Di vật đời anh
Di vật ấy
Thân thương dòng chữ
Dòng chữ ngắn thôi, hiền như khoai lúa
Nằm nghiêng nghiêng dưới hai chiếc đèn lồng
"Em đợi anh về"
Tết ấy - Mậu Thân.
Di vật ấy là những trang nhật ký
Mực tím loang màu, tím bọc ni lông
Trang nhật ký, bài thơ tình viết dở
Bên bông hoa đang nở, giấy màu hồng.
Di vật ấy
Là chiếc cối giã trầu đẹp như lời truyện cổ
Truyện cổ năm nào bà kể anh nghe
Chưa kịp gửi về bà, cho đầy thương với nhớ
Anh cùng chiếc cối giã trầu lấm đất đang nằm kia
Di vật ấy
Một chiếc mũ cối đứt quai bạc trắng đất rừng
Một chiếc mũ vải mềm bầm đen vệt máu
Một chiếc lược đuya - ra
Một cánh nơ hiền dịu
Một mảnh vỡ chiếc gương Thống Nhất
Một vỏ bao thuốc lá Sông Lam
Một chiếc bút Trường Sơn dập nát
Nửa đôi dép cao su rớt lại phía sông buồn…
Di vật ấy
Là hòn đá núi
Ai vội vàng đục đẽo dưới trăng khuya
Để kịp khắc tên anh
Đưa anh về với đất.
Di vật ấy là lá cờ Tổ quốc
Đồng đội đắp lên thi thể phút anh nằm
Là mảnh gỗ đề A1, K6, B5
Là những lá thư còn dở dang đoạn kết.
Có di vật là một đời đau thắt
Một câu chuyện tình cưới nhau xong là đi
Cưới nhau xong, chị rời nông trường về quê
Cưới nhau xong, chị một đời sống lẻ
Chị một đời khép kín
Mấy mươi năm thờ chồng và thờ một dòng tin
Dòng tin ấy rồi cũng về tới chị
Khi mộ anh tìm thấy giữa rừng Lào
Xót xa cũ phủ lên xa xót mới
Tóc bạc trắng rồi, chị mới được nhận dâu
Chị đắng đót, mẹ cha đặt tên con gái là Vui
Sao sự đời ngược lại?
Có di vật giản đơn hộp gỗ
Chị cất dần mỗi tháng vài lá thư
Mỗi lần cất thư một lần chị khoá
Chị sợ mất đi bao yêu dấu, ngóng chờ.
Căn buồng riêng mà sao giống buồng thờ
Chị lặng giấu hộp thư trên gác xép
Như giấu kín nỗi lòng đơn chiếc
Chờ đêm xuống, chị mang thư ra đọc
Đêm về khuya chị thường ngồi khóc
Chị lẻ loi, nước mắt cũng lẻ loi
Giọt nào rơi thấm mặt gối đôi
Giọt nào rơi quặn ruột gan se thắt
Mỗi lần đọc là mỗi lần chị thuộc
Chị thuộc cả 136 lá thư trong hộp gỗ xếp đầy.
Chị thường nói, ngày thì ngắn mà sao đêm thật dài
Mà đâu biết lá thư thứ 136 là lá thư cuối cùng chị nhận
Lá thư cuối gửi kèm tấm dù pháo sáng
“Anh dặn, ngày thắng trận trở về
Làm ri đô treo trước buồng hạnh phúc
Cho sáng cửa, sáng nhà
Còn góc chéo tấm dù cất làm…tã lót cho con”.
Có di vật là ảnh hình của mẹ
Trong mộ anh nằm, ảnh mẹ cũng không tên
Ảnh của mẹ được nhiều đài, báo kiếm tìm
Rồi cả nhà nhận ra ảnh mẹ
Nhưng đó là mẹ nuôi, mẹ đỡ
Mẹ “cưu mang” ngày anh lạc nhà, lạc chợ
Anh sinh năm bốn bảy
Năm khốn khó quê làng
Ngày anh lên đường, chỉ có ảnh mẹ “cưu mang”
Nhưng may có mẹ “cưu mang” mà hai lần mẹ đẻ
Đón anh về từ những cõi xa xăm.
Còn bao nhiêu di vật chờ mong
Đang lưu lạc bên núi rừng biên giới
Còn bao nhiêu di vật sống trên đời
Khắp xóm thôn làng quê nước Việt.
Mỗi di vật linh thiêng từng báu vật
Nhói lên trời, lên đất - núi sông ơi.
| Bóng cau - Thơ Xuân Lợi Cơm mới bậc thang mây - Thơ Đỗ Minh Tuấn Với người bái hoa mai - Thơ Ngân Vịnh Cây xoan - Thơ Vương Long Nhà và thiên nhiên - Thơ Nguyễn Thanh Mừng |