Khoảng giữa ở giữa đường có một con hẻm cụt, sâu chừng trăm mét, rộng vừa một chiếc ô tô chạy vào. Rải dọc từ đầu hẻm vào tới tận cùng là liên tiếp những lồng, bội, rọ nuôi gà đá. Nhà nào cũng có vài ba con, nhiều nhất là mấy mươi con như nhà ông Bài cuối hẻm. Hầu như suốt ngày đêm người ta nghe tiếng gà gáy.
Gà nòi có, gà tre có, gà ta có, gà tây có. Nghĩ mà hay, giữa thành phố chật hẹp dây điện với bê tông lại dư dả tiếng gà quê. Ngoài tiếng gà gáy, hầu như người ta nghe toàn tiếng hò hét, chửi thề của bọn thanh niên tụ tập đá gà, cá độ. Ông Bài chưa đầy năm mươi tuổi nhưng bụng đã phệ, dáng ục ịch mỗi ngày vài bận đi dạo từ nhà ra đầu hẻm để coi gà - ông là chủ của hầu hết cái mớ lộn xộn này, từ việc thu chọn giống gà, thuê mấy gã nài gà chăm nuôi tắm táp và kiêm luôn việc tổ chức đá độ. Trước kia, ông là tài xế xe tải chạy Bắc Nam, khi về đây ở thấy xóm này "làm ăn" được nên ông dốc sức đầu tư vào. Khi ông mới về, người ta nuôi chim cảnh là chủ yếu, chỉ có vài lồng gà thôi. Ai muốn đá gà phải đi ra miệt ngoại ô mới có trường đá, ông sẵn có khoảng sân rộng nên hò dzô ta làm đầu têu trường gà tại nhà. Có máu mặt lại bạc tiền rủng rẻng nên ông Bài có uy dữ lắm, đám cò mồi hay du côn không dám quấy. Thi thoảng, anh cảnh sát khu vực có ghé vào hỏi thăm, ông nói nói, cười cười dắt vào nhà một lát thì xong cả. Sau đợt cúm gia cầm hoành hành, ông chủ trương chỉ nuôi gà chứ không nuôi chim nữa.
![]() |
| Ông Bài có nuôi một con bẹc giê giống Đức to cao, bộ lông dày mượt hệt sư tử - cưng chiều nó còn hơn con... - Ảnh minh họa: Efes / Pixabay |
Bà vợ ông Bài lại là người ưa kinh kệ. Không chịu nổi tính khí tục tằn của ông, bà xách giỏ đi chùa miết, một tháng chỉ về nhà có mấy ngày, miệng không ngớt "Nam mô, nam mô". Ông Bài chẳng có nhiều thời gian mà buồn vì sự vắng mặt của vợ - ngoài bầy gà bạc triệu với bao nhiêu việc canh me, lo lót để giữ trường gà, ông còn nuôi một con bẹc giê giống Đức to cao, bộ lông dày mượt hệt sư tử - cưng chiều nó còn hơn con. Ông hay gọi nó Út ới Út ơi... Sáng nay, ông Bài chở con Út đi ra ngoại ô dạo. Thấy đồng ruộng và nhiều đồng loại chạy rông trên đường, con Út sướng, chút chút lại gâu gâu rất chi hả hê. Sẵn ra Bình Chánh, ông Bài ghé trường gà của thằng đàn em lấy cặp gà mới nhập về. Ông cho treo hai giỏ lác đựng gà hai bên cổ xe, con Út đứng giữa hai đùi ông, cái mõm hích hích khoái chí. Xe bon bon chạy, trong khi ông Bài đang mải nghĩ về bộ lông sặc sỡ khác thường của cặp gà chiến mới thâu, phải băng cựa loại nào cho thích hợp với cặp giò săn chắc rặc giống Nam Mỹ này, sẽ ra quân với giá cả mồi chài ra sao để dụ bọn gà người đến cống tiền cho mình - thì con Út ngứa mõm, với cổ, cắn đứt cái quai giỏ lác bên phải. Giữa dòng cộ xe vi vu, con gà trống đến từ nửa kia trái đất vùng dậy, phóc một bước nhảy đã tung mình ra khỏi giỏ, bay như đại bàng vồ mồi xuống mặt đường. Ông Bài bất ngờ, luýnh quýnh, xe loạng choạng tấp vào lề, không kịp dựng chống xe, lao theo cánh gà. Con Út phóng xuống vệ đường, việc đầu tiên nó làm ở một vùng đất mới là ghếch chân sau vào một gốc cây theo bản năng loài cẩu. Đánh dấu lãnh địa. Chiếc xe lăn kềnh. Chiếc giỏ còn lại cũng bật ra. Con gà còn lại không cớ gì cứ nằm im trong nhà giam chật hẹp, vươn cổ, đập cánh phành phạch ngó nghiêng tìm đồng bọn rồi vù theo. Ông Bài chạy lạch bạch đuổi theo con kia chưa được, lại quay sang đuổi theo con này. Con Út vốn quen mùi gà, được huấn luyện không bao giờ cắn gà hoặc đuổi bắt gà nên cứ lẫy vẫy đuôi gừ gừ theo sau chủ. Lúc hứng chí, nó vượt lên, quấn chân làm ông Bài mất thăng bằng, vấp gờ nắp cống ngã sõng soài. Người đi đường vẫn đi. Họ không có thời gian cho họ nữa huống gì cho một gã đàn ông bụng phệ với con chó và hai con gà.
Sự việc diễn ra chóng vánh chưa đầy năm phút. Khi ấy, ông Bài tưởng chừng phải bỏ cuộc. Hai con gà đấm đá kiếm tiền ra sao chưa biết, nhưng chúng đã bắt ông đổ mồ hôi như thằng hề chạy lăng quăng xoành xoạch bên hè phố. Ông Bài mệt, ngồi bệt ngay bồn cây con Út vừa tè khi nãy. Con chó cưng hếch hếch mõm lè cái lưỡi dài cả gang tay liếm liếm tay chủ, trong lúc hai con gà không bị ai rượt bắt nữa thì chầm chậm tục tục nhau ở gốc cây cách đó vài mét. Chúng sợ người ta. Chúng chưa quen cảnh náo nhiệt cả rừng xe hai bánh giằng co từng xentimét chưa từng thấy trong đời. Tự do vừa bất ngờ rơi xuống thân phận chúng sau ròng rã hơn nửa tháng trời bị nhốt dưới hầm tàu, thì thoảng mới được rọi cho một chút ánh sáng đèn pin lúc cho ăn. Chẳng tội gì phải hậm hực xù lông xù cánh đá nhau giữa xứ lạ quê người thế này. Nếu không phải chỉ có hai chi dưới, có lẽ hai con gà sẽ không ngại hồ hởi bắt tay nhau.
Nhưng, chúng mừng hơi vội. Một thằng bé chừng mười ba, mười bốn tuổi đang nhè nhẹ lại gần gốc cây, xoay lưng ra đường lùa dần dồn dần hai con gà vào phía bên trong. Thình lình, thằng bé nhảy phóc một cú như con mèo vồ mồi, chụp gọn một con. Con kia rúm giò không chạy nổi. Ông Bài dợm chân đứng dậy định bước đến đòi lại gà thì thằng bé đã ra hiệu cho ông ngồi im. Nó đem con gà tới bên xe, nhét vào giỏ rồi đưa tận tay ông Bài.
- Bác cứ ngồi nghỉ cho khỏe. Với bọn gà, phải hết sức nhẹ nhàng, đừng kinh động. Bác xem này, con gà kia bây giờ chỉ còn đứng im chờ vào rọ thôi...
Ông Bài thế mà may. Tưởng mất toi mấy chục triệu không đâu vào đâu, hóa ra chẳng mất gì. Chẳng mất gì - có khi là được. Mặc dù thằng bé vội quơ quàng con gà còn lại, bị một chiếc xe máy chạy ngược chiều trên vỉa hè húc cho một cái rõ đau, phải đi cà nhắc. Nó đã không om sòm với người gây tai nạn, lại còn khẩn khoản như kẻ mắc lỗi. Hai tay ôm chặt con gà, nó vái lia vái lịa người đi sai đường kia. Khi người và chó đã yên vị trên chiếc tay ga sáng bóng với hai con gà im ỉm trong giỏ như lúc đầu, ông Bài mới nhìn kỹ thằng bé còn đang đứng bên cạnh. Tóc nó húi cua, cháy nắng. Khuôn mặt xương xương, da loang loang xám xám vàng vàng phấn phấn vết lang ben. Chiếc áo sơ mi - mớ vải che thân thì đúng hơn - ngả màu cháo lòng bền bệt. Hai cánh tay khẳng khẳng, gầy đét, hai bàn tay xoa xoa vào nhau. Ông Bài nhổm mông, rút bóp.
- Mày mới quê vào à? - Ban nãy ông đã nghe thằng bé giọng miền Trung. - Đây, cầm lấy mấy trăm...
Trái hẳn suy nghĩ ông Bài, rằng ở thành phố lúc nha lúc nhúc bụi bặm này - người ta chẳng bao giờ làm gì không cho nhau, nhưng có thể lên trời xuống biển để lấy tiền của nhau - thằng bé hai tay xoa xoa vào nhau, miệng nó lắp bắp gì đó không thành lời. Lắc đầu, ông Bài xổ giọng:
- Chê ít à? Mẹ. Phụ hồ làm quần quật gạch đá vôi vữa cả tuần mới bằng mày nhún nhảy ba bước tóm hai con gà. Còn chê hả?
Thằng bé vẫn cười. Nó mới đặt chân đến thành phố này đêm qua, sau một chuyến xe lắc lư cả tuần lễ, còn dưới hầm xe, phụ vác đồ đạc hành lý bù tiền vé. Mỗi bữa ăn, nhà xe còn đưa ra nhà hàng cho ăn cùng. Nó thấy lạ, nhà xe chẳng bao giờ phải trả tiền, còn được chủ tiệm ăn gói thêm thức ăn, đồ uống và mấy trăm ngàn dúi túi. Cuộc sống này hào phóng quá, tại sao bấy lâu nay cha mẹ nó rồi anh chị em nó cứ phải chui mặt ở cái xứ khỉ ho cò gáy đói rét quanh năm, hàng xóm vay mượn nhau vài đồng bạc lúc ốm đau ngặt nghèo cũng khó? Tại sao đến cách đây một tuần lễ nó mới quyết định bỏ nhà đi sau khi bị một trận đòn thừa sống thiếu chết của cha nó vì lỡ đào trộm mấy củ khoai trong rẫy láng giềng? Hơn ngàn cây số - nó mấy khi được nhìn thấy quốc lộ rộng thế nào đẹp thế nào đâu - trong hầm xe, nằm chúi nhủi vào đống hàng đủ loại mùi mè - thi thoảng giật nảy mình vì xe chao lắc mạnh - rồi nhắm ngủ tiếp. Không ngủ thì không biết làm gì. Bốn bề tối đen. Cả quá khứ thơ ấu, ký ức một dòng họ chỉ chực chờ bị cuốn trôi khỏi quê hương xứ sở sau dằng dặc cằn cỗi bạc màu. Chỉ có, thấp thoáng tương lai hiện lên, lập lòe thứ ánh sáng kỳ lạ chưa bao giờ thấy trong đời.
Đến thành phố này, thằng bé vẫn chưa biết nó đã đến thành phố. Nhà xe gợi ý, hay là mày theo phụ bốc vác hàng hóa cho bọn tao, cũng kiếm sống qua ngày - nó phân vân một chốc rồi lắc đầu. Nếu còn theo xe, thể nào cũng phải đi ngược lại con đường dằng dặc vừa trải qua. Thể nào cũng ngang qua chốn hiu hắt gọi là quê nhà. Thể nào cũng có lần đưa ai đó về vùng đất hẩm hiu ấy hoặc lại đón thêm những kẻ dứt áo ra đi từ nơi chao chát nghèo hèn này... Thế là, thằng bé từ biệt nhà xe, từ biệt cái bến xe đầu tiên trong đời, đeo túi nải may bằng bao gạo cũ đựng vỏn vẹn mấy cái áo quần và dăm chục ngàn nhà xe thương hại cho mà đi. Quả thật, nó đọc được số trên tờ tiền ông Bài đang chìa trước mặt, nhưng chưa bao giờ ngờ rằng, trên thế gian này lại có loại tiền to như thế.
- Thế, mày quê đâu? - Ông Bài sẵng. - Mày lang thang bụi đời lâu chưa? Có phạm pháp truy nã gì không?
Đã quyết quên đi nơi chôn nhau cắt rốn ẩm ương, thằng bé trả lời ngay một cái quê xa, xa hơn, có phần ẩm ương hơn quê nhà nó mà chưa bao giờ nó đặt chân đến - chỉ là nghe cha nó đôi khi nhắc tên trong những đêm uống rượu suông trăng bên bụi chuối trước mé chòi. Dối, lại thành ra duyên. Nó trở thành đồng hương cấp xã với ông Bài. Có khi là cấp xóm hoặc chung vách cũng nên, nếu ông Bài nhớ được vị trí chính xác cái mái tranh nơi ông đã một lần dứt áo ra đi là mãi mãi.
Thế là, thằng bé leo lên xe ông Bài. Loại xe mô tô đời mới, yên sau nhổng lên, cao quá khổ so với một đứa nhỏ đèn đẹt. Lại là một đứa nhỏ đang chột một giò. Thằng bé hai tay ôm khư khư hông người đàn ông mới chốc lát trước còn xa lạ vô cùng. Con Út ngồi không yên, cứ quay đầu về phía sau ngó người lạ, mõm hục hặc như sợ mất phần. Ông Bài một tay giữ ga, một tay xoa xoa đầu con chó, nựng nịu:
- Ngoan nào, ngoan nào Út à... Có bạn mới thích hè... Không sợ ở nhà một mình nữa nhen...
Lũ gà khá thân thiện với thằng bé. Ai mớm cho từng miếng ăn ai tắm rửa sục từng tí lông ai sơ mồm sơ miệng từng giờ mà lũ súc vật chả thân. Nhưng, con Út thì không. Nó gầm gừ suốt. Ngay cả cái chỗ thằng bé nằm chưa chắc bằng chỗ con chó, nó cũng loe loe cái mồm đe nẹt không thôi. Ông Bài ngủ phòng trên, chỉ còn con Út và thằng bé ở phòng dưới - đáng lẽ lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, mà không hề. Đang đêm, hễ thằng bé phải ra ngoài canh gà hoặc vệ sinh, con Út lập tức bật dậy lôi cái chiếu mỏng cùng tấm chăn mỏng của bạn cùng phòng đi. Có khi nó cắn nát bét. Có khi nó giấu cạnh thùng rác ngoài góc sân. Chó mà khôn tởm! Con Út không tin có con người nào lại nằm lại đắp lại ngủ bằng thứ giường chiếu chó đã trải qua. Với nó, thằng bé rõ ràng chẳng phải bạn. Cũng chẳng bằng đồng loại. Chỉ là cái thứ vớ vẩn gì đó tương tự như lũ gà, có phần thua lũ gà, vì giống loài này luôn phải ăn sau chó, ăn sau gà, làm tất tần tật việc chăm sóc bọn súc vật, làm việc nhà và ngủ sau tất cả. Phần ăn của thằng bé mới tệ hại làm sao. Cơm thừa canh cặn sau ông Bài, sau cả con Út. Con Út cứ thay bữa là trứng lộn, gan heo, thịt bò tươi đỏ au - nó thấy thằng bé thòm thèm nuốt nước bọt ừng ực trước khẩu phần của mình thì càng ghét cay ghét đắng, bụng bảo dạ rằng hôm nào phải cắn cái thứ giống người này một táp. Hôm ấy cũng đến. Sáng, ông Bài trước khi dắt xe đi còn cầm một nắm bạc lẻ căn vặn thằng bé rõ ràng:
- Mày đi chợ mua thịt bò này, trứng này, rau thơm này, tương cà này... nấu cho con Út ăn đàng hoàng nghe chưa! Nhất định không được quên rau thơm đấy, nó sành ăn lắm. Tao có việc tối mới về.
Thằng bé dạ dạ vâng vâng, nhưng cố tình không mua rau thơm. Tảng thịt bò au au từng thớ thịt, thằng bé không thái từng miếng vuông vức như quân cờ giống mọi ngày vẫn làm, mà dùng dao lớn băm, băm, băm tùy ý. Nó nghĩ đến món thịt vo viên ba phần thịt bảy phần bột sắn hiếm hoi vài tháng cả nhà mình mới được ăn một lần ở quê. Con Út hực hực cái mũi nằm canh. Đã không rau thơm, cũng không tương cà, lại còn sực vị muối quá tay. Chỗ thịt bốc khói, trắng bợt như cái bánh mỳ không nhân trước mắt, con Út khịt khịt ngửi rồi dùng mõm hất sang một bên, nằm ngoảnh mặt đi. Thằng bé dỗ chó:
- Ăn đi Út! Mày sướng hơn tao rồi còn muốn gì nữa? Chó mà cũng đòi rau thơm như người à? - Thằng bé bỗng dưng cục cằn. - Cái giống chó như mày lại đòi hỏi bắt người như tao hầu hạ à? Chó! Mày không ăn thì để tao...
Miệng nói, tay bốc, nhưng thằng bé chưa kịp nuốt nhón thịt băm thì bất chợt con Út vùng lên, táp phập cổ tay nhỏ nhắn của nó. Con bẹc giê giống Đức to như con bê, chồm cả thân hình đồ sộ vật thằng bé yếu ớt ngã ngửa kè bên thố thịt. Thằng bé đau điếng, hoảng vía, lắp bắp kêu không thành tiếng. Con chó cứ day, cứ cắn, cứ đè. Trên ngưỡng cửa sống chết - đấu tranh sinh tồn, dù chỉ là đấu tranh với một con chó - bắt người ta bộc lộ hết bản năng của mình ra. Thằng bé bấu được hai bàn tay vào hai mắt con Út. Như bám được cái phao giữa cuồng nộ sóng dữ. Lấy hết sức bình sinh, mấy ngón tay mảnh khảnh đã vương máu của nó nhấn sâu vào hố mắt con chó. Nhắm mắt mà nhấn. Nhắm mắt mà thở. Con Út dữ dằn, lồng lộn vùng khỏi tay thằng bé, chúi nhũi chạy va vào tường, nằm thở hổn hển. Hai mắt nó lòi hẳn ra ngoài. Không gầm rú nổi, nó rên ư ử. Giống chó to cao nhưng chỉ để nuôi làm cảnh nên chỉ một vết đau đã mềm oặt như bún. Thằng bé lồm cồm bò dậy tìm con dao băm thịt khi nãy, giương tay chém thẳng một nhát đứt lìa đầu con Út khỏi cổ. Máu chó phụt ra. Bắn tung tóe cả mặt, cả đầu, cả áo quần thằng bé.
- Chó má gì mà nặng thế! - Thằng bé nhòng nhọc bỏ xác kẻ bại trận vào bao bố, kéo lê nhét dưới gầm giường, đằng nào cũng phải đợi đến khuya mới vác ra xe rác đầu ngõ được, rồi lặng lẽ lau dọn đống máu me trên nền nhà. Mùi xà phòng thơm vẫn không át được mùi chó tanh tưởi. Thằng bé lau đi lau lại mấy lượt cho đến khi mệt lử, nó nằm vật ra giữa nhà ngủ thiếp đi. Lãnh địa của riêng nó từ bây giờ!
Trong cơn mơ chập chờn, thằng bé thấy nó là đứa con cưng đang ngồi dưới chân ghế ông Bài. Trước mặt là món thịt bò phi lê thơm phức, điểm mấy cọng rau thơm xanh um trên nền đỏ nước sốt tương cà roi rói. Ông chủ xoa đầu nó đầy yêu thương, vỗ về:
- Rồi tao sẽ kiếm bạn cho mày! Đừng buồn nghe con! Ngoan nào...