Đôi tay gầy guộc chuyển sang đong nếp gói bánh cúng ông bà. Dưới bếp, chị Hai thay nhà mới vừa sắm ở chợ cho ông Táo. Chăn màn tắm táp dưới nắng trên mấy hàng rào khắp xóm. Loanh quanh dọc mấy con đường làng, bọn trẻ xúng xính thử quần áo mới rồi chạy khoe khắp ngõ. Ai cũng cho phép mình tạm nghỉ trong thời khắc chuyển giao - Mẹ bảo - Và giếng cũng không ngoại lệ. Nó được mẹ khóa lại vào đêm giao thừa, rồi cúng tạ mở ra vào ngày mồng Một. Mẹ gọi đó là lễ cúng Hà Bá nhân ngày giếng nghỉ.
Cúng giếng được mẹ thực hiện vào đêm giao thừa lúc đã qua 0 giờ ngày mùng Một ngay sau khi hoàn tất lễ đón ông Táo và mời gia tiên về nhà ăn Tết. Vài hộ trong xóm vì không thức khuya nổi hoặc còn bận các công việc khác thì sẽ chọn giờ hoàng đạo vào mùng Một để cúng, thông thường là 5, 6 giờ sáng lúc chưa có ai tới chúc tết, xông đất.
Mâm cúng khá đơn giản, tất cả đều là đồ chay. Tùy điều kiện mỗi nhà mà sắm lễ vật cụ thể khác nhau, nhưng đa số đều có: trái cây, 1 ly trà, 1 ly rượu trắng, 1 đĩa gạo, 1 đĩa muối hột, 1 bình hoa, 1 bát hương, đèn và giấy áo tiền vàng. Nhớ lúc ngoại còn sống, bà nấu cả xôi đỗ, chè nếp để mâm cúng thêm đầy đặn, tươm tất.
Lễ vật sau khi chuẩn bị đầy đủ được đặt lên một mâm nhôm lớn hình tròn tượng trưng cho trời, cũng đại diện cho miệng giếng; sau đó lại đem mâm nhôm để lên một cái ghế đẩu hình vuông đặt sẵn cạnh vách giếng tượng trưng cho đất. Dân quê dạo trước hầu như nhà nào cũng có mâm nhôm ghế đẩu nên việc bày biện như trên khá dễ dàng. Bây giờ, nhiều gia đình dù ở nông thôn nhưng không còn sử dụng chúng nữa, thành ra đa số đều đặt bàn nhỏ cạnh giếng nước để trưng vật phẩm. Lễ tiết bày biện cũng theo đó mà cải biến cho phù hợp, miễn là giữ nguyên cái hồn, cái ý nghĩa trong đấy.
Văn khấn cúng giếng được mẹ đọc sau khi châm một lần trà và thắp ba cây nhang. Nhang được mẹ cầm suốt trên tay cho tới khi hết lễ. Bởi mẹ bảo nhang đèn được coi là vật dẫn, trợ giúp cho lời khấn cầu đưa được đến tai chư thần. Đọc một nửa, mẹ sẽ tiếp tục châm trà lần hai. Sau khi kết thúc bài khấn, mẹ châm trà lần ba, cắm nhang vào bát hương, khấu đầu ba lạy. Chờ nhang cháy hết hai phần ba thì xin dọn lễ, đem nhang và hoa cắm ra sau vườn cạnh mương. Lễ cúng tạ Hà Bá hoàn tất, mẹ thả gầu xuống mặt nước để mở khóa giếng. Nhiều nhà kĩ tính còn chọn người “nhẹ vía”, “tuổi đẹp” năm đó để múc gáo nước đầu tiên, hệt như kiểu “khai hỏa lò” năm mới vậy.
Ngày nay, cúng giếng không chỉ là một lễ tiết tạ ơn thần nước đã cho một mùa màng bội thu (khởi phát từ nền nông nghiệp lúa nước của Việt Nam), cầu mong năm mới tiếp tục được ban phát dòng nước ngọt lành sạch sẽ, gia đình may mắn bình an; mà nó còn mang ý nghĩa sâu xa gợi nhớ về nơi khởi sinh sự sống. Đặc biệt là nhắc nhở con cháu đời sau biết “uống nước nhớ nguồn”. Có lẽ vì vậy chăng mà dù nhiều nhà hiện nay không còn đào giếng, nguồn nước chính được sử dụng là nước máy, thì vẫn làm mâm lễ đặt cạnh vòi nước để cúng như phong tục của ông bà ngày trước, với mong muốn duy trì nét đẹp văn hóa trong đời sống tín ngưỡng, tâm linh của dân tộc.
Tết nào mẹ cũng cúng tạ Hà Bá nhân ngày giếng nghỉ. Trong sát na, tôi chợt muốn có, dù chỉ một ngày, mẹ cũng được nghỉ như giếng. Để tay mẹ thôi vọc vào nước lạnh trong cái rét cuối năm. Để chân mẹ bớt đau nhức khi mưa xuân lất phất. Để mẹ không phải gánh cái vai làm vợ, làm dâu, làm mẹ trong những ngày Tết đến. Để mẹ có được trọn vẹn mùa xuân.
![]() |
| Nguồn: PNO |