Thật đúng là dễ ợt, bởi hầu như bất cứ người dân nào ở đoạn đường Hà Huy Tập của thành phố Hà Tĩnh trước đây, nay là phường Thành Sen, cũng đều biết ông “Thanh Che” và hướng dẫn khách lạ rất tận tình. Nhiều người còn bỏ dở công việc, vui vẻ dẫn khách đến tận cửa ngôi nhà số 413 của ông “Thanh Che”…
“Thanh Che” là biệt danh của nhà thơ Bùi Quang Thanh từ thuở hàn vi. Ngày ấy, từ chiến trường Tây Nguyên trở về sau năm 1975, Bùi Quang Thanh được nhận vào Công ty xây dựng cầu đường thuộc Ty Giao thông Hà Tĩnh. Với tay nghề của một cán bộ kỹ thuật đã tốt nghiệp trung cấp cơ khí sửa chữa ô tô trước khi đi bộ đội, Bùi Quang Thanh đã cùng mấy thợ gò hàn của công ty tự thiết kế và chế tạo thành công những cái che ép mía kéo mật bằng sắt thép phế liệu và các phụ kiện của các loại ô tô cũ nát. Sản phẩm “kế hoạch 3” của công ty rất ăn khách. Sau này, Bùi Quang Thanh có thơ đăng báo và in sách, được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, làm Chánh Văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh, rồi Trưởng Cơ quan đại diện báo Bảo vệ pháp luật của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao tại miền Trung và Tây Nguyên hơn hai chục năm, nhưng cái biệt danh “Thanh Che” vẫn đeo bám anh cho đến nay. Xem ra, Bùi Quang Thanh cũng thích thú với cái tên ấy lắm!
Tôi không nhớ rõ đã quen biết Bùi Quang Thanh từ khi nào. Người xởi lởi, quảng giao và “mát tính” như anh, ai mới gặp lần đầu cũng có cảm giác như cố nhân hội ngộ. Nhưng tôi thực sự chú ý đến anh với tư cách nhà thơ, dễ chừng đã hơn một phần tư thế kỷ. Lần ấy, anh Thanh ra Hà Nội nhận giải thưởng cuộc thi thơ Hướng tới giao thừa thiên niên kỷ của tạp chí Văn nghệ Quân đội. Gặp nhau, anh tặng tôi tập thơ Hạt đắng do NXB Thanh niên ấn hành gần hai năm trước đó (1998). Đây là tập thơ thứ hai của Bùi Quang Thanh, định hình một giọng điệu thơ đằm thắm, giàu trải nghiệm và trĩu nặng suy tư của một người con xứ Nghệ, một cựu chiến binh trận mạc. Tập thơ như một khoảng lặng đầy chiêm nghiệm, nơi tác giả quay về đối thoại với chính mình, với quá khứ gian lao và với những phận người trong cuộc sống thường nhật hậu chiến. Đó là cái “đắng” của những trải nghiệm được chưng cất qua bom đạn chiến tranh, qua những nhọc nhằn của một thời bao cấp và những lận đận trong đời sống riêng tư. Bùi Quang Thanh viết về quê hương miền Trung với gió Lào và cát trắng, về người mẹ tảo tần và những người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường. Mỗi bài thơ là một “hạt đắng” mà anh đã nhặt nhạnh, nâng niu từ thực tế đời sống khốn khó nhưng thấm đẫm tình người. Đặc biệt là bài thơ Hạt đắng được chọn làm tên chung cho cả tập thơ. Đấy là một câu chuyện có thật của tác giả: Những ngày lui về củng cố đơn vị ở hậu phương, anh cùng hai chiến sĩ nữa được ở trong nhà một bà cụ làm nghề buôn lạc giống. Thi thoảng ba anh lính lại móc trộm lạc giống trong cái chum được bọc lót rất cẩn thận để “cải thiện” mà không áy náy bao nhiêu, vì thời đó trong quan niệm xã hội, buôn bán là nghề “bất chính”. Việc móc trộm khiến chum lạc bị mốc, vụ gieo lạc năm ấy cả làng xao xác vì mua nhầm lạc giống của “gian thương”. Bà cụ bàng hoàng điêu đứng trước sự phũ phàng mà không hiểu vì sao và không thể thanh minh. Ngày hòa bình, anh tìm về đứng trước ngôi mộ của bà, thổn thức đắng đót:
“Chết trong mẹ niềm tin gieo hạt giống
Sống trong con hạt đắng chẳng nguôi tàn
Bao mùa lạc đời vẫn dâng sức sống
Con cúi đầu hồn trắng một vành tang…”
Nhà thơ Vương Trọng từng nhận xét: “Nếu như làm thơ là lặng lẽ tham gia cuộc thi giữa mình với phần còn lại của thế giới, mà đầu đề bài thi do mình tự chọn, thì với Hạt đắng, Bùi Quang Thanh đã đạt giải thật cao trong cuộc thi ấy.” Quả thật, với Hạt đắng, Bùi Quang Thanh đã tạo dựng được một cột mốc ấn tượng trong sự nghiệp thơ ca của mình. Từ cột mốc ấy, anh tiếp tục bứt phá để vượt lên, tiếp tục xuất bản những tập thơ mới: Đò dọc sông đêm (2002), Ngọn gió dòng sông (2003), Mật ong vàng lũng núi (2007), Cánh đồng thời gian (2015)… và giành được những giải thưởng văn học đáng kể: Giải thưởng cuộc thi thơ Hướng tới giao thừa thiên niên kỷ (1998-1999) của tạp chí Văn nghệ Quân đội với bài thơ Lời hương khói, 2 lần đoạt Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nguyễn Du (giai đoạn 1995-2000 và 2000-2005), Giải thưởng cuộc thi văn chương kỷ niệm 170 năm thành lập tỉnh Hà Tĩnh, Giải thưởng cuộc thi văn học ngành Bưu điện năm 2002, Giải thưởng cuộc thi văn học của Bộ Công an về lực lượng Cảnh vệ năm 2023…
![]() |
| Nhà thơ Bùi Quang Thanh với các chiến sĩ trên đảo Nam Yết - Trường Sa. |
Thơ Bùi Quang Thanh chủ yếu được viết bằng những thể thơ truyền thống một cách nhuần nhuyễn tự nhiên, nhưng không thiếu những tìm tòi, đổi mới về cấu trúc và hình ảnh. Ngôn ngữ thơ anh giàu nhạc điệu, mang đậm phong vị ca dao, dân ca miền Trung, nhưng lại chất chứa những tư duy hiện đại, những triết lý nhân sinh sâu sắc. Sức hấp dẫn của thơ Bùi Quang Thanh nằm ở sự chân thành, mộc mạc mà ám ảnh, khiến người đọc dễ dàng đồng cảm với tâm sự của tác giả.
Những đặc điểm trên đây được thể hiện tập trung và nổi bật nhất trong tập thơ Mật ong vàng lũng núi, là tập thơ thứ năm trong tổng số 7 tập thơ đã xuất bản của Bùi Quang Thanh tính đến nay. Một tập thơ “đầy đặn” gần 300 trang khổ rộng, đánh dấu một bước chuyển mình, một độ chín cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật của nhà thơ. Nếu như trong Hạt đắng xuất bản chín năm trước đó, Bùi Quang Thanh khiến người đọc nhức nhối bởi những hoài niệm chiến tranh và nỗi đau hậu chiến, thì đến tập thơ này, chất lính và tình mẫu tử, nghĩa quê hương đã kết tinh thành thứ mật ngọt ngào vàng óng, sau những năm tháng chắt chiu lắng đọng từ trải nghiệm đời người: “Lúa đỏ đuôi rồi, Mẹ ơi/ Mật ong đong vàng lũng núi/ Chiều níu nhau đi vời vợi/ Mây ngà sau nón nao nao…” Phần thứ nhất của tập thơ mang tên Dâng Mẹ: Đó là người mẹ của tác giả và những bà mẹ Việt Nam mà tác giả kính trọng và tri ân. Viết về Mẹ cũng chính là viết về quê hương. Quê hương và Mẹ luôn nặng trĩu trong thơ Bùi Quang Thanh, làm nên “chất quê” đặc trưng của người thơ Bùi Quang Thanh. “Chất quê” ấy không phải là thứ trang sức được gia công hời hợt bằng vài ba từ ngữ, mà nó là máu thịt, là hơi thở tự nhiên. Bản tính bộc trực, thẳng thắn, “ăn cục nói hòn” nhưng gan ruột lại vô cùng ấm áp của “người Nghệ” đã định hình nên một giọng thơ không thích màu mè. Nhà thơ đưa thẳng những tiếng “mạ”, “mô”, “tê”, “răng”, “rứa”… cùng những thổ ngữ gồ ghề như sỏi đá quê nhà vào thơ một cách đầy kiêu hãnh. Khi nhà thơ đối thoại với ký ức, với người thân, ta thấy cả một vùng không gian văn hóa lam lũ hiện lên. Không chỉ những vấn đề lịch sử, địa lí, văn hóa và con người xứ Nghệ được nhắc đi nhắc lại đầy thao thiết, mà cả một hệ thống phương ngữ đặc trưng của vùng đất đặc biệt này cũng được cất lên hết sức đắc dụng. Để rồi thổn thức nhớ “Cánh vỗ mơ hồ xa ngái”; nhớ “Lá tơi xếp cánh đại ngàn/ Chiếc khăn mỏ phượng đoan trang thuở nào”; nhớ “Những chiếc mấn nu của một kiếp đói nghèo”; nhớ những sớm “Cùng bố rèo tru ra ruộng kéo cày”; nhớ những bữa cơm “Vét tận cùng đọi cháo đĩa rau”… Ôi những nỗi nhớ “Nhùng nhằng dây chạc đan qua” khiến người đọc, nếu không phải người miền Trung, hẳn phải khựng lại một lúc để ngẫm nghĩ, thậm chí để tra từ điển. Nhưng chính sự “khựng lại” đó đã tạo nên một hấp lực thị giác và thính giác mạnh mẽ. Nhà thơ viết về những sinh hoạt thường nhật, về cái nghèo cái khó bằng một thứ ngôn ngữ thô mộc nhưng sức gợi tả lại vô cùng lớn. Phương ngữ, thổ ngữ xứ Nghệ trong thơ Bùi Quang Thanh đóng vai trò như một thứ “căn cước văn hóa” để thơ anh đến với mọi người, đến với cuộc đời. Đó là một phần “chất quê” không lẫn với ai của nhà thơ áo lính, người thơ Hà Tĩnh Bùi Quang Thanh.
Nếu như “chất quê” là phần hồn cốt dạt dào, là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, thì “chất lính” là bộ quân phục tinh thần đi theo Bùi Quang Thanh suốt cả cuộc đời. Bước ra khỏi cuộc chiến tranh vệ quốc với những vết thương trên thịt da và cả những vết sẹo trong tâm khảm, Bùi Quang Thanh chưa bao giờ nguôi cạn mạch cảm hứng viết về chiến tranh người lính. Từ những tập thơ bền bỉ trong sự nghiệp thi ca, cho đến mảng văn xuôi được tập hợp trong tập Nam hành ký sự xuất bản năm 2024, “chất lính” của Bùi Quang Thanh bộc lộ đầy trăn trở, kiêu hùng nhưng cũng đậm vị xót xa thời hậu chiến.
Là người trực tiếp đi qua những tọa độ chết, trong các sáng tác của mình về chủ đề chiến tranh và người lính, Bùi Quang Thanh chọn cách nhìn thẳng vào sự khốc liệt, vào máu và lửa để tạc dựng nên tượng đài về những người đồng đội của mình. “Chất lính” trước hết hiện lên ở sự dũng cảm khi đối diện với cái chết và sự trân trọng tuyệt đối dành cho những người ngã xuống. Trong bài thơ Đêm Thạch Hãn, ký ức về những tháng ngày khốc liệt bên dòng sông lửa hiện về như một thước phim tư liệu ám ảnh: “Thạch Hãn một dòng nước trăng long lanh/ Cỏ non nhớ ai thiết tha cổ thành/ Khói hương lên trời mà thành mây trắng/ Thịt xương vùi đất, lẫn vào lá xanh…” Nhà thơ không chỉ viết bằng vết thương của riêng mình, mà viết bằng vong linh của cả một thế hệ. Trong mảng văn xuôi, những thiên truyện ngắn và ký sự chiến trường của Bùi Quang Thanh ngồn ngộn những chi tiết chân thực đến gai người. Anh kể về những bữa cơm chan nước mưa bên công sự, những trận sốt rét rừng rụng tóc, và cả nụ cười tinh nghịch của người đồng đội trẻ trước giờ nổ súng - người mà chỉ vài chục phút sau đã vĩnh viễn tan vào đất mẹ. Anh kể về những người anh hùng hôm qua trên chiến trường, hôm nay vẫn vất vả mưu sinh…
Thơ Bùi Quang Thanh thường có cái nhìn xoáy riết vào sự hy sinh của đồng bào, đồng chí trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước. Kể cả khi đứng trước hình ảnh “Sừng sững tượng đài chiến thắng” thì anh vẫn nhận ra “đìu hiu dáng mẹ lưng còng” trong bài thơ Lời hương khói được giải thưởng cuộc thi thơ Hướng tới giao thừa thiên niên kỷ (1998-1999) của tạp chí Văn nghệ Quân đội. Hoài niệm chiến trường là một phần quan trọng trong thơ Bùi Quang Thanh. Nhiều bài thơ của anh, như: Lời hương khói; Lời ru đồng đội; Hà ơi; Đêm A Lưới; Đêm pháo hoa sông Son; Đêm Thạch Hãn; Tình thư; Viết giữa lưng chừng… thực sự là những tác phẩm chân thật và xúc động của dòng thơ về chiến tranh và người lính trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm thức của Bùi Quang Thanh, cuộc chiến chưa bao giờ kết thúc. Chất lính thời hậu chiến trong sáng tác của anh không còn là tiếng kèn xung trận, mà là nỗi day dứt, trăn trở của một người may mắn được trở về. Anh tự coi mình là người mang nợ. Người cựu chiến binh Bùi Quang Thanh hôm nay đứng giữa những nghĩa trang bạt ngàn những bia mộ có tên và không tên, thấy mình như một kẻ có lỗi. Dù day dứt, dù đau thương, nhưng bản lĩnh của một người lính không cho phép Bùi Quang Thanh gục ngã hay bi lụy. “Chất lính” trong thơ văn của anh chính là điểm tựa để anh đi qua những cám dỗ, những nhiễu nhương của cơ chế thị trường và những biến động của cuộc sống hiện đại. Anh mang cái ngay thẳng, bộc trực và kiên cường của người lính vào cuộc chiến chống lại sự suy thoái đạo đức, chống lại sự lãng quên. Anh viết trong một bài thơ tự răn mình: “Sống sót đi qua nghìn họng súng/ Chẳng lẽ gục ngã trước đồng tiền?/ Giữ lấy cái tâm thời áo lính/ Giữa cõi người ta, giữ chút hiền...” Tư thế của Bùi Quang Thanh luôn là tư thế đứng thẳng. Giọng nhà thơ lúc này trở nên đanh thép, bộc trực giống như tính cách vốn có của người xứ Nghệ. Nhà thơ dùng ngòi bút như một thứ vũ khí để bảo vệ những giá trị thiêng liêng của quá khứ, bảo vệ danh dự của người lính. Đối với anh, thanh thản lớn nhất của cuộc đời là khi nhắm mắt xuôi tay, mình vẫn vẹn nguyên là một người lính chân chính, không hổ thẹn với những người đã khuất.
“Chất lính” là chiếc bản lề nối liền cuộc đời thực tế và thế giới nghệ thuật của Bùi Quang Thanh. Trong các hoạt động xã hội và công tác Hội Văn học Nghệ thuật, anh luôn mang theo tinh thần kỷ luật và sự nhiệt huyết của một người lính Bộ đội Cụ Hồ. Anh tích cực tham gia vào các hoạt động kết nối, nâng đỡ các cây bút trẻ tại quê nhà Hà Tĩnh, xem đó như một nhiệm vụ tiếp lửa cho thế hệ sau giống như cách các thế hệ chiến sĩ truyền tay nhau khẩu súng năm xưa. Đặc biệt, tình đồng đội luôn là kim chỉ nam cho các hoạt động nghệ thuật cũng như hoạt động xã hội của Bùi Quang Thanh. Những năm gần đây, anh dành nhiều tâm huyết cho các chuyến về lại chiến trường xưa, thăm hỏi những người đồng đội cũ, giúp đỡ những gia đình thương binh, liệt sĩ… Và sau mỗi chuyến đi ấy, vẫn là những bài thơ, những trang bút ký về người lính hôm qua và hôm nay. Anh viết về Nơi yên nghỉ của Tướng quân ở Vũng Chùa - Đảo Yến dưới chân Đèo Ngang - Hoành Sơn. Anh trò chuyện cùng 13 liệt sĩ thông tin ở Lèn Hà - một di tích lịch sử trên đường Hồ Chí Minh đoạn đi qua tỉnh Quảng Bình trước đây. Anh hào hởi khi được gặp những người lính trẻ đồng hương trọ trẹ ở Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca… trên quần đảo Trường Sa. Tiến sĩ Kinh tế Vương Cường - nhà thơ đồng hương xứ Nghệ của Bùi Quang Thanh - gọi anh là “người lang thang vĩ đại” chính vì mục đích và kết quả của những cuộc xê dịch liên miên như thế…
Có thể nói, “chất lính” trong con người và trong văn thơ của Bùi Quang Thanh là một thể thống nhất. Nó được tôi luyện từ bom đạn chiến trường, được nuôi dưỡng bằng nghĩa tình đồng đội và được phát huy mạnh mẽ trong các hoạt động xã hội thời bình. “Chất lính” kiên trung và đằm thắm ấy đã làm nên một diện mạo thơ Bùi Quang Thanh rất riêng biệt - một giọng thơ không chỉ để đọc, để ngâm, mà còn để chiêm nghiệm về nhân cách của một thế hệ anh hùng. “Chất lính” hòa quyện cùng “chất quê” làm nên gương mặt thơ Bùi Quang Thanh. Nhà thơ áo lính này chưa bao giờ giải ngũ trong tâm hồn. Anh vẫn là người lính đứng gác cho ký ức, tiếp tục nâng niu những “hạt đắng” suy tư trải nghiệm, để dâng tặng cho cuộc đời thứ “mật ong vàng” của lòng biết ơn và niềm tin vào con người.