (1957)…
![]() |
| Hồ Tây - Bài thơ thể hiện một lối thưởng thơ, chơi thơ. |
Tiếp nhận ảnh hưởng văn học Pháp và phương Tây nên khi còn là sinh viên, ông đã sớm sáng tác, dịch thơ và góp phần khởi động, mở đường phong trào Thơ mới. Những bài thơ ban đầu này được tập hợp lại trong tập Thơ buông cùng những bài thơ in báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn, 1928-1932) cho thấy rõ tín hiệu “mới” - mới từ nhan đề tập thơ đến hình thức và nội dung các bài thơ. Có thể hình dung Lê Khánh Đồng như một người đi tiền trạm, xong việc rồi trở về nghiệp Y khoa, không đồng hành cùng đoàn quân Thơ mới nữa.
Mở đầu phần Thơ buông của Lê Khánh Đồng có lời dẫn nhấn mạnh quan niệm mới về hình thức nghệ thuật câu thơ: “Chữ Thơ đây nghĩa là tính tình thơ, cho nên bất cứ văn xuôi và văn vần tả tính tình thơ đều là Thơ. Buông nghĩa là buông trôi, buông thả, tự do vậy.”
Việc xếp đặt các tác phẩm thiếu nhất quán, không theo thứ tự, đan xen sáng tác với dịch, thơ và kịch, thơ ca và văn xuôi. Phần thơ dịch và lược dịch có các bài La Rosse (Hoa hường) của Ronsard (sau in lại trên báo Phụ nữ tân văn, có vi chỉnh, 1932); Ode à Hélène (Lúc em đã già) của Ronsard; Chuột phố với chuột đồng của La Fontaine; Britannicus - Tuồng Britannicus (Hồi thứ năm) của Racine, Le Cid - Tuồng Lô Địch của Corneille… Phần thơ sáng tác tiếng Việt chủ yếu có các thể lục bát, song thất lục bát, yết hậu, tự do (bài dài nhất 52 câu và ngắn nhất 3 câu, câu thơ dài nhất 12 chữ, ngắn nhất chỉ có 1 chữ): Hoa tàn, Thương ai, Lời từ giã cây cối và nhà cửa, Câu hát nhà quê, Đêm thu mé biển, Chợt tin nhà đã bán rồi, Hồn vợ nói với chồng, Hồ Tây… Mở rộng sang bộ phận văn xuôi đoản thiên có truyện tự thuật Ông bà, lối văn ghi chép, du ký và cuối cùng là mục Thơ vui.
Đúng tinh thần trong lời dẫn, Lê Khánh Đồng chủ ý sáng tạo, thử nghiệm, phá cách, mở ra những lối thơ mới, hình thức mới, tạo nên nét tân kỳ, mới mẻ, hấp dẫn. Đơn cử bài Hồ Tây với 23 câu thơ, số chữ mỗi câu tăng dần từ 1 đến 12 rồi lại giảm dần theo chiều ngược lại, tạo thành kiểu thơ hình quả trám, thể hiện một lối thưởng thơ, chơi thơ, “thả lá thơ chơi”, “tân hình thức”, thiên về trổ tài vị nghệ thuật:
“Hồ
Tây Hồ,
Sóng nhấp nhô.
Chung quanh lặng lẽ,
Mấy hàng cây điểm tô.
Trên mặt nước bao nhiêu vẻ,
Mặt trời ánh chói, bóng giăng lòe.
Giọt nước long lay, vàng xanh đẹp đẽ,
Như cái gương tròn của mỹ nữ buồng khuê.
Dội bao phong cảnh của giời đất vào một khóe,
Lại xung quanh bờ, khách tình nhân gắn bó nhời thề.
Có khi đôi lứa trầm luân, vì nỗi tơ duyên trắc trở,
Lại có kẻ trải đời gánh vác, trông đã nặng nề.
Đem thân đi gửi Từ bi để ngài che chở,
Cầu lấy hạnh phúc thỏa kiếp muôn đời.
Đêm ngày bái lễ ở chùa Trấn Võ,
Lại có kẻ nghiên bút theo đòi.
Ấy học trò trường Bảo Hộ,
Nay buồn ra bờ trông,
Hỏi hồ có nhớ,
Tới lịch sử.
Anh hùng,
Không?”
Xin giới thiệu thêm những tìm tòi hình thức thơ ca có ý nghĩa mở đường của Lê Khánh Đồng. Chẳng hạn bài Ong đút:
“Vù vù!/ Bên tai cái gì bu?/ - Vơ ong đút!/ Rờ ót,/ U!”
Câu cuối bài thơ chỉ có một chữ, đồng dạng lối thơ yết hậu. Cả bài thơ năm câu tái hiện hoạt cảnh Ong đút (đốt, châm) tai quái, tức cười, không thuộc một thể thơ nào, chưa từng thấy, chưa từng có. Buông!...
Bài Đám mây: “Đám mây vừa bay qua/ Đi đâu mà?.../ Cũng giống ta!”
Không phải ta giống mây mà là mây giống ta, thế giới tự nhiên giống ta!? “Duy ngã độc tôn”, tưởng rằng chỉ có một ta lang thang, bơ vơ, trôi nổi, kiếm tìm. Cũng buông!
Ấn tượng về câu chữ những bài thơ khác lạ, khi tổng kết Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh - Hoài Chân (1942) còn nhắc nhớ, xác định vai trò và ý nghĩa văn học sử của trường hợp Lê Khánh Đồng: “Thực ra, từ trước, trên sách vở báo chương thỉnh thoảng thất ngôn luật cũng đã phải nhường chỗ cho lục bát, song thất lục bát, cổ phong, từ khúc, vân vân... Lác đác người ta còn thấy xuất hiện những bài không niêm, không luật, không hạn chữ, hạn câu (…). Ấy là những bài gọi là Thơ buông của một sinh viên trường Cao đẳng, ông Lê Khánh Đồng, đã làm một trò cười cho chúng ta hồi nhỏ. Những bài như thế mà dám mạo danh là thơ, cứ thời bấy giờ thực đáng khép vào tội phạm thượng. Một sự biến cố dường ấy mà xẩy ra được, dầu không được công nhận, cũng đủ chứng rằng cái thời vận luật Đường đã cực kỳ suy vi”...
Ở đây cần chú ý cách nói của Hoài Thanh - Hoài Chân khi cho rằng lối thơ buông “đã làm một trò cười cho chúng ta hồi nhỏ” không phải vì chất lượng thơ kém mà trước hết bởi lối thơ khởi nguồn này quá mới lạ, hình thức quá khác biệt, xa lạ, tân kỳ, lệch pha so với các thể thơ quen thuộc. Sự “cười” trước những khác biệt, tân kỳ sau này sẽ trở nên quen mắt quen tai hơn và trở thành dòng chủ lưu với đại chúng độc giả phong trào Thơ mới.
Thực tế cho thấy có một số bài thơ, cả sáng tác và dịch, trong tập Thơ buông đã được tác giả chỉnh sửa và mấy năm sau cho in lại trên báo. Chẳng hạn, bài Đêm thu mé biển được tuyển in lại trên Phụ nữ tân văn vào hai năm trước khi phong trào Thơ mới ra đời.
Thế rồi vào đúng năm đầu Thơ mới chính thức trình chánh, bản lược dịch bài thơ La Rosse (Hoa hường) của nhà thơ Pháp thời Phục hưng Pierre de Ronsard (1524-1585), được Lê Khánh Đồng cho in lại ở mục “Dịch thơ Tây” trên báo Phụ nữ tân văn (có bổ sung bản tiếng Pháp, tháng 10/1932), chuyển bài 18 câu thơ Pháp thành 15 câu thơ Việt.
Ngay trong năm này ông tiếp tục cho in lại bài thơ Hồn vợ nói với chồng khá độc đáo, có chỉnh sửa nhiều câu chữ, gồm 52 câu lục bát cũng trên báo Phụ nữ tân văn (tháng 12/1932). Nội dung chính của bài thơ là lời tâm sự của hồn người vợ về nỗi nhớ thương chồng con, thương thân tiếc phận, tiếc nhớ cõi người, cõi đời. Bài thơ mở đầu với không gian liêu trai hư ảo: “Lúc trời mới rạng ánh vàng,/ Lúc đêm vắng vẻ mơ màng trên không…”
Hồn người vợ độc thoại nỗi đau thương vì mất mát, cách chia, vợ chồng âm dương cách trở: “Chàng ơi, phận thiếp bọt bèo,/ Đã đành cách kẻ thương yêu một đời./ Lòng vàng em hãy còn tươi,/ Nhớ anh muôn thuở biết đời nào phai.”
Cho đến 6 câu kết trở lại không gian giả tưởng, mơ tưởng, mộng tưởng, thương cảm, sâu nặng nghĩa tình:
“Vì ai, chồng góa con côi!/ Đau lòng tôi lắm chàng ơi hỡi chàng!/ Gió đêm đập lá cau tàn/ Trời hè sao rụng tăm chàng nhớ không?/ Đêm khuya thương nhớ vô cùng/ Nên tôi về đó cho lòng đỡ khuây.”
Nhưng rồi trong suốt thời Thơ mới, hầu như không thấy Lê Khánh Đồng sáng tác gì thêm. Ông giữ vai trò người khai quang, tạo đà, khởi động, kiến tạo, lát nền Thơ mới nhưng không tiến tới, đồng hành, phát triển.
*
So với nhiều tác giả trong phong trào Thơ mới (1932-1945) và các thi nhân quê Hà Tĩnh, Lê Khánh Đồng đã giữ vai trò người tiền trạm, thử nghiệm vào giai đoạn đêm trước phong trào Thơ mới. Nếu như hoạt động dịch thuật của Lê Khánh Đồng góp phần đưa đến nguồn xúc cảm mới, chủ đề chủ điểm mới thì phần sáng tác là những thử nghiệm thực sự mới mẻ về hình thức, được người đương thời ghi nhận, chào đón.
Trên phương diện văn học sử, sáng tác và dịch thuật thơ ca của nhà tiền trạm tiên phong Lê Khánh Đồng ghi dấu sự gắn kết, chuyển hóa nền thơ cổ và kim, dân tộc và hiện đại, phương Đông và phương Tây, giữ vai trò mầm triệu, gây dựng, khơi dòng, xây nền đắp móng phong trào Thơ mới giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.