Sáng tác

Quê hương. Truyện ngắn của Vũ Đức Nghĩa

Vũ Đức Nghĩa
Truyện 08:20 | 24/03/2026
Baovannghe.vn-....Tàu về tới Ninh Sơn mới khoảng 2 giờ sáng. Lúc ấy, trên khoang số 4 chỉ còn lại hai người....
aa
Quê hương. Truyện ngắn của Vũ Đức Nghĩa
Minh họa Vũ Đình Tuấn

Mới đến ga Đồng Hới, Phúc đã nhấp nha nhấp nhổm, đứng ngồi không yên, hết xem đồng hồ lại nhìn ra cửa sổ; hai bên đường, đèn điện sáng trưng soi rõ bao nhiêu điều mới lạ, nhưng vui mắt nhất vẫn là những khóm hoa xuân đang mùa nở rộ; hoa đào phơn phớt màu hồng như làn da con gái tuổi dậy thì; hoa mận phô ra từng chùm trắng muốt - những nhánh hoa trẻ trung, đài các, lại có vẻ hoang sơ, thấm đẫm hồn quê, lung linh trước làn gió nhẹ, như vẫy tay chào đón những kẻ tha hương mỗi dịp xuân về. Phúc cũng xốn xang bao điều khó tả. Mấy chục năm rồi, còn gì?

Tàu về tới Ninh Sơn mới khoảng 2 giờ sáng. Lúc ấy, trên khoang số 4 chỉ còn lại hai người. Phúc vội vã bắt tay người bạn đường, tạm biệt rồi bước nhanh ra cửa. Khi đã xuống sân ga, anh cứ đứng ngây ra như một kẻ lạc rừng, không biết hỏi ai và cũng không biết đi về hướng nào cho phải. Tần ngần một lúc, anh lại bước... lên tàu!

Thật không ngờ, nãy giờ, có một người vẫn lặng lẽ dõi theo Phúc. Anh ta nhếch một nụ cười ý nhị:

- Có chuyện gì mà bi kịch thế?

Bị đoán trúng tim, Phúc lặng thinh. Có lẽ, chính cái lặng thinh ấy càng làm người bạn đường chú ý. Phúc biết, anh ta sẽ không dừng lại. Chỉ một lát nữa thôi, anh ta sẽ thực hiện một cuộc “truy bức” để anh phải khai ra bí mật câu chuyện mà anh vừa vô tình tiết lộ?

Quả nhiên, sau vài phút yên lặng, anh ta đã vào đề: “Cứ xem cái bộ dạng của cậu ai cũng sẽ đoán ra.” Rồi gật gù ngâm ngợi: “Con kiến mà leo cành đa; leo phải cành cộc leo ra leo vào.”

Phúc thầm nể phục: anh là nhà ngoại cảm, có biệt tài thôi miên, một sĩ quan tình báo, hay một thám tử tư, một kẻ lõi đời? Ngay câu hỏi đầu tiên, và âm điệu giọng nói đã làm cho người ta muốn cào cả ruột gan cho anh xem! Anh ta quả quyết rằng, chỉ vài ngày nữa, anh sẽ trở lại ga này, cùng về quê Phúc, cũng như sáng mai Phúc sẽ về quê anh.

Đoạn đường về quê anh xem ra vẫn còn dài, vả lại, trong đêm khuya, chỉ có tiếng bánh xe nghiến vào đường ray rào rạo, đơn điệu, kể chuyện đời cho nhau nghe cần gì phải giữ mình, giữ kẽ?

… Tháng 2/1968 - Phúc kể - tôi về nhà nghỉ phép để chuẩn bị đi B. Một tuần, thời gian trôi nhanh quá! Có bao nhiêu việc phải làm, có bao nhiêu điều cần nói, nhưng cái điều cần nói nhất vẫn là chuyện tôi phải nói với Xoa. Gia đình, bạn bè, rồi cả những vị khách không mời choán hết thời gian được tính bằng… vàng, mà tôi chưa có cơ hội để gặp riêng Xoa! Tối nào em cũng ngồi tới khuya, nhưng các bạn của tôi quá vô tư, họ cũng ngồi cho tới khi Xoa đứng lên, rồi cả bọn cùng về! Đêm cuối cùng, các bạn rủ tôi đi dạo trên con kênh ở đầu làng. Khi chúng tôi về tới bờ hồ thì bỗng dưng Xoa kêu “Ối” lên một tiếng. Tất cả đều quay lại: Xoa bị đứt quai dép, trẹo chân, nhưng các bạn, không một ai chạy đến đỡ Xoa lên. Họ nhường cho tôi? Dĩ nhiên! Tôi vội vàng quay lại. Ở đằng trước, có tiếng cười khúc khích, rồi cả bọn ùa về các ngõ, để lại tôi và Xoa. Tôi thầm cảm ơn các bạn, và ngàn lần cảm ơn cái dép đứt của Xoa? Tôi biết là không có thời gian và không còn dịp nào nữa nên đánh liều nắm lấy tay em. Chúng tôi muốn đứng mãi như thế dưới bầu trời đêm yên ả, dưới ánh trăng thu dịu dàng. Những ngày qua, chúng tôi càng thấu tỏ lòng nhau: Cả hai đều say nhau đến độ, một ngày không nhìn thấy nhau đã phát ốm. Không một lời tỏ tình, cũng không dám ôm hôn, chỉ có hai bàn tay run run nắm chặt lấy nhau, chúng tôi thầm hiểu, đó là một lời thề, một hứa hẹn thiêng liêng của những người con gái, con trai khi họ sắp xa nhau. Khi buộc phải chia tay, tôi chỉ nói với em một lời chẳng ăn nhập vào đâu: “Em ở nhà giữ gìn sức khỏe.” Xoa khóc, tôi âu yếm lau nước mắt cho em rồi đưa em về tận cổng.

- Ừ hừm… mối tình tuyệt đẹp, nhưng rồi, nàng phản bội phải không?

Phúc giật mình, anh bạn đồng hành như đã rõ mười mươi đoạn kết?

- Sao anh biết?

- Bởi vậy, cậu mới không muốn về làng!

- Không hẳn thế. Chuyện đó sau này chỉ còn là chuyện… nhỏ, nhưng bấy giờ cú sốc ấy cũng suýt làm tôi tàn đời. Ngày từ mặt trận trở về, biết Xoa đã thuộc về người khác, tôi nằm vật ra giường, khóc tấm tức như một cậu bé bị đòn oan. Mẹ tôi xót xa, gặng hỏi:

“Chỗ bị thương hãy còn đau hả con?”

“Vâng - tôi nói dối mẹ - mấy hôm nay trở trời, vết thương đau quá.”

Bây giờ nghĩ lại, tôi lại thấy thương Xoa. Ở tuổi Xoa, người con gái khao khát được yêu, khao khát được vuốt ve, mơn trớn, còn tôi thì xa xôi diệu vợi, thập tử nhất sinh. Cô ấy lại quá xinh, quá mặn mà, đứng đâu con trai cũng vây lấy như ruồi thấy mật. Đời con gái, biết đâu mà chờ, trách oán Xoa làm chi.

Lẽ ra, tôi phải có một thời gian để cho lòng mình thanh thản, nhưng vì cha mẹ luôn hối thúc, và cái chính là do tôi, tôi muốn lấp khoảng trống vừa hụt hẫng. Cô bé nhà bên cũng hay hay, ngồ ngộ, ngày nào đã cùng tôi đi trâu cắt cỏ, cũng đã từng chơi trò đám cưới, rước dâu “làm vợ, làm chồng” trong cái trò trẻ con thuở còn thơ dại, bây giờ đã thành người lớn.

- Hay - anh bạn đường vui vẻ động viên, rồi anh lại gật gù ngâm ngợi: “Cô bé nhà bên… thẹn thùng núp sau cánh cửa…”

- Không, cô ấy chẳng cần giấu giếm tình cảm của mình. Cô thường đến thăm tôi, ân cần, chiều chuộng như cô em gái, chiều chuộng như vợ với chồng. Nhiều lần, tôi đã thầm tự hỏi: Huyền không đẹp bằng Xoa, nhưng trên đời, còn ai yêu ta và thương ta như Huyền; từ chối tình yêu của Huyền, ta sẽ là kẻ bất nhân, một tên hợm hĩnh. Vậy là tôi yêu, nói đúng hơn - tôi thương Huyền. Chúng tôi cũng đưa nhau đi đây, đi đó nhưng thật bất công, hình ảnh Xoa cứ chen vào giữa chúng tôi nên tình cảm tôi dành cho Huyền có hơi tẻ nhạt! Huyền biết, nhưng cô chấp nhận!

Trở lại đơn vị an dưỡng để ôn thi vào đại học. Sau khi nhận thông báo trúng tuyển, tôi háo hức về quê, tự thưởng cho mình một kỳ nghỉ hè hứa hẹn bao nhiêu điều thú vị.

Nhưng…

Đến khi gặp Huyền, chân tôi như đạp phải một chiếc gai sắc, nhọn. Linh cảm cho tôi biết: Huyền đang có chuyện gì khó xử. Tôi buột miệng nói đùa:

“Có người khác phải không?”

Tội nghiệp cho Huyền, cô ấy không biết nói dối. Huyền quay mặt đi, ngượng ngập, và im lặng. Lòng tôi tê tái, rõ ràng Huyền đang phải đấu tranh dữ dội. Lẽ nào Huyền đã thuộc về người khác, lẽ nào, một lần nữa, tôi lại trắng tay?

Tối hôm ấy, có một chuyện ngẫu nhiên đến dị thường: người bạn gái nết na, và tương lai sẽ là vợ tôi, hôm nay bỗng lẳng lơ, dạn dĩ. Cũng có thể, Huyền muốn dâng hiến cho tôi như người ta chiêu đãi bữa đại tiệc trước lúc chia tay? Nếu đúng vậy thì ghê tởm quá! Nghĩ được thế, nhưng khốn khổ thân tôi - tôi chỉ là một gã trai tơ mới lớn, tò mò và khao khát ái ân, giờ đây, trong đêm tối, tôi đang được một người đàn bà ban tặng, tôi khó lòng cưỡng nổi và tôi đã gục đầu vào bộ ngực đã mở sẵn khuy áo của Huyền.

Đúng lúc ấy. Không thể giải thích nổi - ngẫu nhiên - hay có thể sự linh thiêng của tổ tiên - những linh hồn bất tử, đã kéo tôi lùi lại, chỉ vài cm trước một cái bẫy đã được bôi trơn và hương vị ngọt ngào đến nỗi làm tê dại mọi sức đề kháng?

Đàn lợn của trại chăn nuôi Hợp tác xã hàng trăm con đồng thanh rú lên ghê rợn. Lập tức, đội tuần tra dân quân ập đến; đèn pin, đèn măng-xông sáng trắng một góc trời. Họ soi rọi từng ngõ ngách tìm kẻ trộm, chỉ riêng căn phòng bảo vệ là không bị kiểm tra. Hồi chiều, cậu tôi có nhờ tôi canh giúp một đêm vì cậu thấy trong người khó ở. Tôi đã chớp ngay thời cơ lí tưởng cho cuộc “hẹn hò”.

Mọi người ra về. Tôi chẳng còn hồn vía nào để cùng Huyền tiếp tục niềm vui ân ái; đêm mùa đông mà mồ hôi túa ra ướt áo, người tôi mềm nhũn, lại lo lắng ở đâu đó vẫn có người rình rập. Huyền bạo dạn hơn tôi, hình như cô không sợ nên vẫn còn nấn ná. Lúc ấy mẹ tôi từ ngoài cổng bước vào, bà nói nhỏ nhưng nghiêm nghị:

“Khuya rồi, con về nghỉ đi, để mẹ coi trại…”

Nếu không có “lệnh” của mẹ thì chưa chắc tôi có thể buông tha món quà tặng mà Huyền dâng hiến.

Sau này, tôi vẫn thầm cảm ơn mẹ, cảm ơn khoảnh khắc linh thiêng đến dị thường.

Bị hai người con gái ruồng bỏ, tôi đã tưởng mình là đồ phế thải, nhưng hóa ra, không phải thế.

Tôi gõ cửa căn phòng số 1 - kí túc xá của sinh viên khoa Văn. Tiếng rúc rích bên trong im bặt, rồi cánh cửa khẽ hé ra một téo. Tôi đã định lùi lại thì một cô từ trên giường tầng hai nhảy phốc xuống, chạy ra, che lấy “cảnh tượng” bên trong, ngượng ngập:

“Anh… là học sinh lớp C2?”

Tôi gật đầu khẳng định.

Mắt cô nàng bỗng sáng rực, cô nói như reo lên:

“Anh này cũng học lớp ta chúng mày ơi!”

Những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Mĩ, con trai hầu như đều ở ngoài mặt trận. Sĩ số lớp tôi 47 thì có tới 31 là sinh viên nữ. Con gái lớp văn cô nào cũng đáng yêu, tôi như lạc vào Tây Vương Nữ quốc, và tôi đã bị chính cái cô ra mở cửa phòng hôm đầu chinh phục.

Đó là những ngày hạnh phúc nhất của đời tôi.

Nhà trường ưu tiên cho tôi một căn gác xép. Gọi là căn gác xép nhưng đó là căn phòng tắm của tầng hai, nay đường nước bị hư nên tận dụng làm phòng ở. Thi thoảng Hoài cũng đến học chung. Mỗi lần Hoài đến, căn phòng lại tràn ngập mùi hoa quỳnh và hương trinh nữ. Hễ ngồi bên em là cơn “sóng thần” trong tôi trỗi dậy. Có lần tôi đột ngột quăng sách, ôm siết lấy em, vồ vập. Lúc ấy, Hoài vừa thở hào hển vừa giơ ngón tay gí vào trán tôi đe dọa:

“Nể tình ‘Lương Sơn Bá’… ‘Chúc Anh Đài’ có thể chiều từ Ô... tới H. Đừng có mơ. Muốn từ A tới Z thì ra ngoài công viên! Ở đây, yên tâm đi... em còn phải học bài.”

Tuy nói vậy, nhưng nhiều lần Hoài cũng tỏ ra lo lắng: “Có lẽ mình nên báo cáo tổ chức đi anh. Em muốn công khai mối quan hệ, để khỏi ai dị nghị, em sợ…”

Tôi sung sướng nhìn vào mắt em, khiêu khích:

“Em sợ cái gì nào?”

Hoài gục đầu vào vai tôi nũng nịu:

“Cứ thế này, lỡ có chuyện gì, hai đứa bị đuổi học mất thôi!”

Lời nói của Hoài thật linh nghiệm!

Ba tháng sau.

Khi vừa tan học, tôi được ông bảo vệ thông báo: có người nhà đến thăm.

Chị tôi ngồi trong nhà khách đang nóng lòng nhìn ra ngoài cửa. Thấy tôi, nước mắt chị giàn giụa, chị mếu máo cho tôi biết một chuyện tày đình (…) đang ầm ĩ ở quê. Tôi cũng bị bất ngờ liền hỏi:

“Người yêu Huyền là ai, sao họ không tổ chức cưới đi…”

Chị tôi òa khóc: “Cái Huyền nó… nó khai… nó… chửa với em!”

Trời đất bỗng chao nghiêng. Tôi như bị trúng cơn gió độc và chỉ còn ý thức được rằng: nếu kẻ nào phạm vào tội ấy thì có nghĩa là - tất cả - sự nghiệp, tương lai đều chấm hết. Đối với riêng tôi: chấm hết cả mối tình tuyệt đẹp. Hoài là một thiếu nữ còn rất ngây thơ, trong sáng, tôi không nỡ để nàng dính vào những buồn đau, uẩn ức của đời mình. Lúc này, cái thẻ thương binh và những tấm huân chương cũng chẳng cứu được tôi - đúng thế - quá khứ anh hùng của mỗi người sẽ chẳng còn giá trị gì nữa, nếu hiện tại họ sống không xứng đáng - công lí thật rạch ròi.1

Tôi xin phép nhà trường rồi hai chị em tất tả về quê.

Sự việc thật bẽ bàng: cái bụng của Huyền hình như đã gần ngày sinh nở! Tôi nói chuyện với Huyền nhưng cô cứ quay mặt đi như người hờn giận, như người xấu hổ. Cuối cùng, tôi phải đưa ra đề nghị:

“Bây giờ, Huyền tính sao?”

“Anh… nói với ông bà bên ấy làm đám cưới.” Huyền nói, mặt vẫn nhìn đi nơi khác.

Dù đã đoán được phần nào nhưng tôi vẫn bị bất ngờ. Tôi nghĩ là Huyền sẽ thú thực với tôi và nhờ tôi đóng vai “Lê Lai cứu Chúa”, nhưng giọng nói của Huyền là giọng của người ra lệnh, của tối hậu thư! Bị chạm tự ái, cái máu “anh hùng” trong tôi bỗng sôi lên từng đợt, tôi đứng bật dậy:

“Cô Huyền đang nằm mơ đấy, B.52 tôi còn không sợ nữa là...”

Nếu nghe lời một vài người bạn thì số phận tôi đã có thể đi theo một chiều hướng khác. Họ khuyên tôi cứ tổ chức cưới Huyền cho qua cơn sóng gió, rồi sau đó li thân, li dị thiếu gì lí do(!) Nhưng hồi ấy, tôi còn quá trẻ để tính toán thiệt hơn; tự tin và hiếu thắng lại bị sự trâng tráo của Huyền thách thức nên tôi buộc phải giương vi lên để khẳng định mình. Đến trường, tôi lên ngay phòng tổ chức để trình bày sự việc chỉ nay mai sẽ làm phiền tới họ. Ông trưởng phòng tổ chức nghe xong, không giấu được vui mừng, đắc ý. Ông xem đồng hồ rồi mỉm cười, bí hiểm:

“Nhà trường hoan nghênh anh đã thật thà khai báo, bây giờ anh cứ về suy nghĩ cho kĩ rồi chúng tôi sẽ trình lãnh đạo.”

Không hiểu tại sao, ngay chiều hôm sau, Hoài biết. Nàng rủ tôi đi chơi. Vừa ngồi xuống ghế ở công viên, Hoài đã ôm mặt khóc, nàng nói những chuyện đang ì xèo đàm tiếu về tôi, những tai ách tôi khó lòng tránh khỏi, bởi vì, ở trường này, có một số thương binh công thần, quậy phá, nhưng đang có chiến tranh, tổ chức còn nương nhẹ! Bây giờ đất nước đã hòa bình, người ta không nể nữa. Đây là dịp để họ ra tay, và cũng để răn đe kẻ khác! Anh sẽ là người hi sinh… làm vật tế thần!

Tôi thật sự kinh ngạc về nhận định của Hoài; nếu đúng như Hoài nói thì… Hoài ơi, em sẽ là người chịu đau đớn nhất!

Hai hôm sau: tôi được gọi lên phòng tổ chức. Đúng như Hoài dự đoán: tất cả đã được định đoạt. Ông cán bộ tổ chức đưa ra hai phương án để tôi lựa chọn:

“Anh hãy nghe cho kĩ và tự quyết định sinh mệnh của mình: một là - hãy về cưới cô Huyền, như vậy, anh chỉ bị cảnh cáo, ghi lí lịch; hai là - vẫn khăng khăng ngoan cố, thì… anh sẽ bị đình chỉ học tập, bị xóa tên khỏi danh sách đảng viên, bị…”

Lòng tự ái của tôi lại bị thách thức. Tôi cầm hai tập hồ sơ, hai phương án - bản án, xé vụn rồi quăng xuống đất:

“Tôi cóc cần.”

Đó là một bước ngoặt, khởi đầu cuộc phiêu lưu đầy gian khổ của tôi. Bây giờ nghĩ lại, tôi cũng thấy giật mình về cái bệnh ương gàn, liều lĩnh của mình. Tôi quyết định xuôi tàu vào Nam chỉ sau khi bước khỏi phòng tổ chức 2 giờ, không chia tay, không thanh minh với bất cứ ai. Còn Hoài, tôi gửi cho em vài dòng qua đường bưu điện: “Hoài mến thân, chào nhé, tình bạn của chúng ta ngắn ngủi quá; rất may là… giữa chúng ta chưa có gì sâu nặng; rồi Hoài sẽ quên tôi ngay cho mà xem. Tạm biệt, hãy giữ gìn sức khỏe. Bạn của Hoài.” Tôi cố tình bình thường hóa mối quan hệ của tôi và Hoài, để khi tôi ra đi, lòng em bớt nặng nề.

Tôi đã in dấu chân mình ở khắp mọi miền đất nước, làm đủ mọi nghề kiếm sống, rồi còn thi được vào một trường đại học ở tận phương Nam và được giữ lại làm giảng viên của trường. Đã tưởng chôn thân gửi xác quê người, nào ngờ, có một anh lái xe tuyến Bắc - Nam tình cờ nhận ra tôi. Anh ta chẳng họ hàng, bà con gì cả mà cứ ôm chầm lấy tôi sụt sịt: “Ở làng, ai cũng thương anh; cô Huyền cũng thế, cái thời ấy, con gái chửa hoang thì khổ lắm. Người chết đuối vớ được cái cọc nào thì cứ nắm chặt lấy cái cọc ấy. Bấy giờ, cô ta mà khai cho ông hiệu trưởng thì chết cả đám. Thôi thì… khai cho anh, trai chưa vợ, gái chưa chồng; anh không nhận, cũng chẳng sao; xấu hổ một thời gian rồi qua. Sau đó anh kia li dị vợ, họ đã công khai nhận vợ nhận chồng, nhận con; người ta sống rất hạnh phúc.”

Mấy chục năm qua, cánh cổng làng tưởng đã đóng chặt, bây giờ lại rộng mở; một kẻ giang hồ như tôi cũng vui mừng phát khóc. Tôi nhờ một người bạn dạy thay rồi hối hả về quê. Chẳng nói thì anh cũng biết: tôi được dân làng chào đón còn hơn cả hồi từ mặt trận trở về. Niềm vui được nhân đôi - tôi như một kẻ tội tù vừa được trả tự do lại vừa được minh oan, ngất ngây với đôi cánh của con chim được phá cũi sổ lồng.

Còn ít ngày nữa thì hết phép, tôi dự định ra Hà Nội dò tìm tin tức của Hoài, nhưng có điện từ trong Nam gửi ra, mẹ nuôi tôi ốm nặng! Trước khi đi, cô em dâu nhờ tôi một việc: cô nhờ gửi cho cậu em ở Sài Gòn năm triệu, cậu ấy đang có chuyện rủi ro.

Mùa hè năm sau về quê, tôi vừa kịp đặt chân vào nhà, cô em dâu đã xồng xộc tới liền. Không cần nói lí do, cô ta phủ đầu ngay:

“Anh cho tôi xin khoản tiền anh vay năm trước.”

“Tôi vay cô?” quá bất ngờ, tôi đã toan nổi nóng.

“Hì… ì... anh mau quên thế - mặt cô ta hếch lên - anh vay của tôi năm triệu.”

“À… tôi nhớ, tôi nhớ, nhưng... số tiền ấy cô bảo gửi cho cậu em cơ mà, em cô đã nhận đủ.”

“Không biết, anh cầm tiền của tôi thì anh phải trả tôi - cô ta không để cho tôi kịp thanh minh - nếu không trả thì đừng trách tôi.”

Lúc ấy khoảng 5 giờ chiều, mọi người đang từ ngoài đồng về làng, nhà tôi lại ở sát lề đường! Đúng sai chưa ai biết, nhưng tôi là một thầy giáo, lại ở xa mới về, để dân làng nhìn thấy cảnh anh em cãi nhau về chuyện tiền nong thì còn mặt mũi nào! Trong tình thế cực kì bất lợi, tôi đành phải cầu hòa:

“Thôi, cô vào nhà đi, để anh tính.”

Cảm ơn cuộc sống, người đã dạy cho tôi một bài học nhớ đời: lần trước, vì tự ái, vì hiếu thắng tôi đã phải trả giá bằng 16 năm lưu lạc, những ngày tháng ăn đường ngủ chợ thật hãi hùng. Tôi hiểu, cuộc đời lại đưa cho tôi một bài toán khó, một thách thức mới, nhưng lần này tôi bình tĩnh hơn và chợt nghĩ được rằng: “Chuyện cô ta gây gổ với tôi chắc có gì uẩn khúc, nhưng thôi, ta sẽ tìm hiểu sau, còn bây giờ, tôi thầm nhẩm tính… số tiền tôi đang có trong túi cũng vừa đủ trả cô ta và mua tấm vé tàu về Nam. Suy cho cùng thì… lọt sàng xuống nia đi đâu mà thiệt.”

Tôi đưa trả cô ta năm triệu. Thật đáng buồn, cô em dâu của tôi vẫn chưa hài lòng! Đếm tiền xong, cô quăng trả lại ngay và lạnh lùng tuyên bố:

“Chưa đủ.”

Thấy tôi không hiểu, cô giải thích: “Tiền tôi đưa cho anh đã gần một năm, lúc ấy, tôi vay lãi suất cao, tính đến hôm nay, cả vốn lẫn lãi… vị chi… mười tám triệu một trăm năm mươi sáu nghìn, mong anh thông cảm… cho tôi xin đủ.”

Nhìn dấu hiệu quyết tâm ăn vạ và tư thế chuẩn bị la làng của cô ta, tôi tìm cách hoãn binh:

“Thôi, cô nhận tạm năm triệu, còn bao nhiêu cô cho tôi nợ.”

Cô gật đầu đồng ý, nhưng ra điều kiện:

“Anh nhớ cho, số tiền nợ vẫn phải tính lãi - anh biết rồi đấy: lãi theo phép lũy tiến - cô ta cầm chiếc máy tính mini nhân nhân, cộng cộng rồi nhìn tôi hỉ hả: Nếu bằng giờ sang năm anh về thì số tiền phải trả sẽ là… ba mươi triệu; sang năm sau nữa sẽ là… sáu mốt triệu, tính theo số tròn là 10 cây vàng. Anh ký nhận vào đây.”

Người bạn đường thở dài:

- Nghĩ cũng buồn cười. Tạo hóa - sao người lại chọn cậu - kẻ có đôi vai gầy gò, ốm yếu thế kia để gánh chịu hậu quả, những trò chơi quái gở của người đời? Còn chuyện cô em dâu. Có thể, đây là một kiểu giận cá chém thớt, cô ta có hiềm thù với một người nào đó trong nhà cậu nên tìm cách trả đũa, cô ta đã chọn nơi hiểm yếu nhất, nơi dễ bị tổn thương?

Phúc ngạc nhiên và thầm cảm ơn về phán xét của anh.

- Hồi ấy, tôi có ở lại vài ngày, cũng tìm hiểu sơ sơ và biết được rằng, cô ta với chú em chồng đã từ mặt nhau vì chuyện tiền nong, nhưng nếu làm ra lẽ, tôi phải mất nhiều thời gian. Kí vào tờ nhận nợ lúc ấy cũng là chuyện chẳng đừng. Từ giã mẹ về Nam, trong túi hết sạch tiền, lại buồn, thế là một lần nữa tôi đành bỏ lỡ ước mong ra Hà Nội để dò tìm tin tức về Hoài – người con gái tôi vừa yêu thương lại vừa nể trọng. Cứ thêm một tuổi, nỗi nhớ cô ấy lại càng da diết. Còn món nợ của cô em dâu “tính theo phép lũy tiến” bây giờ đã lên gần số tỉ. Con đường về quê thật trắc trở. Chuyện khó tin lắm phải không anh?

- Có những chuyện còn khó tin hơn, nhưng…

Người bạn đồng hành lắc lư mái đầu chớm bạc và có vẻ hơi lưỡng lự. Hình như anh không muốn nói ra câu chuyện đắng cay ở một nơi nào đó?

Đến ga Phú Xuyên, anh khẽ nheo mắt ra hiệu cho Phúc rồi xách hành lí xuống tàu. Phúc đi theo như một cái máy vì thực ra, lúc này anh cũng chưa biết đi đâu. Còn anh bạn, bỗng dưng khác hẳn lúc trên tàu. Anh ta vội vã đi như chạy, lầm lũi không nói một lời.

… Trước mắt anh là căn nhà đang có nhiều người đứng túm tụm thành từng nhóm nhỏ, anh chỉ kịp gật đầu chào họ rồi lao về chiếc giường người đàn ông đang nằm thoi thóp! Người ốm lấy hết nguồn sức kiệt, cố cất đầu lên khỏi gối:

- Anh… anh tha thứ cho e… em…

Người ốm nói được có thế rồi đưa đôi tay gầy guộc, quờ quạng ôm lấy vai người mới về, khóe mắt ứa ra hai dòng lệ đỏ như máu, và chỉ trong giây lát, người ấy rơi tuột xuống giường, mắt dại đi, không còn sinh khí.

Những người đứng sau lưng anh òa khóc. Anh cũng không cầm được nước mắt.

Sau đám tang, Phúc ở lại với anh vài ngày. Buổi tối, Phúc cũng thích đi dạo quanh con kênh rất đẹp trên làng quê của người bạn mới. Hôm ấy, Phúc ghé vào một quán nước cạnh cây đa đầu làng. Bà chủ quán vừa lọ mọ châm nước vừa ca cẩm:

- Khổ, người dại làm càn người khôn xấu hổ, anh Nguyên bỏ nhà, bỏ quê đi biền biệt mấy chục năm trời, tưởng đâu đã mất xác ở chiến trường nào rồi! Năm ngoái thấy xuất hiện trên truyền hình, lại được một ông lớn Campuchia bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, rồi gắn lên ngực tấm huân chương cao quý. Cả làng mừng, đúng là anh Nguyên, đã lên đến cấp tướng, vậy mà bặt vô âm tín. Ngay hôm sau, người chú ruột tìm vào tận nơi, tội nghiệp, đã ngoài 50 tuổi vẫn chưa vợ con gì cả!

Phúc khẽ thốt lên, đau đớn: “Ông tướng.”

Bà cụ tưởng anh là bạn thân của ông tướng, đã biết hết mọi chuyện nên kể tiếp:

- Cũng tại tôi một phần! Năm 75, sau giải phóng miền Nam 2 tháng thì anh Nguyên về. Từ xa, tôi nhận ra anh ấy ngay, oai lắm, lưng đeo súng ngắn, tôi sợ lại xảy ra án mạng nên phải chạy ra mời vào trong quán uống nước rồi lựa lời khuyên bảo. Tôi nghĩ là anh ấy biết rồi nên chẳng giấu làm gì: “Kể ra, hàng xóm láng giềng ở sát nhà nhau, lại anh em cô cậu, ăn ở với nhau, đã là chuyện tồi tệ, nhưng họ trót có con, có cái… Chuyện lỡ làng, anh cũng nên tha thứ, đừng làm gì ầm ĩ, huynh đệ tương tàn, chỉ càng thêm đau lòng, rồi lại mang tù mang tội vào thân.” Mới nghe đến đấy, anh Nguyên đứng bật dậy. Hãi lắm, nhìn anh ấy cứ như người điên, mắt đỏ ngầu, nước da xanh tái. Anh ấy lấy tay quệt nước mắt, chào tôi rồi quay lại ga tàu.

Nghe bà cụ nói, Phúc thấy mủi lòng. Sao ông trời khéo run rủi, trong một khoang tàu lại có hai người cùng hoàn cảnh éo le - những câu chuyện mà nếu chỉ nghe, ta không thể nào tin!

Chiều 30 Tết, Nguyên xăng xái về thăm quê Phúc. Đến nghĩa trang Ninh Phú, anh bảo bác tài xế xe đò cho xuống rồi rủ Phúc rẽ vào. Hai người đứng lặng trước tượng đài liệt sĩ, họ cùng đi thắp hương cho từng ngôi mộ. Khi ra khỏi nghĩa trang, Phúc hỏi:

- Trong ấy có người thân của anh Nguyên à?

Ông tướng nói nhỏ, thì thầm, chỉ vừa đủ cho hai người cùng nghe:

- Năm 1967, đơn vị mình hành quân qua đây, bị hai quả bom tọa độ, 16 đồng chí hi sinh. Suy cho cùng thì cũng tại chiến tranh; ông và tôi - chúng ta - dù có phải chịu trăm đắng nghìn cay, còn sống vẫn là một ân huệ lớn, may mắn so với các đồng chí đã nằm lại chiến trường.

Bất ngờ, Phúc như được lột xác, như trở lại thời trai trẻ, anh bước lên một bước, nắm chặt tay bạn. Giờ đây - tất cả - câu chuyện buồn của vợ ông tướng, chuyện cô giáo với những tối hậu thư, và, món nợ em dâu… chỉ còn là chuyện nhỏ. Hai người đàn ông - hai người hùng khốn khổ - thành đạt, đi bên nhau - như hai người lính trong cuộc hành trình bất tận, gian nan, kiêu hãnh. Xa xa: căn nhà xưa quen thuộc đã hiện lên như một thiên đường. Trước sân, hoa mận nở trắng, mẹ già đang lom khom quét dọn quanh vườn, tóc bà cụ lẫn vào màu hoa mận.

1. Lời nói của nhân vật trong phim “Người về Đồng Cói” của nhà văn Lê Lựu.

“Đu nón” chính thức nhận được lời mời tham dự Liên hoan Xiếc Monte Carlo 2027

“Đu nón” chính thức nhận được lời mời tham dự Liên hoan Xiếc Monte Carlo 2027

Baovannghe.vn - Liên đoàn Xiếc Việt Nam xác nhận, tiết mục “Đu nón” chính thức nhận được lời mời tham dự Liên hoan Xiếc Monte Carlo tại Monaco vào tháng 1/2027.
11 nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng

11 nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng

Baovannghe.vn - Ngày 23/3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Quyết định số 468/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026-2030”.
Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ Nhất - Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

Thông cáo báo chí ngày làm việc thứ Nhất - Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV

Baovannghe.vn - Sáng 23/3/2026, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội.
Mẹ - Thơ  Lê Minh Hoài

Mẹ - Thơ Lê Minh Hoài

Baovannghe.vn- Khi con sinh ra nụ cười mẹ thật hiền/ cất tiếng khóc chào đời, mẹ lặng thầm cho con dòng sữa
OGAWA MIMEI (1882-1961):  Andersen của Nhật Bản

OGAWA MIMEI (1882-1961): Andersen của Nhật Bản

Baovannghe.vn- Ogawa Mimei hẳn là cái tên không còn xa lạ với người Nhật. Ogawa Mimei được xưng tụng là cha đẻ của đồng thoại Nhật Bản, là Andersen của Nhật Bản.