Từ những bài thơ ban đầu, thơ Thạch Quỳ đã có nhiều liên tưởng sâu nặng về đá: “Cắm trên đỉnh núi Quỳ mấy triệu năm rồi đấy/ Hỡi đá xe cồ, xe kéo, ông voi/ Đá ván trượt rêu nhờn mỡ chảy/ Đá vụt mo dựng đứng lên trời” (Đá trên đỉnh núi Quỳ).
Năm tháng xoay vần cuộc sống cam go nhưng khi nghĩ về thơ, Thạch Quỳ luôn nhìn thấy đỉnh đá nhú cao trên núi Quỳ quê ông tựa những mũi chông đá dưới trời như một niềm kiêu hãnh. Mang niềm kiêu hãnh đó, Thạch Quỳ làm nên hành trình thơ: Yêu tận cùng con người và cuộc đời kham khó này. Hành trình thơ của Thạch Quỳ “không nghỉ, không ngừng, không dừng điểm cuối”. Sức viết bền bỉ cho thấy suốt một đời thi sĩ sống “căng đầy nội lực” với niềm kiêu hãnh của hồn thơ “rắn đá”: “Con đường này anh đi ngày đi đêm/ Dù óc anh hay nghĩ, mắt hay nhìn/ Những tia lửa bắn ra từ đá rắn/ Thứ lửa này, ai hiểu bằng em” (Tặng những cô gái đập đá bên đường không tên).
Thơ Thạch Quỳ bộc lộ sự vắt kiệt đến mức tận cùng mọi quan sát, nghĩ suy, xúc cảm. Sự vắt kiệt tận cùng sức mình cho thấy nỗi day trở sâu nặng trong thơ ông: “Viết, viết rồi lại viết/ Vắt kiệt cả máu mình” (Nhà thơ). Mang hồn thơ “rắn đá” và sự day trở sâu nặng ấy, nhà thơ tạo thêm một thiên hướng mới cho thơ. Càng nâng niu vẻ đẹp sự sống thì tấm lòng càng ngay thẳng đến chân thật: “Đường thẳng luôn bài xích những cong queo/ Và gạt bỏ những lối mòn có sẵn” (Cái đường thẳng nằm trong hình học).
|
Thạch Quỳ tự “đăng” thơ mình trên nền đất nhà bếp bằng những nét than từ hồi 13 tuổi. Những vần thơ học trò đã sớm ám ảnh bởi vần điệu, màu sắc phong trào Thơ mới (1932-1945). Năm 1967, Thạch Quỳ điềm nhiên bước vào chặng đường thơ viết về chiến tranh với tập thơ đầu tay Sao và Đất in chung với Quang Huy.
Cho đến cuối đời, hơn 300 bài thơ là tài sản vô giá của một hành trình cầm bút. Điều đặc biệt “rất Thạch Quỳ” là đề tài trong thơ ông gần gũi đến mức ai cũng nhìn thấy nhưng họ bỗng sững sờ khi đọc những vần thơ của ông xuất hiện: “Nước trong veo con cá quả no mồi/ Lượn đủng đỉnh chào thăm từng gốc lúa/ Con cá ngửi vết chân bùn bỡ ngỡ/ Nổi mắt tròn, ngơ ngác nhận ra tôi” (Hóng gió trên cánh đồng làng). Những ai từng ngồi trên cánh đồng làng và ai đã nhìn thấy hình ảnh quá đỗi thân thuộc như trong thơ Thạch Quỳ.
Thơ Thạch Quỳ lột tả cuộc sống đến mức tài năng. Ấn tượng này khiến không ít người làm thơ hôm nay trăn trở: Ở đâu trong cuộc sống này có vẻ đẹp của thơ? Đâu là cấp độ biến đổi thường thấy trong thơ? Những bài thơ in báo (kể cả đăng Facebook) nhưng đâu thực sự là hồn cốt của thơ. Năm 1972, Thạch Quỳ viết về cây tre bị bom B.52 cắt cụt và về máu của đất: “Tre bãi bom là tre cụt ngọn/ Như tầm vông móc nhọn chĩa lên trời/ Mảnh bom giặc còn găm trong thịt đất/ Tôi rút lên, và thấy máu đất tươi” (Gom nhặt trên bãi bom B.52).
Thơ ẩn mình lặng im trong tầng sâu của đời sống con người, xã hội. Ai đó khó có thể nhìn thấy vẻ đẹp đích thực, lung linh của thơ nhưng Thạch Quỳ phát hiện, tái tạo nó bằng những vần thơ cũng lung linh khác thường. Bởi bất kỳ câu thơ nào của ông cũng đều được viết bằng sự độc đáo của sự nghĩ ngợi, của tầm quan sát, của khả năng đặc tả bằng thứ ngôn ngữ hình tượng khắc họa, gợi mở đến ám ảnh khiến người đọc suy ngẫm, không chỉ với những biểu hiện trên bề nổi câu thơ: “Có mùi mật trong hoa/ Điều đó chú ong vàng cũng biết/ Có hương thơm ẩn giữa sắc màu/ Cái chuyện này, bướm tím biết từ lâu/ Nhưng bạn ạ/ Hương trầm trong gỗ mục/ Thì ong vàng, bướm tím có hay đâu” (Không đề).
Trong Tuyển thơ Việt Nam 1945-1975, nhà thơ Chế Lan Viên nhận xét: “Cần theo dõi bước tiến của Thạch Quỳ, Thanh Tùng, Đào Cảng.” Cuối giai đoạn này, thơ Thạch Quỳ trên đà sung sức, góp mặt cùng thế hệ những nhà thơ tiêu biểu trong và sau chiến tranh của nền thơ Việt Nam.
Năm 1976, trên chuyến tàu chợ đông chật người, tôi mua được tờ báo Văn nghệ từ người bán báo dạo và nước chè chén trên tàu. Mở tờ báo, thấy trang nhất đăng trọn bài thơ Viết ở hồ Kẻ Gỗ của Thạch Quỳ. Tôi lại gặp đất, đá, con người với bao tầng ý nghĩa trong thơ: “Sườn núi mưa bào trơ lại sỏi/ Trơ lại gốc sim giữa đá gan gà/ Cây táu lớn rễ già cũng nổi/ Nơi xói mòn con nước lũ đi qua… Đã đi qua trăm nghìn con nước mù/ Ào ạt chảy giữa rừng đen xói lở/ Ào ạt chảy xô nhà và xô cửa/ Xô chân người dạt khỏi đất quê hương.”
Ngày ấy, hàng vạn công nhân, dân công, bộ đội cùng máy móc, sắt thép, xi măng được huy động vào Hà Tĩnh xây dựng hồ Kẻ Gỗ (trữ lượng 350 triệu mét khối nước) với ý chí, sức mạnh tập thể và kỹ thuật cao. Còn Thạch Quỳ đi xây dựng hồ Kẻ Gỗ bằng nỗi niềm của những cây lúa mong mưa; nỗi âu lo phấp phỏng ngày cây lúa trổ bông; nỗi bực dọc những đêm bếp rừng tắt lửa; nỗi ngóng chờ trên chỏm biếc nhành cây và bằng cả nỗi đau sau mỗi vạt ruộng đã cày... Tâm sự ấy của nhà thơ xuất hiện, gây hưng phấn người đọc nhờ những quan sát độc lạ kiểu Thạch Quỳ, hình ảnh đắt giá kiểu Thạch Quỳ, ngôn ngữ không hề dễ dãi kiểu Thạch Quỳ nên thơ của ông không chỉ “vẽ” được sắc màu thật của hồ Kẻ Gỗ mà còn “nâng cấp” nó lên trong cách nhìn về một vùng đất nghèo khó đến cằn khô: “Cây lúa mong mưa trên đất Cẩm Xuyên/ Thân bạc trắng và đốm vàng nửa lá/ Đất cát sạm nắng sùi vẩy cá/ Lúa khô mùa, cỏ giáp trổ mùa hoa.”
Thạch Quỳ thích nghe ý kiến có thông tin của người trò chuyện. Ví như: Chuyện tưởng tượng của nhà thơ. Một lần, ông nói vui: “Không phải cứ ở giữa Hà Nội mới viết được thơ hay về ga Hàng Cỏ.” Mới hay, bài thơ Viết ở hồ Kẻ Gỗ dài 117 câu thuộc “mô típ” này.
Nhà thơ Tùng Bách (kho tư liệu sống về văn nghệ sĩ ở Nghệ Tĩnh) kể: “Năm 1976, các nhà văn, nhà thơ Nghệ An tập trung tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật để đi viết về hồ Kẻ Gỗ. Hôm ấy, chiếc xe ca lăn bánh gần một cây số, mình kiểm đếm danh sách, bắt đầu từ vị trí nhà thơ Minh Huệ ngồi. Không thấy nhà thơ Thạch Quỳ, mình gọi to: ‘Nhà thơ Thạch Quỳ ở mô?’ Nhà thơ Cảnh Nguyên lên tiếng: ‘Thạch Quỳ lên xe một tí ở Hội xong xuống rồi.’ Chuyến đi không có Thạch Quỳ nhưng sau đó mấy hôm ông đưa cho mình đọc bài thơ dài viết bằng bút mực trong cuốn sổ giấy nâu. Tính từ hôm đoàn đi thực tế thì hai tuần sau bài thơ Viết ở hồ Kẻ Gỗ của Thạch Quỳ đăng báo Văn nghệ.”
Thơ Thạch Quỳ còn cho thấy, ngoài sức tưởng tượng, nhà thơ có vốn sống đầy ắp những tâm tư. Chiêm nghiệm thơ ông, sẽ tự biết nếu người sáng tác thiếu hụt vốn sống hoặc sống “nhạt” thì rất khó viết hoặc viết bị hời hợt. Kỷ niệm cũng là một dạng vốn sống chất chứa của Thạch Quỳ. Với ông, kỷ niệm thường là nỗi nhớ day dứt. Nếu không có những buổi trưa nằm võng nghe tiếng chim hót vòi vọi trên rặng tre sau hiên nhà, trên cây bồ kết cuối góc vườn, trên cánh đồng làng thì nhà thơ khó “gọi” được muôn vẻ hồn vía tiếng chim trời lúc tươi mới, lúc bâng khuâng: “Tiếng dụ dị trầm đều như đất thở/ Buổi cày trưa bìm bịp gọi trong lùm…/ Tiếng chào mào ríu rít những trưa vui/ Em có nhớ lớp học mình nắng như tấm khăn dù choàng lên cây mật đỏ/ Tiếng chim hót suốt hàng cây tuổi nhỏ/ Trái đa xanh, đa tím rụng ao làng” (Tiếng chim).
Thạch Quỳ không hề viết một câu thơ suông, nhạt tình, nhạt hình, nhạt ý. Hình như ông bắt buộc mỗi câu thơ của mình viết ra phải là một câu thơ sắc, đẹp với đầy đủ ý nghĩa của nó. Viết về rừng thông, ông gieo những vần lục bát thật thơ: “Mùa xuân thả nắng chiêm bao/ Thả mưa bụi phấn bay vào rừng thông/ Mùa xuân thả nắng mật ong/ Cho cây lá nhọn đứng hong nhựa vàng” (Lục bát về thông).
Thạch Quỳ luôn đi đến tận cùng ý tưởng của bài thơ. Phải ngẫm nghĩ lắm, chất chứa lắm thì câu thơ viết cách mấy chục năm trời, đến khi 82 tuổi nằm trên giường bệnh ông vẫn nhớ và đọc trong xúc cảm đăm chiêu kiểu Thạch Quỳ. Với ông, nhà thơ không chỉ tôn trọng cái tên của mình ghi trên đầu bài thơ mà còn phải biết tôn trọng độc giả. Hễ ngồi tâm tình chuyện văn học, thơ ca thì ông bộc lộ bản chất văn chương của con người nhà thơ, rất thú vị.
Viết về cái nghèo trong những năm cực kỳ gian khó, thơ ông giúp những người từng bị những cơn đói giày vò, thấm hiểu thêm cái sự nghèo bằng vị đắng nằm trong hạt cám li ti; cái chất ngứa nằm trong cây ráy ngứa mọc bên bờ ao. Cái nghèo luồn lọt qua trăm ngàn mối chỉ để nằm trong mảnh áo vá của đứa con thơ. Cái nghèo ấy vô cùng biến hiện, khi nó núp trong vừng trán mẹ nhăn nheo, khi ẩn dưới gót chân em gái nứt nẻ. Cái nghèo lại đội nón cời, nhón chân đi từng bước. Cái nghèo lại cười sưa răng trên miệng ấm sứt vòi. Cái nghèo thường nằm sẵn đợi nhà thơ trên chiếc chiếu trải giường ướt, rách xơ đến thâm tím, để: “Đêm ta ngủ thì mày hóa kiến/ Bò nôn nao trong ruột đói của ta.” Nhưng mức nghèo ấy vẫn chưa thể tả hết cái sự nghèo rớt mà dân gian thường nói “nghèo xác xơ”, Thạch Quỳ truy đến cùng: “Cái nghèo xơ trên bộ cánh làm sang/ Cái nghèo xác nằm trơ đáy đĩa” (Cái nghèo).
Sau bài thơ này nhiều năm, tôi từng chứng kiến cảnh nghèo của gia đình nhà thơ trong những bữa cơm mà thức ăn trên cái mâm nhôm cũ chỉ độc có một bát… ruốc (mắm tôm).
Nhà thơ Thạch Quỳ không để tâm tới ăn mặc, tóc tai, xe cộ, nhà cửa. Ăn gì cũng được. Mặc gì cũng xong. Dày dép, xe cộ chi ông cũng đắc ý. Ông thường ngồi một mình trong căn phòng nhỏ chỉ có hai tủ sách và mấy bức tranh sơn dầu bạn bè phác họa chân dung gai góc của ông. Ông ngồi, hai tay bó gối, mắt tư lự nhìn khoảng trời phía trước như đang ngẫm nghĩ một điều gì hệ trọng. Nhìn nhà thơ, tôi chợt hình dung con chim Tà Vặt có đôi mắt linh lợi, cái mỏ đỏ như than hồng, ngồi thu lu trên đá giữa núi trọc, đồi hoang. Do sống trên núi đá nên chân con chim Tà Vặt gầy khô như thanh củi cháy sém. Thạch Quỳ viết về con chim lạ này bằng những câu thơ đầy liên tưởng: “Thấy người là chim theo/ Như bíu lấy nón mũ/ Người đi chim bay theo/ Đá ném cũng không sợ/ Tiếng kêu như lọ vỡ/ Rơi lả tả trên đầu” (Con chim Tà Vặt).
Nếu có điều hệ trọng thì chỉ có thể là một câu thơ, bài thơ đang ấp ủ, dồn nén ông. Bởi ông quan niệm: “Thơ là phương tiện đồng hóa giữa con người với sự sống.” Và: “Thơ cao hơn mọi hiểu biết về thơ.”