Đã thành thông lệ, nguyên tắc riêng Nhã đặt ra cho bản thân, mỗi tháng ít nhất một lần cuối tuần cô gác lại bộn bề công việc để về quê, vừa là thăm cha mẹ, họ hàng vừa là cho mình khoảng trời riêng. Cánh đồng làng cô nằm ven con đường lớn liên huyện, mênh mông, xanh mướt và êm ả, ngan ngát hương thơm đặc trưng của cỏ cây, đồng ruộng... Nhã vẫn thấy mình của ngày xưa, cô thôn nữ với tâm hồn trong trẻo mỗi khi đứng giữa đồng quê.
![]() |
| Minh họa Vũ Đình Tuấn |
Mỗi lần về quê, buổi sáng, trừ ngày mưa gió, Nhã dậy sớm tản bộ trên cánh đồng làng, hít hà những làn gió tinh khôi, mùi hương cỏ cây dịu nhẹ. Cô thấy tâm hồn thư thái, an lành. Một sáng mùa thu nọ, những ruộng lúa bời bời đương thì con gái trải mướt một màu xanh trên đồng quê, Nhã dừng chân dưới gốc cây bàng, nơi người làng ngồi tránh nắng những buổi trưa làm đồng, miên man thả lòng vào đất trời, phiêu du quên lãng. Chợt có tiếng kêu rất khẽ, khẽ như tiếng một chú chim non. Không phải. Tiếng khóc trẻ nhỏ. Nhã rùng mình dừng ở suy nghĩ đó, âm thanh cô rất nhạy cảm bởi nó luôn ngân vọng, quấn rít hồn cô. Cô nhìn xung quanh, chỉ có cánh đồng vời vợi trong sương sớm, không một bóng người. Tiếng kêu vẫn còn, đứt quãng, rất gần. Nhã đi về phía phát ra tiếng kêu. Trên đám cỏ mềm, có một bọc vải động đậy. Tay Nhã run run mở bọc vải, trong chiếc áo nắng, một bé trai sơ sinh đỏ hỏn, còn nguyên dây rốn đang cựa quậy, mắt nhắm chặt, chỉ có có đôi môi tím mỏng gắng mở ra tiếng kêu hay đang hớp thứ gì đó theo phản xạ sinh tồn. Nhã bủn rủn, suýt ngất xỉu. Cô tưởng như đang gặp lại giấc mơ vẫn hay về dày vò tâm hồn cô bao năm qua. Tiếng khóc e… e làm cô thức tỉnh. Cố trấn tĩnh, quấn vội chiếc áo, ôm vào lòng. Một cảm xúc vừa bối rối, vừa vui mừng, hạnh phúc như nhặt được báu vật. Phải chăng đứa con cô bỏ đi đã trở lại với cô?
Sau khoảng thời gian quy định, không có người thân đến tìm, chính quyền địa phương đã làm thủ tục giao đứa trẻ cho Nhã nhận con nuôi. Nhưng trong tâm thức Nhã tin rằng đó là đứa con trùng sinh của cô. Cô tin con cô đã trở lại, bù đắp cho những tháng ngày cô đớn đau, ân hận và mong được sửa chữa lỗi lầm. Cô đặt tên con là Trung Đồng. Được chăm sóc trong điều kiện tốt nhất và tình yêu thương, Đồng chóng lớn, khỏe mạnh, và khôi ngô như một thiên thần nhỏ. Nhã nhìn con, đôi mắt đen láy, hàng mi cong, cái miệng chúm chím cứ thấy tựa mình trong tấm ảnh ngày bé.
Thuận, chồng cô, không phản đối, mà chưa khi nào anh bày tỏ quan điểm riêng, chỉ luôn thường trực câu “tùy em”. Bao năm chung sống, mọi việc trong nhà dù to, dù nhỏ đều một tay cô lo liệu, cả việc kiếm tiền. Sự nhu nhược, bàng quan của Thuận được bao bọc trong vẻ thư sinh, hiền lành, của chàng sinh viên Đại học Tổng hợp một thời đã khiến hoa khôi làng sinh viên Học viện Tài chính say đắm. Cái bản tính của chồng Nhã đã quen. Bù lại anh khá chu toàn với gia đình, thời gian rảnh rỗi của nhân viên văn phòng nhỏ anh dành cho việc chăm sóc gia đình, con cái. Nhờ thế Nhã có điều kiện dốc toàn tâm lực cho việc phát triển sự nghiệp của mình. Hiện tại, với vị trí kế toán trưởng một công ty lớn của nước ngoài, cuộc sống gia đình cô đề huề sung túc, vợ chồng không phải cắm cẳn việc tiền nong. Cô chỉ uất ức cái sự nhu nhược của chồng không cản cô việc bỏ đứa con, để mình cô đeo đẳng nỗi ăn năn không sao thoát khỏi.
Hơn chục năm trước, khi con bé Tâm An được hơn một tuổi, Nhã bị “vỡ kế hoạch”. Cô chưa muốn sinh thêm vì An còn nhỏ, điều kiện kinh tế eo hẹp, ngôi nhà cấp bốn chật chội. Quan trọng hơn, cô đang theo học nâng cao trình độ, lấy chứng chỉ quốc tế để tìm kiếm cơ hội tốt trong công ty. Cơ hội thì ngàn năm có một. Thời buổi cạnh tranh khốc liệt này lỡ một bước là trượt xa vạn dặm. Kế hoạch trong công việc, cuộc sống luôn được cô chủ động xây dựng rạch ròi. Giống như quyết tâm vươn ra khỏi lũy tre làng bằng con đường học tập của cô. Ổn định công việc rồi sinh đứa thứ hai. Kế hoạch định sẵn như vậy và sự đồng tình “tùy em” của chồng, cô quyết định đến đặt lịch phá thai. Bệnh viện Sản nhi nơi Nhã đã đến bao lần từ khi có bầu và sinh con An, vậy mà hôm ấy cô cứ thấy lạ lẫm, ngượng ngùng, thấp thỏm như cô gái lỡ dại đang giấu giếm việc làm bất chính. “Thai nhi được mười tuần rồi, không thể hút, phải nạo. Cô vẫn quyết định bỏ chứ?” Tai Nhã như ù đặc trước câu nói của bác sĩ. Tiếng ục ục đều đều từ chiếc máy siêu âm báo nhịp tim thai như từng tiếng dùi trống đánh vào ngực cô. Nhã hoang mang. “Thai khỏe, mẹ khỏe. Cô về suy nghĩ cho kỹ rồi hãy quyết định.” Sau hồi trấn an, Nhã vẫn giữ quyết định ban đầu. Cô vốn thế, mạnh mẽ và cương quyết. Đó là bí quyết của sự thành công cô có.
Đau đớn thể xác rồi cũng tan dần. Song nỗi đau đớn về tinh thần lại trở về rền rã. Trong khi được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng sau phẫu thuật, Nhã hồi tưởng lại khoảnh khắc kinh hoàng ấy. Những cảnh tượng, âm thanh cô đã trải qua trong ca phá thai cứ hiển hiện, bám riết trong suy nghĩ của cô không sao thoát ra được. Nhìn lại tấm hình siêu âm, một hình hài đã mang dáng người, có tay, chân, đầu… khom mình như tựa trong vòng tay nâng đỡ. Cô nhớ lại đã có lúc cô cảm nhận sự cựa quậy rất nhẹ trong bụng mình, đó là sự kết nối của tình mẫu tử. Tiếng tim thai, dấu hiệu của sự sống… Tất cả giờ đã tan biến theo dòng máu trào ra từ cơ thể cô. Chỉ để lại một nỗi đau. Và những cơn ác mộng thường xuyên trở về với cô. Giấc mơ về một đứa bé, khi rất xinh đẹp như một thiên thần, khi thì là hình thù quái dị… Nhã thấy ghê sợ mình. Cô đã làm một việc dã man hơn cầm thú, phá hủy sự sống của chính đứa con mình. Hổ dữ không ăn thịt con, cô thì sao? Nhã rơi vào khủng hoảng tinh thần, trầm cảm...
Cô cũng không nhớ mình thoát ra từ khi nào, và nhờ đâu. Có lẽ nhờ sự quấn quýt bi bô mỗi ngày của bé An, những bát cháo, món ăn bổ dưỡng của Thuận tận tình mỗi bữa, hay thời gian? Cuộc sống vẫn tiếp diễn…
Nhã đã đạt được tất cả những dự định. Công ty ngày càng phát đạt. Vị trí kế toán trưởng cho cô những danh lợi dào dạt. Ngôi nhà cấp bốn đã được thay bằng căn nhà năm tầng đầy đủ tiện nghi giữa khu phố sầm uất. Thời gian làm đổi thay nhiều thứ. Song chỉ có nỗi đau vẫn ở lại trong Nhã, vết thương lòng không sao xóa mờ. Công việc tất bật, choán hết thời gian mỗi ngày. Nhưng hàng đêm, trở lại là mình, Nhã lại dằn vặt với những giấc mơ cũ. Kí ức như tảng đá đè nặng trong tâm hồn cô, không sao thoát ra được. Cả việc Nhã không thể mang thai trở lại một lần nào nữa, dù cho hai vợ chồng khao khát sinh thêm, khám chữa đủ các bệnh viện lớn, vẫn không được… Bấy nhiêu đó khiến Nhã tin rằng cô đang bị trừng phạt, cô đáng bị vậy. Những ngày nghỉ cuối tuần cô dành cho việc sám hối nơi cửa Phật, và về quê chữa lành…
*
Trung Đồng càng lớn càng khôi ngô, linh lợi. Nhã cứ cho là nó thừa hưởng từ cô. Ở thành phố người ta không quan tâm chuyện hàng xóm, đó là điều kiện lí tưởng để thằng bé vẫn chưa hay biết gốc gác của mình. Nhã không có ý định nói vì trong thâm tâm cô nó là đứa con trùng sinh của mình. Tình yêu thương cho nó thì cô không thiếu. Đôi lúc khiến con An, dù rất quý em, cũng phải giận dỗi “Mẹ chỉ em Đồng thôi.” Nhã cũng hơi chột dạ, vì nhớ có lần chồng cô, thường phó mặc “tùy em” cũng phải thốt câu bản thể “em chiều con vừa thôi không nó hư”. Nhã cũng đã ngộ ra cái tình thương quý quá mức của mình. Nhưng cô không sao ngăn được, nó cứ tuôn trào theo quán tính yêu thương. Có một điều cô không dám thừa nhận, cô yêu thằng bé hơn cả bản thân mình, vì một lẽ, nó đã cứu sinh cô, kéo cô ra khỏi vực sâu tội lỗi, cho cô tái sinh và biết yêu thương trở lại. Từ khi có thằng bé, cô hết mộng mị về những đứa trẻ, vui vẻ, yêu đời. Bởi cô tin thằng bé là hiện thân của đứa con đã mất, trở lại với cô.
Để giữ gìn cái bí mật về gốc gác của con, bảo toàn bảo bối của mình, Nhã rất hiếm khi cho thằng bé về quê. Cô thường về một mình vì nhớ quê, nhớ cha mẹ. Nếu có cho con về quê thì cô cũng chỉ cho thằng bé quanh quẩn hiên nhà hay ngoài ngõ. Một bữa, Trung Đồng hớn hở chạy về, trên tay cầm theo chiếc diều hình con ong sặc sỡ. Nó bảo của một cô xinh gái cho. Dù không hài lòng nhưng Nhã không nỡ quở mắng, chỉ nhắc nhở con rằng mẹ đã dạy không được nhận đồ của người lạ. Thằng bé bịu xịu bảo cô không phải người lạ, cô bảo là người thân của con. Nhã linh cảm có điều gì đó về người phụ nữ lạ cho quà, nhận là người thân của con, Nhã hoang mang. Sau buổi đó cô cấm tiệt đòi hỏi về quê của thằng bé, cả cô cũng về quê ít hơn. Nhưng trẻ con đâu dễ khuất phục, không hiểu sao ý thích được về quê của thằng bé ngày càng dữ dội. Nó nhất nhất làm theo mọi “yêu sách” của bố mẹ và chị, chăm chỉ học tập, dành nhiều điểm tốt, học đàn, học võ, cả rửa bát, lau nhà để chỉ đổi lại một điều kiện là được về quê. Nó giữ gìn cái diều quà tặng như một báu vật, treo cất cẩn thận trên giá sách, mỗi khi ngồi vào bàn học nó phải chăm chú ngắm nhìn một hồi. Nó bảo muốn về quê thả diều. Nhã đưa ra đủ lí do để từ chối mong muốn về quê của thằng bé. Song nhìn khuôn mặt thơ ngây rầu rĩ của con cô không đành lòng. Cô thấy mình tàn nhẫn. Niềm mong muốn nụ cười, hạnh phúc với con đã xóa mờ những lo lắng, dự cảm ích kỉ nơi cô. Cô lại cùng con về quê.
Một chiều, Nhã dắt Trung Đồng ra cánh đồng làng. Đồng quê lóng lánh nắng vàng, hương thóc non ngan ngát miên man. Chim chóc ríu rít sà trên đồng lúa ríu bông. Cứ mùa về, từng đàn chim không biết từ đâu rủ nhau kéo về vui ca bản nhạc rộn rã. Trung Đồng cầm chiếc diều con ong nhảy tung tăng thích thú, lần đầu cậu bé được thoải mái chạy nhảy không phải nem nép tránh xe, nhường đường như ở thành phố. Con diều phấp phới cùng gió đùa vui theo bước chân sáo của cậu bé. Nhã thấy ân hận vì sự ích kỉ đã ngăn cách con với quê hương nguồn cội, với niềm vui tuổi thơ. Trên đường về làng một tình huống, Nhã luôn phấp phỏng lo âu một ngày sẽ xảy đến rồi cũng không tránh khỏi. Một người phụ nữ, ăn mặc hợp thời trang, đeo chiếc túi sành điệu, đang đón đợi họ. Cô ta vội bước về phía hai mẹ con:
- Chị Nhã, em mong mẹ con chị mãi!
Nhã gần như choáng váng muốn xỉu khi giáp mặt người phụ nữ lạ, đôi mắt, cái miệng, cái mũi kia… của Trung Đồng. Trung Đồng reo lên, chạy đến bên người phụ nữ như đã rất thân quen:
- Cô xinh gái! Mẹ ơi cô hôm trước cho con chiếc diều.
Nhã còn chưa trấn tĩnh lại, người phụ nữ đã ôm lấy Trung Đồng:
- Con lớn nhanh quá!
Nhã bình tâm trở lại, cô gọi con như quát, giọng run rẩy:
- Trung Đồng, trở lại đây con!
Thằng bé tiu nghỉu cầm chiếc diều ủ rũ bước đi ngập ngừng về phía Nhã. Nhã vội dắt con đi như chạy về làng. Cô chưa bao giờ sợ hãi, chạy trốn đồng quê như thế. Hương đồng ngan ngát giờ như xộc vào khóe mũi mùi cay nồng, nhức buốt.
Thời gian dài Nhã trốn về quê, mặc lòng day dứt khi nhớ mẹ cha, đồng quê quay quắt. Nhã lại chìm vào những cơn bão lòng, lo âu, thấp thỏm. Mỗi khi tan làm, chờ Trung Đồng cuống quýt chạy khỏi cổng trường đến ôm chầm mẹ, một ngày của cô mới bình an. Hàng đêm cô lại giật mình thảng thốt với những giấc mơ đánh mất Trung Đồng. Cô quáng quàng bật điện, thằng bé vẫn ngủ say vô tư lự bên cô. Chồng cô khiêm nhường là thế cũng thành ra phản kháng, “suốt đêm mơ với sảng, ngủ chẳng được yên”, rồi ôm gối tìm chốn yên thân, câu cửa miệng nhượng lại cho cô “tùy anh”.
Cái gì đến sẽ đến, nỗi sợ hãi của cô không chỉ là trong mơ. Một buổi, Nhã đến đón Trung Đồng trễ vài phút, do kẹt xe. Lòng cô nóng như ruột phích. Gần đến cổng trường cô chết lặng, cạnh đứa con đang hớn hở với chiếc kem bông trên tay là người phụ nữ ấy. Thoáng lúng túng, cô ta lên tiếng:
- Em đến thăm cháu…
Nhã không thốt lên lời, giật tay con dắt ra xe. Đoạn cô quay lại, dằn từng lời uất hận, đe nẹt:
- Cô hãy tránh xa thằng bé ra. Để chúng tôi yên. Không tôi báo công an đấy.
- Chị Nhã! Em là mẹ nó, em có quyền… Em muốn thỏa thuận… Nếu không được, em sẽ nhờ chính quyền...
Từng lời tuy đứt quãng nhưng đầy cương quyết của người phụ nữ trơ tráo đó cứ văng vẳng như tiếng quỷ dữ thét vào tai Nhã hằng đêm. Cả ánh mắt chới với của cô ta khi nhìn theo Trung Đồng cứ mãi bám riết theo cô. Nó giống như ánh mắt cô trong mơ đang dõi theo bóng đưa bé chạy trốn trong màn đêm mờ ảo. Trung Đồng thì không ngớt đòi về quê chơi diều, thỉnh thoảng nó lại rướn cặp mắt ngây ngô thắc mắc sao mẹ lại sợ cô xinh gái, không cho con đến gần, cô ấy có làm gì con đâu. Nhã không biết phải trả lời con thế nào, chỉ thấy mình đang làm điều có lỗi với thằng bé. Cô lo sợ một ngày kia Trung Đồng lớn lên, biết được sự thật nó sẽ oán hận cô. Cô tìm lại chiếc áo nắng, kể cũng lạ, cô muốn chối bỏ tất cả những gì liên quan đến nguồn cội của Trung Đồng, song cô lại giữ gìn chiếc áo đã bao bọc đứa trẻ sơ sinh ấy. Có lẽ cô muốn giữ như để trân trọng vật đã nâng đỡ mạng sống của đứa con yêu. Lương tâm cô giằng xé giữa nỗi sợ mất con và tội lỗi chia cắt tình mẫu tử. Lại một lần Nhã suy sụp.
Qua những những vật lộn, tự vấn lương tâm, cô biết chỉ có thể lựa chọn đối mặt với thực tại. Nhã nhận lời gặp người phụ nữ lạ đó.
Cô ta không còn vẻ trơ tráo, thách thức như những lần trước. Những lời kể lể tuôn trào cùng nước mắt nghẹn lời. Nhã gắng kiềm lòng ngồi nghe. Cô đã dần hiểu ra bi kịch chào đời của Trung Đồng.
Thúy, mẹ thằng bé, khi ấy là một cô gái mới qua tuổi mười tám, ở huyện bên, sau khi tốt nghiệp THPT với dự định đi du học Hàn Quốc cùng người yêu (anh ta người xã bên, hơn cô gần chục tuổi, mới tái xuất lao động lần hai, hứa hẹn đón cô bên ấy). Mấy trăm triệu lệ phí đã nộp, chỉ đợi học tiếng xong là bay, cô phát hiện mình có thai. Bạn trai hứa hẹn ổn định công việc sẽ về cưới cô. Từ “sẽ” của anh ta là dự định kéo dài mấy tháng và kết thúc bằng sự bặt vô âm tín. Cùng với đó là đứa bé trong bụng Thúy đã biết quẫy đạp. Khi hay tin từ người quen rằng anh ta đã có vợ con bên ấy, Thúy đau đớn, uất hận, song không thể chối bỏ cái thai được nữa. Trong ê chề tủi nhục của sự phản bội và sự sợ hãi với tương lai mờ mịt, cô dự định trốn chạy khỏi làng quê, tìm chốn nương thân nơi thành phố xa lạ. Ngày trở dạ, cô nhận thấy con đường làng mờ tối, vắng vẻ sẽ giúp cô che đậy tội lỗi. Sinh con trong hoảng loạn, đau đớn, cô cũng chẳng nhìn rõ mặt đứa bé, chỉ biết là con trai. Và chỉ kịp cởi chiếc áo nắng bọc thằng bé trong hơi ấm của mình, với hi vọng đến sáng người đi đường sẽ nhặt về nuôi. Cô nói rằng, những ngày tháng sau đó cô luôn sống trong dằn vặt, thương xót con, đôi lần trở lại nơi ghi dấu tội lỗi đó cô có nghe tin đứa trẻ bị bỏ rơi đã được nhận nuôi. Cô thấy tội lỗi được xoa dịu. Lên thành phố, cô xin vào làm một công ty của Hàn Quốc. Vì cũng biết kha khá tiếng Hàn, khi trước cô học để đi xuất khẩu lao động, lại xinh xắn, nhanh nhẹn cô được xếp vào vị trí phiên dịch. Số phận đã thay đổi khi cô gặp ông chủ quản, đã đứng tuổi, vợ chết và si mê cô. Như phận bèo trôi cô đã lựa chọn bến đậu cuộc đời. Một bước lên mây, cô trở thành nàng dâu ngoại quốc. Đám cưới rình rang, người làng hoa mắt bởi sính lễ. Chồng cô cưng chiều. Ông đã đủ con cái nên cũng không muốn cô sinh thêm. Vậy nên việc mất khả năng sinh đẻ của cô cũng không ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng. Nhưng cuộc sống nhung lụa, an nhàn cũng không phủ lấp nỗi đau quá khứ quay quắt. Nỗi cô đơn nơi xứ người và bản năng làm mẹ của người phụ nữ đánh thức nỗi khát khao con cái càng khiến cô dằn vặt, nhớ con. Những giấc mơ về một thằng bé đẹp đẽ, khỏe mạnh và tiếng gọi mẹ vẫn văng vẳng hàng đêm trong giấc ngủ của cô . Ước muốn trở lại tìm con như ngọn lửa bùng cháy trong cô, làm cô không thể che đậy, giấu giếm. Chồng cô biết chuyện không những không bạc đãi mà còn ủng hộ cô tìm lại đứa con. Vậy nên hơn năm qua, cùng chồng, cô đã trở lại quê nhà sinh sống. Cô tìm lại nơi đã sinh và bỏ lại thằng bé để tìm lại đứa con.
Thúy quỳ sụp xuống chân Nhã cầu xin, Trung Đồng là tất cả ý nghĩa cuộc sống của cô.
Khoảnh khắc người phụ nữ thất thần quỳ dưới chân cứ bám riết tâm trí cô không buông. Cô như thấy mình trong cơn quằn quại, tuyệt vọng ấy. Ngẫm lại, Nhã thấy mình cũng là người mẹ tồi tệ chẳng kém Thúy, đang tâm vứt bỏ đứa con máu mủ của mình. Song có một điều cô không thể chống chế, Thúy còn có lương tâm hơn mình vì đưa đứa bé ra thế giới, cho nó cơ hội làm người. Còn cô… Người phụ nữ ấy vì thế vẫn còn cơ hội sửa chữa lỗi lầm, còn mình sẽ không thể lấy Trung Đồng để xoa dịu lương tâm. Trong những miên man tự vấn, Nhã nhận ra mình không thể lấy sai lầm đổi lấy sai lầm. Phương thuốc tốt nhất chữa lành lương tâm cô lúc này chính là sự hàn gắn tình mẫu tử, trả Trung Đồng cho người sinh thành và cũng đang khổ tâm vì lỗi lầm như cô.
Một buổi chiều cuối thu, sau một thời gian làm công tác tư tưởng với Trung Đồng và cả bản thân, Nhã dắt con về nơi hẹn.
Trung Đồng cầm theo chiếc diều, song hôm nay nó không thả cho diều bay, chỉ khư khư ôm trước ngực, cũng không tung tăng chạy nhảy, vẻ mặt lo âu tội nghiệp. Khi đến trước mẹ Thúy bỗng dưng nó òa khóc, chạy quay lại ôm chầm lấy mẹ Nhã:
- Mẹ ơi, con muốn ở với mẹ!
Nhã quặn lòng, vuốt ve mái tóc con trai dỗ dành:
- Con ngoan, về với mẹ Thúy, mẹ là người sinh ra con.
Nhã khóc nghẹn. Cả ba người cùng khóc như ri. Những làn gió thênh thênh giữa đồng quê quyện mùi hương ngan ngát.