Sáng tác

Mưu phạt tâm công. Truyện ngắn của Lê Ngọc Minh

Lê Ngọc Minh
Truyện 06:00 | 23/02/2026
Baovannghe.vn- Trời mới mưng mửng sáng, tiếng chim rừng đã rộn lên, khiến một người dáng gầy gò, ngồi bật dậy từ hốc cây hõm của gốc đại thụ.
aa
Mưu phạt tâm công. Truyện ngắn của Lê Ngọc Minh
Minh hoạ: Nguyễn Xuân Anh

1.

Người đó có mạo diện thư sinh, tuy áo khăn xộc xệch, bết ướt sương rừng nhưng có nét phong lưu, đĩnh đạc. Đeo lại cái tay nải, chàng lần bước đi về nơi có tiếng nước chảy vọng lại.

Đến bờ suối, tìm được chỗ bằng phẳng, chàng mệt mỏi ngồi nghỉ, mở tay nải lấy ra quả bầu be nhỏ, cúi xuống, định vục nước vào nhưng rồi lại để sang cạnh, khum hai bàn tay, vốc nước rửa mặt. Nhìn thấy đầu tóc mặt mũi mình thấp thoáng hiện ra trong màn nước, chàng giật mình, tự hỏi: “Thân ta tiều tụy đến mức này ru?” Dù vậy, chàng cũng kĩ lưỡng sửa lại áo khăn và xoa vào quầng mắt cho thêm tỉnh táo. Sương bắt đầu tan, chàng ngước nhìn lên khoảng sáng nơi cửa rừng, thấy một đàn mồng két xếp hàng mũi tên đang khoan thai bay về hướng mặt trời mọc. Chăm chắm nhìn theo cho đến khi đàn chim mất hút, chàng thở dài ta thán: “Những con sếu kia còn sướng hơn cái thân ta nhiều!” Giở tay nải, chàng lấy ra túi gạo rang, nhón vài hạt nhấm nháp. Cơn đói chợt đến, chàng dốc gạo ra đầy lòng bàn tay nhưng lại chỉ dám ăn thêm ít hạt vì sợ đường còn dài, thứ lương khô này mà hết thì chắc sẽ chết đói mất. Chàng lắc lắc cái bầu be, nó khô kiệt nên lại bụm tay vốc nước suối, chiêu cho trôi những mụn gạo rang đang nhá trong miệng. Sau đó, chàng nhấn cái bầu xuống suối, đơm đầy nước…

Nhìn về phía mặt trời mọc như để ước lượng thời gian, chàng khoác tay nải vào vai, xách bầu nước, bước đi tiếp.

Con người đang lâm vào cảnh đói khát cơ nhỡ trong rừng sâu đó chính là Ức Trai Nguyễn Trãi.

2.

Hơn một tháng trước, người em họ cháu cô cháu cậu với chàng là Trần Nguyên Hãn đột ngột đến chỗ góc thành phía nam Thăng Long, nơi chàng từng cảm thán cái cảnh bị giặc Minh giam lỏng, không cho đi đâu xa, không được tiếp xúc với ai bằng vần thơ: Góc thành nam lều một gian/ No nước uống, thiếu cơm ăn/ Con đòi trốn dường ai khiến/ Bầy ngựa gầy thiếu kẻ chăn… Hãn thua chàng mười tuổi. Từ lúc còn thiếu niên, Hãn đã có sức vóc hơn người, rất ham mê nghề võ, chuộng việc xem thiên văn và khá am tường phong thiên địa lí. Hãn đến, thầm thì hé lộ, chính tai Hãn đã nghe thần núi Tản Viên nói chuyện với nhau, rằng có một đấng cứu nạn cho dân Đại Việt đã xuất hiện ở hướng Tây Nam xứ Thanh Hoa. Hãn đem theo lời linh thần ấy, mai danh ẩn tích, trà trộn vào nhân gian và nghe thêm được câu: Nhất cao là ngọn núi Lam/ Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra.

Thế rồi, nhân ngày sóc (ngày mồng một của tháng), khi được quân Ngô cho ra khỏi thành để đi chùa Kim Liên, bái Phật, chàng đã được Hãn đón sẵn. Hai anh em cải trang thành dân sơn tràng, vọt lên xứ Đoài, hướng về Tản Viên, bái lạy linh thần rồi xuôi sông Đáy, vượt bao nỗi gian nguy rừng thiêng nước độc, thú dữ và đồn trại của giặc để vào xứ Thanh mong được tụ nghĩa.

Đường đất hiểm trở, ngái xa, nhiều lúc Trãi bị kiệt sức, chàng được Hãn cõng lên lưng hàng thôi dài, ngày nghỉ đêm đi. Khi qua được bến đò Gián, đêm nào hai người cũng xem thiên văn. Cứ nhìn chòm sao hình rồng chầu hổ phục ở góc Tây Nam rừng Cúc Phương, Trãi biết những điều Hãn nói đã được trời đất hiển linh bằng sắc diện kì lạ của các đại tinh tú.

Nhờ thế, đoạn đường cuối cùng phải băng qua hơn năm mươi dặm rừng Cúc Phương để vào đất Thanh, Trãi cảm thấy như khỏe hơn, ít khi phải cậy nhờ đến sức lực mình hổ lưng gấu của Hãn.

Khi đến tả ngạn dòng Lỗi Giang thì cả hai đều sững nhìn, vì trước mặt họ là hình thế núi Cửa Hà dựng đứng, phẳng như một bức tường khổng lồ soi bóng xuống dòng sông xanh ngắt chảy qua, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên kì thú. Cảnh sắc hữu tình an lạc ấy đã khiến Trãi hứng khởi đọc cho Hãn nghe mấy câu thơ mà chàng sưu tầm trong nhân gian khi làm sách Dư địa chí: Cửa Hà không phải của sông/ Mênh mang sơn thủy một vùng bao la/ Khách viễn phương đến Cửa Hà/ Mải mê chiêm tưởng mấy tòa càn khôn.

Đến chiều tối, hai người đến đường chính dẫn vào trang Lam Sơn. Hôm đó, trong trang này có buổi lễ cúng cơm mới mừng vụ lúa bội thu. Từ các con ngõ nhánh, các lối đường mòn, nam phụ lão ấu đổ về nhà ông hào trưởng Lê Lợi, chủ sự trang Lam Sơn, đông vui nườm nượp.

Hai chàng trai xứ Bắc bàn nhau chưa thông báo danh tính vội mà nhập luôn với đám người nhà quê bản thổ để bí mật tiếp cận, xem chủ đất Lam Sơn là người thế nào.

Thế rồi, họ làm như lữ khách nhỡ đường, vào mượn chỗ tá túc qua đêm, để hôm sau tiếp tục hành trình.

Trãi và Hãn liền được các chàng trai mộc mạc, nói năng tuy thô vụng nhưng rất hiếu khách của hương Lam Sơn đưa vào nhà ông hào trưởng. Gặp lúc đám cúng cơm mới hạ cỗ, ai nấy ngồi kín các mâm, bốn một tám hai, ăn roàn roạt như tằm ăn rỗi, uống hun hút như hũ chìm. Hai người khách lạ được ghép vào các mâm và dặn hãy tự nhiên thụ lộc cơm mới của ông bà chủ, phải “mở bụng” ăn uống cho thật no say. Hãn là con nhà võ, đang sức trai trẻ, tính tình dễ hòa nhập, bụng lại đói cồn đói cào nên nhập vào một mâm toàn trai tráng vạm vỡ, ăn uống bất thùng chi thình không cần phải mời mọc. Trãi thì khác, chàng kín đáo nhìn khắp lượt rồi rỉ tai người ngồi cạnh, dò hỏi xem, ai trong đám nông phu, trai bản đang ăn uống, nói cười oang oang, mồm miệng nhồm nhoàm rượu thịt, là ông Lê Lợi.

Người đó thân tình chỉ cho Trãi biết, chỗ ông hào trưởng đang ngồi đánh chén.

Trãi kín đáo quan sát Lê Lợi, trông ông ấy cũng giống như những người đang say sưa ăn uống, khóe miệng cũng nhòe nhoẹt vết máu tiết canh, tay còn khoành vòng cung, móc vào tay người đối diện, đưa cay bằng cái bát sành sóng sánh rượu, chứ không hề có tí chút gì linh khí chói lòa của sao Cương, sao Đẩu mà chàng từng xem thiên văn.

Cái quần cộc bỏ lá làn của ông Lê Lợi căng thít giải rút. Bốn năm người ở các mâm khác đã đến đứng sau ông để chờ lượt được khoành…

Trãi bắt đầu chán. Được một lúc thì chàng cố bấm bụng để khỏi lắc đầu vì cái chán đã dâng lên quá mức. Lại kịp nén một tiếng thở dài nhưng trong lòng chàng, nỗi bất mãn vẫn thầm nhủ: “Linh khí nước Nam chỉ hun đúc được một ông Lê Lợi thế này thôi ư? Tạo hóa định đùa bỡn với vận mệnh của Đại Việt bằng một hiển linh thô ráp quê kệch thế này thôi ư?”

Trãi kín đáo đến chỗ chú em họ, ra hiệu muốn bỏ đi nhưng chàng thấy Hãn cũng đã cởi áo, mình trần trùng trục như đám trai tráng bản địa và ăn ăn uống uống như hút, như cuốn.

Trãi lại bấm bụng để khỏi phải rủa thầm, không khéo thằng Hãn sẽ chết rấp trong ngòi rãnh với phường giá áo túi cơm nơi rừng sâu, núi thẳm này mất thôi!

Thế là, Trãi rời trang Lam Sơn. Đi được một quãng thì trời sập tối, Trãi phải căn theo hướng sao Bắc Đẩu mà đi suốt đêm, băng rừng đại ngàn...

3.

Ngọn núi dựng đứng trước mặt khiến Trãi định tâm với thực tại. Chàng mừng quýnh, vì nhận ra, đó là quang cảnh Cửa Hà, nơi hôm qua, chàng và Hãn đã sang đò để vào đất Lam Sơn. Thế là may rồi, chàng đã không bị lạc đường ra Bắc.

Gần đến bến, Trãi thấy không có con đò nào cả. Chàng bỗng chột dạ, tự hỏi, sang bên kia rồi sẽ đi đâu? Phải vượt rừng Cúc Phương mênh mông đầy thú dữ, rắn rết, trùng độc một mình ư? Và, nếu ra được Thăng Long, chàng có dám trở lại cái lều cô quạnh ở góc nam thành, thiếu thốn đủ bề không? Chàng sẽ trả lời bọn quan quân nhà Minh ra sao, khi chúng truy hỏi, hơn một tháng qua, chàng đã ở đâu? Tụ bạ chỗ nào? Do đâu mà hình dong lại tiều tụy, mòn hao đến nỗi này?

Ruột gan đang bối rối trăm bề thì chàng bỗng nghe một giọng con gái vang lên lanh lảnh: “Bác khách ơi! Còn sớm lắm, chưa có đò đâu, mời bác vào quán em, uống nước xơi trầu, chờ đò sang là vừa!”

Nghe thế, Trãi ngó nhanh sang bờ bên tả. Chỉ có sương phủ mịt mờ trên mặt sông. Quay về phía tiếng gọi, chàng thấy, trước cái quán nhỏ là một cô gái, dáng người cao ráo, đầu vấn khăn mỏ quạ, áo tứ thân, để lộ ra khuông yếm trắng căng vồng. Cô giơ tay vẫy vẫy, cùng lời mời đon đả: “Bác cứ yên tâm vào quán em, uống nước, nghỉ ngơi cho khỏe, phải chờ sương tan, đò mới sang, bác ạ.”

Trãi đành đến chỗ quán. Thấy cô gái, vẻ mặt hồng hào tươi tắn trong bộ xống áo sạch sẽ lành lặn, hai tay thoăn thoắt với công việc, chàng không khỏi bối rối với trang phục và hình dong của mình.

Cô đặt cơi trầu và săn sả dâng chén trà bằng hai tay mời Trãi. Hương trà ngào ngạt thơm khiến chàng buột miệng hỏi: “Cô cất được ở đâu thứ trà quý thế?” Cô gái: “Em dạ thưa bác, của nhà cả đấy ạ, bác dùng trà rồi góp ý thêm để nhà em gia giảm cho thêm ngon thơm ạ!”

Trãi nhấp trà, chàng gật gù thích thú. Cô gái mở cái bồ nứa lấy ra những bắp ngô luộc, hơi tỏa nghi ngút đặt trước khách, mời: “Bác xơi cho nóng! Ngô nếp này, nhà em mới luộc lúc rạng ngày!” Trãi cố ghìm cơn đói, nói: “Cảm ơn cô! Cô thật là đảm đang khéo léo, tôi thấy mọi thứ bày bán ở đây đều tinh sạch, bắt mắt cả. Xin hỏi cô tên là gì?” Cô gái vui vẻ đáp: “Dạ, em cảm ơn bác. Em tên Lam ạ! Được bác khách có lời khen, quán em sẽ càng phải cố gắng thêm nhiều! Bác ơi! Bác dùng trà rồi ăn ngô nóng cho khỏi bị cồn ruột.” Lam vừa nói vừa bưng đĩa ngô lên mời khách.

Cơn thèm dâng trào đến nỗi, bụng Trãi réo lên như sôi, phô diễn cái đói ngấu trước cô chủ quán trẻ tươi. Chàng vội nói lời cảm ơn cô và cầm một bắp ngô lên ăn.

Đói, nhưng chàng vẫn ăn theo cái nết của người quân tử đất kinh kì. Tay tỉa từng hạt ngô cho vào miệng chứ không “gặm ngang” như cách người thường ăn ngô luộc.

Càng thế, cái đói như càng thôi thúc, chàng phải dùng liên tưởng đến hình ảnh ông chủ tướng Lam Sơn ăn tiết canh để tự răn mình.

Ngược lại, cô Lam thì luôn miệng giục chàng: “Mời bác xơi nhanh cho nóng ạ. Bác phải xơi đủ ba bắp thì mới no bụng, đi đường dài…”

Bỗng có tiếng ngựa hí vọng từ phía bến đò vọng lại khiến Trãi phải cảnh giác đứng lên, đi ra nhìn xuống bến và thấy trên đò có hai con ngựa cùng một tốp người, tay cầm giáo dựng ngược. Trãi đương ngờ vực thì cô Lam cũng đứng lên theo, nhìn ra, trấn an chàng: “Bác khách cứ bình tâm, vùng này bọn giặc Ngô không dám ló mặt ra đâu.”

Hai từ ló mặt mà Lam vừa nói khiến Trãi phải hỏi lại: “Sao cô chắc chắn thế?” Lam: “Dạ thưa bác, em chưa khi nào thấy bọn Ngô dám qua cái eo núi kia, vì lối đó hiểm lắm, ban ngày thì có cướp, ban đêm thì có hùm beo phục bắt.” Trãi: “Vậy, những kẻ gươm giáo sang đò kia là ai?” Cô chủ quán: “Dạ, em đoán, đấy là người đến Lam Sơn, tìm ông Lê Lợi, tụ nghĩa ạ!” Nghe thế, Trãi đâm ra nghĩ ngợi. Cô Lam nói tiếp: “Bác có xuống đò để em đưa bác ra bến?” Trãi chưa kịp đáp thì có một người, phong độ tráng sĩ, đầu chít khăn đỏ, phi ngựa đến.

Còn cách một đoạn, con ngựa bỗng dừng hẳn lại trước quán, đứng dựng bằng hai chân sau, chờn vờn hai chân trước như chào đón chủ nhân. Tráng sĩ rời lưng ngựa, quỳ một chân, cất tiếng vang như chuông: “Kính chào tiên sinh Nguyễn Trãi! Em vâng lệnh đến rước tiên sinh về Lam Sơn để chủ súy em được bái kiến!”

Nguyễn Trãi lúng túng, chàng vội cúi xuống đỡ tráng sĩ dậy, thân tình hỏi: “Trãi tôi đa tạ ngài chủ súy đất Lam Sơn! Xin tráng sĩ cho biết quý danh?” Tráng sĩ: “Kính lạy tiên sinh, em tên là Lôi, họ Trương, được chủ súy thương mến, coi như đệ huynh thủ túc trong nhà!”

Cô Lam tươi cười mời mọc hai người vào quán.

Tại đây, Trãi biết, Lam và Trương Lôi là vợ chồng. Trong câu chuyện mỗi lúc một thân tình với cặp vợ chồng trẻ, Trãi tiếp tục thưởng trà ngon, thoải mái ăn uống no bụng, và biết được cái quán này là do ông Lê Lợi lập ra để đón chào người đến Lam Sơn tụ nghĩa. Trãi cảm thấy xấu hổ vì đã nông nổi bỏ đi khi thấy ông Lê Lợi cởi trần, ăn uống như phường phàm tục. Chàng đã không biết rằng, đó là thâm tình. Thứ thâm tình đại nhân, đại nghĩa mà sau này, khi đất nước khải hoàn, được giao soạn Đại cáo bình Ngô, chàng đã hồi quang bằng những con chữ thần bút: Tướng sĩ một lòng phụ tử/ Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.

Rồi tiếp, nhìn lại sức vóc và cách ứng xử dân dã, thực thà, thiện nguyện của vợ chồng người đầy tớ chủ đất Lam Sơn, chàng thầm nghĩ, ông chủ có thế nào thì mới nạp dụng được các thủ túc mưu trí, dễ gần như thế này chứ? Ý nghĩ ấy khiến chàng hào hứng lên ngựa, đi theo Trương Lôi về hướng Lam Sơn.

4.

Con ngựa lông tía hùng dũng phi như gió lốc, đưa Trương Lôi và Nguyễn Trãi vào một rừng lim cổ thụ. Đến một thung lũng bằng bịa, ngựa lông tía bỗng dừng lại và hí rộn lên. Nguyễn Trãi trông thấy một nhóm tráng sĩ có cả Trần Nguyên Hãn đứng thành hai hàng “tả hữu” bên Lê Lợi. Ông chủ đất Lam Sơn trong trang phục áo dài màu nâu sáng, đầu đội khăn, phong thái trang trọng như vị chủ súy đang chờ đợi đón khách ở lối đường rẽ vào một cái trại mới lập, gồm năm sáu ngôi nhà, trong đó có hai ngôi nhà sàn rộng, cột gỗ, mặt sàn lát bằng các tấm đan bằng vầu. Trước hai ngôi nhà đó đều có bảng đề “Nhà cầu hiền”. Chào hỏi, thông danh tính xong, Lê Lợi thân đưa Nguyễn Trãi đi tắm rửa thay áo.

Một tiệc rượu được bày trên các tấm chiếu hoa trải ở nhà cầu hiền bên tả. Nguyễn Trãi nhìn ra thấy, xung quanh cái thung lũng kín đáo đó có các tráng sĩ, trang phục gọn ghẽ, đứng im phắc, mắt nhìn thẳng cầm giáo dài đứng gác.

Lê Lợi nhân danh anh em Lam Sơn cảm tạ chí hướng của hai vị sĩ phu đã lặn lội từ Thăng Long vào xứ Thanh Hoa tụ nghĩa và không quên tạ lỗi đã để một đại hiền suýt nữa dứt áo bỏ đi. Bữa tiệc như một sự khắc phục sự thất thố chiều hôm trước.

Cái “không khí” nghiêm trang lúc đầu dần dà nhường chỗ cho sự vui vẻ chúc tụng, thách đố cạn chén. Chủ súy Lê Lợi luôn miệng mời, luôn tay trở đũa, tiếp món ăn cho Nguyễn Trãi và các tráng sĩ ngồi cùng mâm. Khi thấy Nguyễn Trãi cứ luôn dùng từ “Tạ ơn minh công”, Lê Lợi chắp hai tay tạ lại, nói: “Anh em tôi chỉ là những nông phu ở xó núi, thực lòng không dám lạm nhận lời tôn xưng trang trọng của tiên sinh.” Nguyễn Trãi: “Thưa minh công, cái gì đến thì ắt phải đến, cứ nhìn dung quang của ngài và hào khí của anh em Lam Sơn thì rõ, việc Trãi tôi và chú Hãn lặn lội từ Đông Đô vào đây, thật đáng bõ cái công “Chim khôn chọn cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ.” Thưa minh công, ngài cần sớm lên ngôi vương, phất cờ đại nghĩa, tập hợp muôn dân cùng mưu đại nghiệp bình Ngô cứu nước. Danh chính thì ngôn thuận.” Lê Lợi: “Tiên sinh! Vừa rồi tiên sinh chỉ giáo về danh chính ngôn thuận, Lợi tôi như được vén mây mờ, nhìn thấy cao xanh nhưng e sức còn non, lực còn mỏng, lại xuất thân ở nơi xó núi hoang sơ mà lạm xưng, sợ thiên hạ chê cười, ngoảnh lưng không theo!” Nguyễn Trãi: “Tiếng tốt của ngài đã lừng lẫy ra tận Bắc Hà. Trong lúc bách tính Đại Việt khổ ải còn hơn bị chém ngang lưng, bị dốc ngược đầu, mệnh trời đã đặt lên đôi vai ngài, đại sự thế thiên hành đạo! Phàm việc lớn không có gì quan trọng hơn ý trời và lòng dân. Khi thiên thời phù rập, nhân hòa kết mối thì đại nghiệp tự chủ của nước Nam ta có thể khôi phục được.”

Ngoài sân bỗng dậy lên tiếng huyên náo, Nguyễn Trãi nhìn ra, thấy một tướng mặt đen, râu rậm đầy mặt, đôi mắt to như hai đọi đèn, cắp một đôi nong, vọt một cái đã bay lên nóc ngôi nhà cầu hiền đối diện. Trên đó vị tướng nắm hai tay vào vành đôi nong múa tít, rồi lại bay sang nóc các ngôi nhà khác… Mọi người còn đang tròn mắt kinh ngạc thì lại có một vị tướng trẻ măng, dáng vóc vâm váp nhưng mặt non choẹt như thiếu niên xuất hiện ở sân, trên đầu ngón tay trỏ của chàng là hòn đá lăn lúc dựng đứng, lúc nghiêng nghiêng xoay tít, có lúc còn bị hất lên không trung rồi rơi xuống đúng vào đầu ngón trỏ…

“Thật là người trời!” Nguyễn Trãi thốt lên rồi hỏi Lê Lợi: “Thưa minh công, hai thiên tướng đó là ai?” Lê Lợi: “Thưa tiên sinh, tướng mặt đen là Lê Lai, người làng Dựng Tú, gần đây; còn cháu bé xoay hòn đá lăn bằng ngón tay trỏ là con đầu anh ruột của Lợi, cháu mới mười bốn tuổi!” Nguyễn Trãi nâng chén chúc mừng Lê Lợi, hỏi tiếp: “Hiện minh công có được bao người như hai thiên tướng vừa rồi?” Lê Lợi: “Chẳng giấu gì tiên sinh, anh em đã có được mươi mười lăm người trí dũng hết lòng vì đại nghĩa cứu nước an dân.” Nguyễn Trãi lại thêm lần nữa chúc mừng Lê Lợi và chàng mở cái tay nải lấy ra một cuốn sách và nhanh chóng quỳ xuống dâng lên khiến Lê Lợi. Đó là cuốn Bình Ngô sách!

Lê Lợi khom người, vừa nhận sách, vừa đỡ Nguyễn Trãi lên. Ông tạ ân rồi háo hức mở xem. Ngay trang đầu sách có bài từ rằng: Mưu phạt tâm công/ Loạn náo bụng giặc/ Mai phục ẩn mình/ Hưng binh Thanh Nghệ/ Long Thành vây hãm/ Chặn lương, diệt viện/ Đại sự tất thành. Lê Lợi đọc to lên cho các tráng sĩ cùng nghe rồi rất mực thành tâm nói với Nguyễn Trãi: “Xin tiên sinh chỉ giáo thêm để Lợi tôi và anh em nghĩa sĩ Lam Sơn lĩnh hội được đầy đủ mưu cơ đánh giặc Ngô của tiên sinh!” Nguyễn Trãi: “Tạ ơn minh công đã hỏi. Về đại lược bình Ngô, Trãi tôi đã nêu ở đề từ và lạm bàn chi tiết trong sách như sau: Trước hết, ngài cần danh chính lên ngôi vương tá để bá cáo với thần dân Đại Việt, là nước Nam đã có người vâng mệnh trời, dựng cờ tụ nghĩa, cứu nước. Lúc đầu, lực ta còn yếu thì tạm ẩn giấu mình, khi phải đánh giặc thì dùng kế mai phục, lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều; trong mọi lúc, tại mọi nơi, không lúc nào được nguôi chí gây dựng lực lượng, tích lũy lương thảo. Ta cần sớm có trận đầu đại thắng gây dựng thanh thế, làm cho lòng dân dâng trào chí khí, khiến quân thù phải khiếp vía vỡ mật. Cùng với việc giữ đất Thanh Hoa làm nơi căn bản, ta phải sớm đưa quân vào giải phóng Nghệ An. Xứ Nghệ là đất dụng võ, đất rộng, dân đông, địa thế hiểm trở, hào kiệt anh tuấn nhiều. Có được Nghệ An rồi thì xứ Thuận Hóa coi như cũng thuộc về ta. Thuận đà, ta tiến ra Bắc bằng hai gọng kìm. Gọng thứ nhất giải phóng Sơn Nam hạ, vây hãm Thăng Long, gọng thứ hai đánh lên Sơn Nam thượng đến ải Lê Hoa ở Tây Bắc và ải Nam Quan ở Lạng Sơn. Giặc ở Đông Đô bị hãm, tất phải cầu cứu vua chúng ở Yên Kinh chi viện. Trãi nghĩ, viện binh giặc chắc chắn vẫn theo đường cũ là Vân Nam và Ải Nam Quan. Khi ta chặn, diệt xong hai cánh viện quân này thì bọn giặc Ngô ở Đông Đô hoàn toàn bị nhốt trong cũi. Tiếp tục mưu phạt tâm công, ta khoan hồng mở sinh lộ cho chúng rút về Bắc thì cơ đồ tự chủ của Đại Việt ta hoàn toàn dựng lại được!”

“Thật là diệu kế!” Lê Lợi thốt lên và kéo tất cả anh em nghĩa sĩ chắp tay bái Nguyễn Trãi làm quân sư.

5.

Vào giờ hoàng đạo, một ngày đại cát, các nghĩa sĩ Lam Sơn tôn Lê Lợi tiến ngôi Bình Định Vương. Vào sáng ngày tết khai hạ năm Mậu Tuất (1418), tin này truyền tới thành Tây Giai, nơi đặt trị sở của bọn xâm lược Ngô trên đất Thanh Hoa. Đô đốc Mã Kỳ, tướng coi việc võ; thái giám Sơn Thọ, coi việc văn, kíp họp với đám tướng súy thuộc hạ, bàn kế bóp chết từ trong trứng mầm loạn Lam Sơn. Mã Kỳ huênh hoang coi nghĩa quân Lam Sơn là thứ giặc cỏ, dẹp lúc nào, tan lúc ấy. Còn Sơn Thọ thì lo xa rằng, một đốm lửa cũng có cơ thiêu rụi muôn cánh rừng lớn. Cả hai đang còn tranh luận thì có một bọn tì tướng, thừa sai, mang vào hàng chục chiếc lá to. Trên mỗi lá đều có dòng chữ “Lê Lợi vi quân, Lê Lai vi tướng, Nguyễn Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua, Lê Lai làm tướng, Nguyễn Trãi làm quân sư). Lại còn thêm nhiều chiếc lá khác có thứ chữ loằng ngà loằng ngoằng như hình giun cuộn. Mã Kỳ sai kêu một người tù trưởng đến, bắt phải giảng cho nghe. Người này bẩm với hắn, đó là chữ của người Thái, nội dung cũng giống như chữ Hán ở các chiếc lá trước: “Lê Lợi vi quân, Lê Lai vi tướng, Nguyễn Trãi vi thần.” Bọn đầu sỏ giặc đang tranh luận gay go thì bỗng có một tên thám mã vào tâu báo, Lê Lợi đã bỏ Lam Sơn, dẫn hết quân tướng rút chạy về phía rừng Lạc Thủy. Mã Kỳ hất mặt hỏi hỏi: “Cả tướng lẫn quân, chúng có chừng bao nhiêu đứa?” Thám mã: “Bẩm đô đốc, chúng đi thành ba đám, mỗi đám chỉ vài trăm.” Mã Kỳ cười ầm lên quay sang nói với Sơn Thọ: “Sơn thái giám, cứ kê gối cao ngủ ngon nhé. Ăn tết khai hạ xong, Mã Kỳ tôi sẽ đem mười lăm ngàn quân thủy bộ, hành quân ba ngày, đánh một giờ, bắt ráo Lê Lợi và ba đám quân mấy trăm tên kia, đưa về Đông Đô lĩnh thưởng.” Vẻ mặt Sơn Thọ tuy bớt lo lắng nhưng y vẫn lưu ý Mã Kỳ, việc binh biến hóa không biết đâu mà lường, nếu thả hổ về rừng, đưa giao long xuống biển thì hậu họa không biết đâu mà lường.

Ngày mồng chín, tháng Giêng, Mã Kỳ thân dẫn mười lăm ngàn quân Ngô, chia làm hai đạo thủy bộ cùng tiến về hướng Lạc Thủy. Sơn Thọ cũng đi theo để làm giám quân. Sau ba ngày, chúng đến địa phận Lạc Thủy, khi trời sắp tối. Mã Kỳ truyền cho quân sĩ nghỉ ngơi, thổi cơm ăn, tinh mơ hôm sau, mở trận đánh.

Hắn vừa dứt lời thì có một nhóm chừng hơn mười người, toàn lão nhược cưỡi ngựa, cầm giáo kéo ra múa may, khiêu chiến. Mã Kỳ cười ruồi, đầy vẻ khinh mạt, cho đội quân tiên phong mấy ngàn tên tràn tới, lệnh phải bắt sống bằng hết. Toán quân Lam Sơn chưa kịp nghênh chiến đã vội bỏ chạy. Giặc ùa nhau bám theo, đám này quay lại, chưa kịp đánh, lại bỏ chạy tiếp. Bỗng có địa lôi nổ ầm ầm, nhưng quầng sáng lóe như chớp giật, rồi cả một vùng Lạc Thủy sáng bừng như ban ngày. Hai bên vách núi có đến sáu vị thiên tướng, thân cao đến mấy trượng, tay cầm gươm dài, mắt sáng như hai đọi đèn tóe lửa. Giặc còn đang rụng rời kinh hãi, thì đá hai bên vách núi lao xuống ầm ầm. Hết đợt đá lao, thấy các nghĩa quân theo tướng tiên phong Lê Thạch cưỡi ngựa lao vào giặc chém giết tơi bời. Ở chỗ bến sông, tướng mặt đen Lê Lai cùng các tướng Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý tay kiếm, chỉ huy nghĩa quân tả xung, hữu đột, chém giặc như chặt chuối. Giặc kêu la, chạy chí chết ra bến sông, chen nhau xuống thuyền, rơi xuống nước, loi ngoi ngụp lặn, chết không biết bao nhiêu mà kể. Trên bộ, Mã Kỳ cùng Sơn Thọ có đám tùy tùng hộ vệ cưỡi ngựa chạy chí mạng về hướng thành Tây Đô để thoát thân. Phía sau tiên phong Lê Thạch cùng một đoàn tráng sĩ reo hò đuổi theo...

6.

Trong trận mở màn ngày 13, tháng Giêng năm Mậu Tuất, nghĩa quân Lam Sơn đã dùng một phần thiên Mưu phạt tâm công trong Bình Ngô sách: Lúc đầu làm cho giặc sinh kiêu (tốp nghĩa quân già ra nhử giặc), dụ chúng vào nơi trọng địa, có dựng cảnh ngụy trang bằng các kì nhân (hình nộm các thiên tướng khổng lồ) rồi cho tướng trí dũng (Lê Thạch, Lê Lai, Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý) bất ngờ đem tinh binh ra quyết chiến. Trận ấy, với quân số chưa đầy ngàn người, nghĩa quân Lam Sơn đã đánh tan hai đạo quân thủy bộ, mười lăm ngàn tên, của giặc Minh; chém hơn ba ngàn thủ cấp, bắt sống hàng ngàn tên khác làm tù binh. Chiến công này mở đầu cho cuộc kháng chiến mười năm của nhân dân Đại Việt do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo, thu lại giang sơn đã bị giặc Minh cướp làm quận huyện của chúng từ năm 1407.

Lê Trí Dũng: Vung bút “Thần” trong tranh ngựa

Lê Trí Dũng: Vung bút “Thần” trong tranh ngựa

Baovannghe.vn - Trong nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, nếu đề cập những họa sĩ vẽ ngựa, có lẽ phải kể đến bậc thầy Nguyễn Tư Nghiêm.
Hình ảnh ngày Tết trong một số tác phẩm văn học Hàn Quốc

Hình ảnh ngày Tết trong một số tác phẩm văn học Hàn Quốc

Baovannghe.vn - Tết là một dịp đặc biệt quan trọng trong văn hóa truyền thống của người Hàn Quốc.
Nói với họng súng - Thơ Hoàng Vũ Thuật

Nói với họng súng - Thơ Hoàng Vũ Thuật

Baovannghe.vn- Tao biết mày có mặt trong cuộc đời này từ lâu/ cả những điều mày thích nhất
Du lịch TP.Hồ Chí Minh bứt phá dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026

Du lịch TP.Hồ Chí Minh bứt phá dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026

Baovannghe.vn - Dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, ngành du lịch Tp Hồ Chí Minh ghi nhận nhiều tín hiệu tăng trưởng tích cực với lượng khách và doanh thu tăng mạnh, cho thấy sức hút ngày càng lớn của điểm đến đô thị năng động trong những ngày đầu năm mới.
Nỗi nhớ hoa đào. Tuỳ bút của Nguyễn Sĩ Đại

Nỗi nhớ hoa đào. Tuỳ bút của Nguyễn Sĩ Đại

Baovannghe.vn - Lạ, gần đây năm nào cũng vậy, mới đầu đông mà lòng đã tở mở sang xuân.