![]() |
| Minh họa Phạm Hà Hải |
Từ trại thương binh, tôi trở về quê vào một buổi chiều gió Lào đã dịu. Chuyến tàu chợ đưa tôi về ga Long Đại lúc ông mặt trời đang dần trôi về núi Thần Đinh. Tôi băng qua làng Đồng Tư, men theo bờ sông để kịp chuyến đò. Dòng sông Long Đại lững lờ trôi. Những rặng bần già xòe tán rậm rạp hai bên bờ soi bóng, ánh lên sắc vàng trầm mặc của hoàng hôn. Bên kia sông, chiếc thuyền nằm trên bến, không có người lên xuống. Lòng xốn xang muốn về nhà thật nhanh để gặp lại người thân sau bao năm xa quê. Lặng nhìn nơi bến sông xưa, bỗng thấy lòng mình chùng xuống trong khoảnh khắc đợi đò ngang. Dòng nước vẫn êm đềm trôi như thuở nào, vậy mà đời người thì đã qua bao dâu bể. Gió từ mặt sông thổi lên mang theo mùi bùn non, mùi cỏ lác quen thuộc, chạm khẽ vào miền ký ức xa xăm, làm sống dậy những ngày thơ bé đã lùi sâu vào quá khứ. Lòng tôi bỗng trào dâng nỗi bồi hồi khó tả, vừa mừng được trở về, vừa man mác buồn vì thời gian không thể quay lại. Giữa bến sông thân quen, phút chờ đợi bỗng dài hơn, lặng lẽ thấm vào tim một nỗi niềm sâu lắng, dịu dàng mà da diết. Ngồi dựa lưng vào gốc bần thân quen, những ký ức ngày nào hiện về trong tâm trí.
Dòng sông Long Đại chảy qua làng Long Đại tự bao giờ không ai nhớ rõ. Người già trong làng kể rằng từ khi họ chào đời, đã thấy con sông nằm đó, uốn mình như dải lụa xanh, ôm trọn làng quê nghèo vào lòng. Những chiếc thuyền nhỏ lững lờ, mái chèo khua nhẹ tạo nên vòng sóng xoáy tròn lan xa. Con sông không chỉ mang phù sa bồi đắp ruộng đồng mà còn chở nặng bao ký ức, ân tình của làng quê, lặng lẽ bền bỉ như chính nhịp sống mộc mạc của con người nơi đây. Mùa nắng, nước sông trong veo, soi rõ mây trời và những hàng bần rậm rì hai bên bờ. Mùa mưa, nước đục ngầu, cuồn cuộn phù sa nhưng vẫn hiền hòa, chân chất như con người quê. Dưới rặng bần ven sông là ca nô chở vũ khí, lương thực... của các đơn vị bộ đội ẩn nấp tránh máy bay Mỹ, chờ đêm về xuất bến. Bom đạn có thể cày xới bờ bãi, nhưng không xóa được dáng sông, cũng không cuốn trôi mối tình của tôi và Thắm.
Làng Long Đại những năm bom đạn giặc Mỹ là nơi “tọa độ lửa” của máy bay và pháo hạm. Ban ngày máy bay quần thảo, ban đêm pháo sáng trắng cả dòng sông. Chúng phát hiện được mục tiêu là ném bom tới tấp. Khi pháo cao xạ của ta bắn lên, chúng đạp cho hết số bom rồi tháo chạy ra biển. Làng xóm chìm ngập trong khói lửa và tiếng kêu la thảm thiết. Người làng quen với cảnh bom đạn đến mức nghe tiếng kẻng báo động là biết loại máy bay nào sắp oanh tạc, xa hay gần để biết chui hầm lúc nào.
Tôi lớn lên trong hoàn cảnh cha mất sớm, mẹ một mình tần tảo nuôi tôi và đứa em nhờ vào công điểm hợp tác xã và đám bãi cồn trồng dưa. Mẹ gầy gò, một nắng hai sương nhưng nhanh nhẹn. Mỗi lần mẹ nhìn tôi cầm củ khoai nuốt nghẹn, ngậm ngùi nói một câu như chốt:
- Con ráng chịu cực, chịu khổ lương thực còn nuôi bộ đội đánh giặc. Khi nào đất nước thống nhất thì mới hết cực được!
Nhà Thắm ở cạnh nhà tôi chỉ cách một hàng dâm bụt. Hai đứa cùng tuổi, học cùng một lớp. Nhà đã nghèo mà bố Thắm lại nghiện rượu. Khi say lại hay gắt gỏng, chửi mắng. Mỗi lần như thế hai mẹ con Thắm chỉ biết im lặng hoặc đi đâu đó, đợi ông hết cơn men trong người thì mới về. Mẹ Thắm hay đau yếu, sau mỗi tối cơm xong thường ngồi thở dài bên bếp lửa. Thắm từ nhỏ đã quen với việc gánh nước, cắt cỏ, mò cua bắt ốc. Ai hỏi, Thắm chỉ cười:
- Dạ! Mần mãi rồi cũng quen.
Những buổi chiều yên tiếng bom, cùng lũ bạn rủ nhau ra sông tắm. Tôi bao giờ cũng xuống trước. Đứng dưới nước nhìn Thắm nói với lên:
- Xuống đi, sợ chi.
Thắm ngập ngừng:
- Coi chừng đó, nghe máy bay là chạy liền nghen.
- Ừ, biết rồi. Tôi trả lời.
Mấy đứa bạn nghe vậy cười nói chen vào: “Hai đứa bay nậy lên mần vợ chồng được đó.” Thắm xấu hổ, mặt đỏ bừng trợn mắt, đưa nắm tay dọa đấm.
Tháng ngày cứ trôi. Tôi và Thắm lớn lên bên dòng sông ấy. Tuổi thơ của chúng tôi là những ngày học dưới hầm, là tiếng máy bay gầm rú trên đầu, là tiếng ầm oàng của bom đạn và pháo, là những ngày cùng học nhóm, cùng sinh hoạt thiếu niên. Tôi thường lén chia cho Thắm nắm khoai deo, củ sắn luộc mẹ đã để dành. Thắm thì vá giúp tôi chiếc áo rách, giấu mấy quả ổi chín sau vườn rồi gọi với sang, đưa cho. Rồi chúng tôi trở thành thanh niên lúc nào không biết. Thắm hiền lành, ánh mắt bắt đầu lúng liếng. Bộ ngực nở căng của tuổi xuân thì, thân hình đã nổi những đường cong bên tấm áo mỏng màu gụ. Mỗi lần đi sinh hoạt thanh niên hay họp hành, đi bên tôi lúc nào Thắm cũng dè chừng, thẹn thùng. Không còn nắm tay nhau chạy nhảy như thời con nít nữa. Chẳng ai bảo ai, chúng tôi lớn lên trong sự gắn bó tự nhiên, để rồi đến một ngày, tình bạn hóa thành yêu thương.
Những buổi tối yên ả bom đạn, hai chúng tôi ra gốc dừa bên bờ sông, ngồi nghe tiếng gió lao xao trên rặng bần. Những câu chuyện không đầu không cuối, như dòng nước lững lờ đang trôi. Tôi dần mạnh bạo hơn bên Thắm, để rồi một lần nắm bàn tay nhỏ nhắn của em mà thốt lên:
- Hết chiến tranh chúng mình sẽ cưới nhau, dựng một mái nhà nhỏ nhìn ra sông. Rồi sinh một đàn con cho thỏa sức nuôi nhé.
Thắm đấm nhẹ lưng tôi:
- Con nít! Ai ưng mà vợ với chồng.
Nói xong nhìn tôi lâu hơn, đằm thắm hơn với một cái gật đầu.
*
- Chú ơi! Lên đò sang bến thôi.
Một giọng nói ồm ồm của người con trai vỡ giọng làm tôi giật mình trở về với thực tại. Khoác ba lô trên vai, tôi nhẹ nhàng xuống đò. Cậu thanh niên nhìn tôi chằm chằm như có điều gì đó. Rồi nó buông mái chèo chạy lại ôm chầm lấy tôi, chiếc thuyền tròng trành làm tôi mất đà suýt ngã:
- Chú Huy! Có phải chú Huy? Chú còn nhớ cháu nữa không? Cháu là con của mẹ Lợi ở sau nhà chú. Ngày xưa chú thường đẽo cù cho cháu đó.
Nói rồi nó ôm chầm lấy tôi chặt hơn như sợ ai bắt đi.
- Ù, à! Là thằng Thắng! Cháu chóng lớn quá, chú nhận không ra nữa.
Hai chú cháu tôi buông nhau ra. Thắng cầm lấy mái chèo khua nhẹ. Vừa chèo nó vừa huyên thuyên chuyện làng, chuyện nhà cho tôi nghe. Con thuyền nhẹ lướt đã cập bến. Tôi chào Thắng và hẹn nó tối sang nhà chơi.
Tôi đi như chạy nhanh về nhà. Sau chiến tranh, quê tôi loang lổ những hố bom, trông như những vết thương chưa kịp liền da. Trên cánh đồng, những hố bom cũ chưa kịp lấp, hoa lục bình đang nở màu tím biếc rung nhẹ trong gió. Những hàng tre sạm màu khói lửa đạn, đang mọc lên những búp măng sau trận mưa. Những mái nhà đang sửa dở dang, bề bộn tranh tre. Tất cả đang để lại dấu ấn của một thời đạn bom khốc liệt.
Nghe tiếng tôi gọi, mẹ chạy nhanh ra cổng. Mẹ đứng trân một hồi rồi nhào tới ôm lấy tôi nghẹn ngào trong nước mắt:
- Thằng Huy! Huy con đã về rồi đó ư? Cha bố mi! Răng về mà không nhắn cho mạ lấy một lời!
Tôi nhìn tấm thân gầy còm của mẹ, mắt rưng rưng:
- Con về đây với mạ là được rồi! Biết nhắn thế nào hả mạ. Viết thư, đánh điện mà đến nhà thì con cũng đã về trước rồi.
Mẹ đi đâu đó, tay xách về con gà và mấy quả chuối tiêu. Loáng một cái, mẹ đã làm xong mâm cơm. Hai mẹ con ngồi trên chiếc chõng tre ngoài sân vừa ăn vừa chuyện trò. Mẹ cho biết, em gái tôi nay vừa mới đi học lớp y tá trên tỉnh.
Gắp cho tôi miếng thịt gà, mẹ nhìn tôi rồi chững lại vài giây như suy tính. Và không chờ tôi hỏi, mẹ kể chuyện về Thắm:
- Biết con về chắc Thắm mừng lắm! Nhưng nó đi lấy chồng làng bên kia sông đã mấy năm nay. Giờ ở đâu, làm gì mạ không biết được. Mạ nó mất sau khi con đi bộ đội một thời gian. Năm sau bố nó do nghiện rượu, nợ nần nên gả nó cho tên bợm rượu xóm bên sông. Rồi ông cũng ra đi sau một lần tai nạn.
- Vậy sao mạ không dò hỏi tin tức gì của Thắm?
- Mạ có đi ra khỏi bụi tre, ngõ xóm mô mà biết hí! Viết thư cho con cũng nhờ thằng Thắng viết hộ. Công việc một mình mạ mần bù trôốc, bù tai. Thôi chuyện mô có đó. Ăn đi mà nghỉ ngơi. Bà con lối xóm còn sang chơi hỏi thăm.
Mẹ đặt ấm chè xanh, rổ khoai lang và mấy gói kẹo lạc tôi mua ở ga Vinh lên chõng tre thì bà con lối xóm cũng vừa đến. Chuyện trò râm ran. Tôi không dám thể hiện niềm vui quá nhiều sợ mấy cô, bác có con cùng đi bộ đội với tôi chưa hoặc không trở về nữa. Có đứa đã báo tử, có đứa chờ tin... Thật là nỗi đau mất mát của chiến tranh không ai lường được. Thằng Thắng thì lăng xăng mời nước, mời kẹo bà con. Nhìn tôi nó nói nhỏ:
- Chỉ tội cho chị Thắm thôi! Phen này về anh phải đi tìm chị Thắm xem chị ấy giờ ra sao! Nghe người ta nói chị Thắm bị chồng đánh rồi đuổi ra khỏi nhà đi lang thang đâu mất tin!
Đêm đã khuya, ánh trăng mờ ảo chênh chếch bên hè. Tiếng côn trùng đã đắm chìm vào bóng đêm. Không gian thanh vắng lạ thường. Tôi thao thức không tài nào chợp mắt. Đã lâu nay tôi không nhận được thư từ hay tin tức gì của Thắm, và tôi không còn viết thư cho em. Tôi đã giấu mẹ, giấu Thắm chuyện tôi bị thương. Tôi muốn mọi người bất ngờ khi tôi trở về. Nghe chuyện về Thắm, lòng tôi nhói đau. Nỗi nhớ thương lâu ngày dồn nén cứ dâng trào.
Nghỉ ngơi vài ngày tôi mượn chiếc xe đạp về thị xã Đồng Hới để nộp giấy tờ ra quân, làm các thủ tục cần thiết. Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt, thị xã Đồng Hới gần như bị bom đạn cày xới đến tận cùng. Những dãy phố xưa đổ nát, mái ngói vỡ tan, tường nhà loang lổ vết cháy, con đường ven sông chỉ còn lại hố bom chằng chịt. Bờ biển lộng gió. Những hàng dừa ven sông mang dáng vẻ tiêu điều, lặng lẽ như còn in dấu những ngày bom đạn. Người dân trở về giữa hoang tàn, nhặt nhạnh từng viên gạch, dựng lại mái nhà bằng đôi tay chai sần. Trong tro tàn của đổ nát, sự sống đang hồi sinh trở lại. Tiếng búa, tiếng cưa vang lên giữa buổi sớm trong những căn nhà dựng lại. Một mảnh vườn nhỏ được cuốc lên, một mái trường tạm dựng đón lũ trẻ ê a bài học mới. Đồng Hới dần hồi sinh, xanh lại màu cây lá, rộn ràng tiếng chợ.
Sau khi làm xong các thủ tục, tôi đạp xe về Trường Trung cấp Y của tỉnh để gặp đứa em gái. Trời tối dần. Giữa con đường đất sỏi, xung quanh cây cối rậm rạp, nơi xóm nhà thưa thớt ít người lại qua. Trong ánh sáng nhập nhòa tranh tối tranh sáng tình cờ bắt gặp một cảnh tượng khiến tôi dừng xe. Một người phụ nữ bị hai tên giang hồ đánh đập dã man. Đứa xách tai, đứa túm tóc với những câu chửi thô tục. Tôi dựng xe, miệng quát to:
- Mấy người dừng tay lại. Không được đánh người. Phụ nữ chân yếu tay mềm mà các người vũ phu thế hả!
Một tên trợn mắt nhìn tôi nói như hét lên:
- Mày là thằng nào? Cút đi, không phải việc của mày. Muốn bị ăn đấm vỡ mặt hả?
Nói xong một thằng chạy sấn lại gần tôi. Hắn chững người lại khi thấy tôi mặc bộ quân phục. Bằng thế võ của người lính trinh sát, tôi nhanh nhẹn nắm lấy tay hắn giật mạnh, cùng lúc đá một cú vào chân. Hắn ngã sõng soài. Tên còn lại thấy vậy cầm cành cây khô bên vệ đường chạy đến. Hắn chưa kịp đưa lên tôi đã cầm chiếc xe đạp quay một vòng. Hắn lùi lại vấp cái hố ngã nhào. Tôi bồi cho hắn một đấm thì tên bên kia hô: “đi mày!”
Tôi chạy lại đỡ người phụ nữ dậy. Khi người phụ nữ ngẩng lên, tôi nhìn thấy khuôn mặt cô ta hốc hác, đầu tóc rối bù, áo quần xộc xệch, ánh mắt đầy sợ hãi. Nhưng trên khuôn mặt ấy tôi ngờ ngợ nhận ra nét thân quen. Rồi tôi chết lặng vài giây, miệng hét lên:
- Thắm! Anh là Huy đây! Em có làm sao không?
Mấy phút ngỡ ngàng trôi qua, Thắm lao đến ôm chầm lấy tôi như đứa trẻ lạc đường. Chúng tôi gặp lại nhau sau bao năm, không còn nước mắt, chỉ còn nỗi đau nghẹn ngào.
*
Tôi sang dọn lại nhà cho Thắm, sửa lại mái lá dột nát, dọn lại vườn tược và hết lời động viên em. Mấy ngày trôi qua, tôi thấy Thắm đã nguôi ngoai với quá khứ và lặng lẽ buồn. Thắm mặc cảm, thấy như mình có lỗi, cô không dám lại gần trò chuyện với tôi.
Tối, tôi sang nhà nhìn Thắm đang ngồi lặng, mắt nhìn ra phía bờ sông. Nắm nhẹ tay, tôi thì thầm:
- Em còn nhớ những kỷ niệm của chúng mình bên dòng sông, nơi bến nước có gốc dừa tỏa bóng nữa không?
Thắm nhìn tôi gật đầu. Được đà tôi mạnh dạn hơn:
- Vậy mình ra bờ sông nhé!
- Em... Em ngại lắm. Em sợ mẹ anh buồn, sợ mọi người dị nghị khi chúng mình đâu còn là ngày xưa!
- Không sao đâu! Ra đó anh sẽ kể chuyện chiến trường cho em nghe.
Nói rồi tôi kéo Thắm đi. Thắm vùng ra khỏi tay tôi và chậm rãi theo sau. Có lẽ Thắm ngại thật!
Đêm hè lặng như tờ. Nước sông chảy chậm. Ánh trăng rơi xuống sông như chiếc đĩa khổng lồ, loang loáng trên mặt nước. Gió từ bãi bần thổi lên mang theo hương hoa quen thuộc như hơi thở của quê nhà. Ngồi bên bờ sông, cạnh người con gái năm xưa từng hẹn ước, khoảng cách giữa hai chúng tôi chỉ cách một bờ vai mà giờ thấy như vợi xa hai bờ cách trở. Con nước vẫn xuôi dòng, còn lòng người thì tròng trành giữa những điều đã đi qua.
- Anh! Anh hãy tha lỗi cho em! Hãy quên đi lời hứa năm xưa, coi nhau như người bạn, như cái thuở chúng mình là con nít anh nhé.
- Anh thương Thắm nhiều lắm. Biết được hoàn cảnh như vậy anh không trách em đâu. Chỉ tại chiến tranh. Chiến tranh thật tàn nhẫn và độc ác, nó hủy hoại cuộc sống, tình yêu và mơ ước... Thôi chuyện gì đến như nó đã đến rôi! Vậy giờ kể chuyện về em cho anh nghe nào.
- Ngày đó, - Thắm chậm rãi kể - sau khi mẹ mất, bố em ngày càng chìm sâu vào rượu chè. Nợ nần chồng chất. Người ta đến đòi nợ ngày một nhiều. Và rồi, trong một cơn say, ông gật đầu gả em cho một tay chuyên mổ lợn thuê và nấu rượu lậu giàu có trong vùng để trừ nợ. Em quỳ xuống khóc: “Bố ơi! Bố làm thế là giết con rồi đó! Con đã hứa với anh Huy hết chiến tranh, anh ấy về chúng con sẽ lấy nhau.” Ông quát: “Im đi! Mi biết chi mà nói! Yêu đương là quyền bây, gả cho ai là quyền tau. Mà biết thằng Huy sống chết răng mà chờ.”
Người chồng coi em như món đồ mua được bằng tiền. Hắn gia trưởng, thô bạo, thường xuyên đánh đập em mỗi khi say rượu hay không làm kịp đồ nhậu cho hắn. Cuộc sống của em chìm trong những chuỗi ngày tối tăm, nhẫn nhục. Rồi trong một lần say rượu bố em bị tai nạn cũng đã về với mạ. Em buồn khóc hết nước mắt, không biết chia sẻ cùng ai. Em đã viết thư cho anh nhiều lần, nhưng rồi lại xé. Em sợ làm anh đau khổ vì em rồi nhụt chí... Những ngày đó, em sống trong nỗi nhớ. Mỗi chiều ra bến sông, lại ngồi nhìn về phía bến đò, chờ đợi... Những lá thư anh gửi về từng chữ đối với em đều quý giá ngần nào. Người làng ít ai biết chuyện về cuộc sống của em. Cho đến một ngày, sau một trận đòn dữ dội, khi chồng em thấy em trốn ra vườn đọc trộm thư anh. Em bị đuổi ra khỏi nhà. Không một đồng giắt lưng, không nơi nương tựa. Không dám quay về làng vì sợ người ta cười chê, vì nhà còn ai nữa mà về! Em ly hôn xong thì lang thang xuống thị xã Đồng Hới, rồi ra thị trấn Ba Đồn, rơi vào tay bọn xấu. Ở đó, giữa những ánh đèn mờ mịt, em sống trong nỗi tủi nhục, cam chịu, chỉ mong một ngày nào đó có thể thoát ra. Một hôm, em trốn về Cộn, nhưng bị phát hiện. Và sự việc như hôm anh đã gặp.
Tôi ôm Thắm, lòng nghẹn lại. Nước mắt Thắm ướt đẫm trên bờ vai tôi. Tôi chậm rãi nói, tiếng nhẹ như gió chỉ đủ cho em nghe:
- Mình làm lại từ đầu, Thắm à! Anh không cần gì khác ngoài tình yêu dành cho em!
Thắm lắc đầu. Nước mắt rơi lặng lẽ.
- Em không xứng đáng với anh nữa rồi, Huy ơi...
Lặng đi một lúc, tôi nắm chặt tay Thắm nói như cương quyết:
- Không sao đâu em. Người còn sống là còn làm lại được!
Thắm nhìn vào dòng sông đang lao xao tiếng sóng, nói khẽ:
- Để em đi học cái nghề chi đó đàng hoàng... Nếu anh còn thương yêu… thì đợi ngày em trở về.
Tôi nắm siết chặt tay Thắm hơn, không do dự:
- Anh đợi. Bao lâu cũng đợi. Cố lên em!
Tiếng gà eo óc gáy sang canh. Chúng tôi chia tay nhau trong nỗi niềm thương yêu và niềm tin một ngày sẽ khác. Con sông vẫn chảy, lặng lẽ mang theo một chuyện tình dang dở, nhưng chưa bao giờ tắt hy vọng, như đang hòa vào nhịp sống chảy mãi không ngừng của dòng nước quê nhà...