Sáng tác

Khách bến đò. Truyện ngắn của Vân Khuê

Vân Khuê
Truyện 14:00 | 03/08/2026
Baovannghe.vn- “Bến đò” lấy cảm hứng từ những ngày cuối đời của Phạm Thái. Qua cuộc gặp gỡ tình cờ giữa một thi sĩ tài hoa lỡ vận với những con người bình dị nơi bến sông, truyện khắc họa bi kịch của một kẻ sĩ không thành, mang nặng tình yêu, lý tưởng và nỗi cô đơn của người không được ai thực sự thấu hiểu.
aa
Khách bến đò. Truyện ngắn của Vân Khuê
Minh họa Ngô Xuân Khôi

*

“Tài cao phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương”

(Tản Đà)

1.

Cuối năm, trời lạnh buốt, sương giăng mờ khắp mặt sông. Bến đò ngang heo hút thưa thớt người qua lại.

Sáng nay, có hai mẹ con qua sông. Họ đứng ở bến, nơi có con đò nhỏ neo ở gốc cây, dập dềnh theo con sóng.

Không thấy người lái đò đâu, họ dớn dác nhìn quanh, phát hiện túp lều tranh bé nhỏ nép bên gò đất sát bên sông.

Túp lều mục nát có khói bốc lên. Hẳn người lái đò đang ở trong. Người mẹ trẻ dắt tay người con trai nhỏ chừng bảy, tám tuổi tiến lại túp lều. Trông nó xiêu vẹo như sắp đổ sụp xuống bất cứ lúc nào.

Khi còn cách khoảng chục bước chân, chị dừng lại. Miệng gọi to:

- Bác lái đò ơi!

Không có tiếng trả lời.

Chị lại gọi to lần nữa.

- Bác lái đò ơi! Có chở khách qua sông không?

Một tràng ho dồn dập vang lên đáp lại lời chị.

Người mẹ lo lắng nhìn vào trong lều. Chị tần ngần. Đứa con trai giật giật tay mẹ.

- Hình như trong lều có người bị ốm mẹ ạ.

- Mẹ cũng đoán vậy. Phiền ghê, bác lái đò mà ốm thì ai chở mẹ con mình qua sông?

Lại một tràng ho nữa vang lên. Nhìn kỹ qua những lỗ thủng trên vách, người mẹ lờ mờ thấy có bóng người đang nằm tùm hum ở trong.

Hai mẹ con nhìn nhau dò hỏi. Rồi người mẹ quả quyết tiến lại gần lều.

- Bác lái đò bị ốm à? Có thuốc thang gì chưa?

Chị đưa tay vén tấm mành tre tươm tả vốn làm cửa ra vào nhìn vào trong lều. Bên trong tranh tối tranh sáng, khói nồng cùng với mùi ẩm mốc bốc lên khiến chị hắt xì hơi.

Một người đàn ông đang nằm cuộn mình trong chiếc chiếu rách khẽ ngẩng đầu lên. Cất giọng thều thào.

- Bác lái đò vào làng mua rượu. Cứ chờ đấy, lát bác ta về.

Người mẹ thở phào nhẹ nhõm. Chị nhìn người đàn ông bị ốm trước mặt với ánh mắt quan hoài.

- Bác bị ốm à? Đã thuốc thang gì chưa?

- Thuốc thang gì, ta cần rượu.

Người ốm định nhỏm lên nhưng do sức yếu lại nằm vật xuống, ho thêm một tràng rũ rượi. Người phụ nữ vội chạy đến bên đỡ ông ta ngồi dậy, khẽ vuốt lưng cho dịu cơn ho. Chị nhận thấy quần áo của ông ta được may bằng chất liệu tốt và gần như còn mới nguyên.

Lúc này chị mới nhìn kỹ người đàn ông trung niên gầy gò có nước da vàng ệch vì bệnh tật. Khuôn mặt khắc khổ nhưng ưa nhìn với sống mũi cao, thanh tú. Đôi lông mày thanh như vẽ, đôi môi mỏng mím chặt.

- Rõ khổ thân! - Người phụ nữ buông câu cảm thán.

Người ốm bỗng bật cười.

- Đời là khổ. Nhờ cậu bé lấy hộ ta be rượu ở góc kia. Hình như trong đó vẫn còn rượu.

Cậu bé đã bước vào trong lều, nhanh nhảu chạy đến góc mà người ốm chỉ. Có một be rượu thật. Cậu cầm lên lắc nhưng nó đã trống không.

- Hết rồi ông ạ.

- Chán mớ đời. Phiền cậu lấy cho ta bát nước ở cái chum bên ngoài vậy.

Cậu bé làm theo lời.

Người đàn ông bưng bát nước từ tay cậu bé uống ừng ực. Dịu cơn khát, chàng nhướng mắt nhìn hai mẹ con, hỏi giọng lãnh đạm:

- Sang sông à? Có việc gì mà gấp thế?

- Dạ, mẹ con cháu về quê ngoại ăn giỗ.

- Ra vậy. Thế bố thằng cu đâu?

- Bố cháu đi lính cho triều đình. Mấy năm nay rồi. Có được thằng cu là bố cháu đi miết.

Người phụ nữ đáp giọng thoáng buồn. Ánh mắt chị lo ngại dõi theo đứa con trai đang nghịch ngợm ở góc lều.

Người đàn ông đang nâng bát nước lên môi. Nghe đến mấy chữ “đi lính”, “triều đình”, chiếc bát khựng lại giữa chừng. Chỉ một thoáng rồi chàng uống nốt ngụm nước còn lại.

- A, sách. Chữ “hồ”, chữ “phú” đây này… Chữ Nôm nhưng con vẫn đọc được.

Cậu con trai cầm lên một tập sách mỏng, nét chữ rất bay bướm, chỉ cho mẹ xem những chữ mà cậu nhận ra một cách tự hào.

- Chết, con không được nghịch. Bác đây mắng cho đấy!

Người mẹ mắng con nhưng âm sắc không giấu được sự kiêu hãnh ngầm về đứa con thông minh, đĩnh ngộ.

- Cháu nó theo học chữ thánh hiền cũng được mấy năm nay với ông đồ làng. Bác đây cũng là nhà nho ạ?

- Ta biết chút chữ nghĩa thôi. Thế nào cậu bé, biết được mấy chữ rồi? Chữ Nôm khó đọc quá hả? Mấy chữ đó đọc là “Chiến tụng Tây hồ phú”.

- Tây hồ ở Thăng Long! Chú bé vỗ tay reo. Bố đóng quân ở đấy! Thầy đồ bảo ở Tây hồ đẹp lắm.

- Phải rồi. “Người rằng nơi Long tử khoét làm vũng, bởi được bùa quái chú Huyền trao, vậy cáo trắng hách hơi vào đại trạch...”

Người đàn ông hắng giọng đọc.

- Chà, bác còn làm thơ nữa ạ. Người mẹ trầm trồ. Thầy đồ ở làng cũng làm thơ, ngâm ngợi suốt. Nhưng dạo này ông già yếu lắm rồi. Lớp học phải đóng cửa. Đang tính gửi cháu sang quê ngoại học, bên đó cũng có ông đồ nổi tiếng hay chữ.

Người mẹ nhìn người ốm hồi lâu rồi khẽ gợi ý.

- Bác mà khỏi bệnh. Đến làng mà làm thầy đồ. Có đến chục đứa trẻ đấy. Cũng đủ ăn bác ạ.

Cậu bé thấy không bị mắng, bạo dạn mở sách ra đọc. Cậu đánh vần vẻ khó nhọc.

- Thu… nguyệt… trời…

“Có thu nguyệt mới nước trời in sắc;

Chửa xuân thiên sao hoa cỏ theo mùa?”

Người đàn ông ngâm nga đọc câu chú bé vừa ấp úng. Có được gợi ý, cậu nâng cuốn sách sát mặt, lấy tay dò theo chữ trên cuốn sách, miệng lẩm nhẩm:

“Có… thu… nguyệt… mới… nước… trời… in… sắc…”

Thấy cậu bé hứng thú với thơ của mình, người ốm tươi nét mặt.

- Ta còn mấy cuốn thơ nữa. Tiếc là chú bé chưa đủ chữ...

Bên ngoài vang lên tiếng chân bước, bác lái đò bước vào lều, chiếc áo tơi lù xù phả ra hơi lạnh ngoài sông. Tay bác cầm một be rượu giơ lên trước mặt người ốm. Mắt chàng ngời sáng lên.

- Hay quá. Đúng thứ ta cần đây rồi.

Chàng đón be rượu từ tay bác lái đò, mở nút uống một ngụm lớn, vẻ sảng khoái. Be rượu làm bằng sành được chàng giữ bo bo như đồ quý.

Sau khi đã uống rượu thỏa chí, chàng khe khẽ ngâm thơ.

“Sống ở dương gian đánh chén nhè chết về âm phủ cắp kè kè

Diêm Vương phán hỏi rằng chi đó?

Be!”

Người lái đò dường đã quen với cách cư xử của người bệnh, không lý đến chàng nữa. Quay sang hai mẹ con.

- Nhà chị sang sông phỏng?

- Dạ, chờ bác nãy giờ, bác cho mẹ con cháu sang sông gấp ạ.

- Được, theo tôi.

Người lái đò quày quả đi trước. Hai mẹ con dắt nhau líu ríu đi theo. Người con trai bị mẹ lôi vội vã, tay vẫn cầm tập sách mỏng, hấp tấp kêu.

- Mẹ chờ con trả sách.

Cậu vùng tay ra, chạy đến trao tập thơ cho người ốm. Ánh mắt đầy vẻ tò mò.

- Thầy đồ cháu bảo, bao giờ cháu biết làm thơ thì có thể đi thi, đỗ đạt làm quan. Ông biết làm thơ, ông đã từng đi thi chưa?

Người đàn ông bật lên một tràng cười to. Chàng mải cười quá, chưa kịp trả lời thì người mẹ đã quay lại tất tả kéo tay con trai đi.

Ra khỏi lều một quãng xa, họ vẫn nghe thấy tiếng cười kỳ lạ của người ốm. Bác lái đò buột miệng.

- Đang ốm đau mà cười gì cười lắm thế.

Bác bực bội vớ lấy mái chèo, bước lên đò, giục hai mẹ con.

- Lên nhanh đi.

Hai mẹ con lên đò. Cậu bé ngồi xuống khoang, tay không rời tay mẹ, nhưng đôi mắt to sáng thì hướng túp lều, nơi có một người kỳ lạ gây cho cậu một ấn tượng to lớn.

2.

Chỉ còn một mình người ốm ở trong lều. Chàng cười nhiều quá đến mức lên cơn ho khan. Chàng đưa be rượu lên tu một ngụm lớn, cơn ho dịu đi. Chàng đưa tay lên lau mép, vẻ hài lòng.

Bên ngoài đã hửng nắng. Ánh nắng chiếu xiên qua bức vách, rọi cả lên người chàng.

Chàng xoay xở rồi lần bước ra khỏi lều, lê mình ra khoảng trống ngồi sưởi nắng. Tay vẫn không rời be rượu.

Chàng nhìn xung quanh, mắt chớp chớp cho khỏi quáng. Mặt trời đã lên cao, tia nắng mùa đông ấm áp khiến cho bờ sông bớt đi cảnh cô liêu. Đôi chỗ, dòng nước ánh lên màu bạc lấp lánh.

Con đò đã ra gần giữa dòng. Người đàn ông nhìn theo cậu bé con hay chữ. Có một thời, chàng cũng từng được người cha dắt đến lớp học, ai cũng bảo đứa trẻ ấy sau này tiền đồ sẽ rạng rỡ.

Gió thổi hiu hiu. Người đàn ông đưa tay gạt những sợi tóc dài dính bết vào mặt, hướng ánh nhìn về phía Tam Điệp xa xa. Một cánh chim lẻ loi đập cánh giữa thinh không.

Đã hết cơn thèm rượu, chàng thèm nói chuyện. Câu hỏi ngây thơ của đứa bé vừa rồi khiến lòng chàng khuấy động.

“Có ai muốn biết tuổi tên chi,

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì…

Tranh vờn sơn thủy màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền không giọng bét be.”

Đang lẩm nhẩm đọc thơ, chàng không nhận thấy có người đến gần. Đó là một nông phu cao lớn khỏe mạnh, tay mang lỉnh kỉnh bộ đồ nghề đục, cưa, dao, búa của một bác phó cối.

Dáng chừng bác ta đang muốn qua sông. Tìm không thấy đò, bác ra chỗ người đàn ông đang phơi nắng, hỏi:

- Đò sang ngang rồi hả bác?

- Rồi, chờ đấy. Về bây giờ.

Bác phó cối nghe vậy thì an lòng. Ngồi xuống nghỉ ngơi, móc lấy trầu thuốc ra nhai, xởi lởi mời người đàn ông. Chàng không khách sáo mà lấy một miếng.

Hai người im lặng ngồi nhai trầu. Một lúc sau, người đàn ông lên tiếng hỏi:

- Bác đi đẽo cối cho nhà ai vậy?

- Cho nhà ông lý trưởng làng Cẩm. Ông ấy đặt hàng cuối năm ghé nhà.

Người đàn ông cười khan.

- Đẽo cối còn có người đặt hàng. Ta đẽo cả đời một thứ chí lớn, chẳng ai mua.

Bác phó cối nghe vậy bật cười.

- Ông nói lạ.

- Ta nói thật. Đời này, “Có rượu thì say, say tỉnh mặc bay. Anh hùng cũng thế, cũng vầy mà thôi.”

Bác phó cối nhổ ra đám bã trầu đỏ như tiết lên tảng đá trắng cạnh chỗ ngồi, thủng thẳng:

- Ông nói gì tôi chẳng hiểu. Ông là thầy đồ à?

- Ta là kẻ ngông. Người đàn ông cười lớn. Ngông đến mức tu một bữa rồi bỏ tu, làm tướng một bữa rồi bỏ làm tướng, yêu một người rồi để nàng chết theo cái ngông của ta.

- Tôi đến nhà ông lý chắc phải mất chục ngày. Xong còn phải tranh thủ ghé nhà ông tiên chỉ. Cuối năm bận nhiều việc, nhà ai cũng cần cối. Bác phó cối mân mê bộ đồ nghề, lẩm nhẩm tính toán.

- Gỗ cứng còn đẽo được hình cối. Đời ta không ai đẽo được hình gì cả.

Người đàn ông lắc be rượu, nghe tiếng giọt cuối óc ách bên trong, rồi dốc ngược tu một hơi.

- Nhưng được, được. Đẽo không thành thì uống cho thành say. Say thì còn ngông được, còn cười được vào mặt cái đời bạc này.

Bác phó cối đang loay hoay buộc lại bộ đồ nghề, thấy dáng chàng liêu xiêu, cười mà mắt đỏ hoe, không rõ vì rượu hay vì gì khác. Bác khuyên:

- Ông coi chừng say quá lại ngã.

- Ngã thì ngã. Đời ta ngã bao lần rồi, có sao.

Người đàn ông phất tay, dáng vẫn ngất ngưởng.

- Để ta đọc cho anh nghe một câu thơ ta viết hồi còn ở Tiêu Sơn: “Túi rượu bầu thơ vui chốn chốn. Bụi hồng chẳng vướng đáng chi đâu.”

- Tôi không biết chữ. - Bác phó cối cười xòa, vụt đứng thẳng lưng nhìn con đò đang ghé vào bến. - Nhưng nghe ông đọc cũng vui tai.

Người đàn ông im lặng một thoáng, nụ cười ngạo nghễ trên môi chợt tắt.

- Vui tai thôi à?

Bác phó cối không trả lời, tất tả đi xuống bến sông.

Người đàn ông ngồi lại một mình, be rượu cạn trong tay, nụ cười ngạo đời ban nãy giờ chỉ còn lại một mình chàng giữ, không ai chứng kiến cho hết.

3.

Chiều tối hôm đó, trong túp lều rách, người lái đò loay hoay thổi lửa nấu cơm. Người ốm trùm chăn ngồi thu lu một góc, tay nắm chặt be rượu.

Bữa cơm đạm bạc chẳng có gì ngoài ít rau luộc chấm nước tương, mấy củ sắn lùi, thêm con cá nướng. Riêng người ốm thì phục vụ riêng một bát cháo loãng.

Người lái đò bưng bát cháo đến.

- Ăn luôn đi cho nóng.

Người ốm hé mắt nhìn nhưng im lặng không đáp. Bác lái đò giục.

- Tôi bảo ăn đi cho nóng. Có ăn thì mới khỏi bệnh được chứ. Anh định cứ nằm đây, bắt tôi phục vụ đến bao giờ?

Người bệnh lúc này mới uể oải đáp lời.

- Bác cứ để đấy, nguội chút rồi tôi ăn.

Rồi chàng lại nổi lên một cơn ho khù khù. Vừa kìm cơn ho, chàng vừa rít lên.

- Tôi cũng chẳng sống bao lâu mà làm phiền bác nữa đâu.

Người lái đò thấy tình cảnh người ốm như vậy, ra chiều áy náy.

- Nhà tôi chỉ là túp lều nát, anh ở bao lâu chẳng được. Đợt trước có ông lão ăn mày ốm nằm ở đây cả tháng, tôi cũng chả phiền. Chỉ là cứ ốm đau vậy thì hại lắm. Anh còn trẻ, gắng khỏe mà còn ra thi thố với đời.

- Thi thố với đời? - Người bệnh lầm bầm trong miệng.

- Tôi nói là có duyên do đấy. Sáng nay vào làng mua rượu, nghe nói năm nay mở khoa thi, khắp nơi khăn gói đi thi. Anh khỏi bệnh còn kịp.

- Chà, chà, thi với cử!

“Dăm bảy năm nay những loạn ly,

Cũng thì duyên phận, cũng thì thì.

Ba mươi tuổi lẻ là bao nả,

Năm sáu đời vua khéo chóng ghê!

Một tập thơ dày ngâm sảng sảng,

Vai nai rượu kếch ních tì tì.”

Thấy người ốm lại giữ thái độ ngạo mạn cũ, bác lái đò phải gắt lên.

- Anh này lạ thật, người ta đang nói chuyện nghiêm túc. Mà anh thì cứ rượu, cứ thơ thẩn vẩn vơ. Hừ, người dốt thì có chữ nghĩa vào vẫn dốt, chẳng thà chả chữ nghĩa gì lại hơn.

Người bệnh thấy thái độ người lái đò như vậy thì nghiêm nét mặt.

- Bác nói đúng. Chữ nghĩa nhiều cũng chả làm gì. Tôi đang tính ở đây cùng bác chèo đò đưa người qua sông.

Bác lái đò giật mình, xua xua tay.

- Ấy, chèo đò là nghề cùng đinh. Tôi dốt nát, chẳng tài cán gì nên mới phải bám lấy cái nghề này, ngày ngày dày dãi nắng gió kiếm mấy đồng của khách qua sông. Chứ anh tuồng như học trò, tội vạ gì mà phải đi chèo đò.

Bác lắc lắc đầu.

- Anh không đi thi, vào làng kiếm dăm đứa trẻ dạy học cũng có được miếng ăn.

Rồi nhìn người ốm, bác xoa xoa cằm.

- Tôi cứ nghĩ người có học khác cơ. Anh biết cụ Thiếp ở La Sơn không?

Không chờ trả lời, bác nói tiếp.

- Năm ấy tôi chèo đò cho học trò cụ qua sông. Ông ấy kể: vua Lê, chúa Trịnh mời mấy phen, cụ không đi. Bảo thời vua hèn chúa ác thì giúp làm gì. Phải minh chúa thực lòng vì dân, cụ mới chịu xuống núi.

Đoạn bác chép miệng.

- Cứ ai có lòng thương dân là dân nhớ mãi.

Người ốm lắng nghe không nói gì, cầm bát cháo chầm chậm húp.

Bác lái đò cũng thôi không nói nữa, cúi xuống dọn mâm bát. Tiếng chén đũa lanh canh trong túp lều tối.

Người ốm ăn xong ngồi im, mắt nhìn ngọn lửa bếp leo lét. Không gian xung quanh tĩnh lặng, không một tiếng chim hót, không một tiếng trùng kêu.

Rồi một loạt tiếng nước rơi lộp độp trên mái tranh. Trời mưa. Cơn mưa mùa đông hạt nhỏ, đều đều, dai dẳng và ảm đạm.

Bác lái đò loay hoay dọn chỗ ngủ, bỗng la toáng lên.

- Ơ này, mấy cuốn sách của anh cất vào đâu chứ. Chứ mưa dột thấm vào là hỏng hết.

Người ốm như bừng tỉnh. Be rượu tuột khỏi tay, rơi xuống dưới nền đất. Chàng chỉ vội cúi nhặt những cuốn sách, vơ vào lòng. Một cuốn rơi ra, chàng nhặt lên nhìn bìa sách, bất giác tay chàng run lên: Sơ kính tân trang.

“Một mối chung tình tan mấy mảnh,

Suối vàng ai nhắn hộ đôi lời!”

Lời thơ từ môi chàng chỉ còn là tiếng lào phào. Những câu thơ cũ vẫn trôi qua đôi môi ấy, như nước sông trôi qua bến đò từ đời nào đến đời nào mà không dừng lại.

Bác lái đò đặt lưng là ngủ. Tiếng ngáy vang lên đều đều.

Người bệnh nằm xuống, co ro dưới tấm chiếu rách. Chàng ôm khư khư những cuốn sách đã ố nhàu vì cũ, vì lật giở xem nhiều. Be rượu cạn trơ nằm lăn lóc gần đó.

Có thể mai chàng sẽ dậy được. Có thể không.

Chàng nhắm mắt.

Bên ngoài, mưa vẫn rơi, con sông vẫn chảy.

Đêm Hạnh Hoa. Bút ký của Trịnh Hòa Bình

Đêm Hạnh Hoa. Bút ký của Trịnh Hòa Bình

Baovannghe,vn- Đêm Hạnh Hoa lạnh thấu da. Gió từ phía sông thổi lên mang theo mùi bùn khăn khẳn và hơi nước. Mưa rất nhẹ, tuy không ướt áo nhưng cũng đủ thấm vào da thịt. Cả thôn chìm trong màn đêm im lìm đặc sánh, chỉ thỉnh thoảng bị rạch ngang bởi tiếng pháo xa, âm u và mệt mỏi.
Cổ tích ấm sứt vòi. Truyện ngắn của Trần Đức Tiến

Cổ tích ấm sứt vòi. Truyện ngắn của Trần Đức Tiến

Baovannghe.vn - Trong quán nước bên đường có một chiếc ấm pha trà đã cũ. Vòi ấm bị sứt một miếng nhỏ. Chủ quán mấy lần định thay, nhưng vì chưa có tiền nên cứ để dùng tạm. Vả lại, trông thế nhưng ấm còn tốt chán.
Bộ GD&ĐT: Hoàn thiện cơ chế triển khai học bổng cho người học ngành công nghệ chiến lược

Bộ GD&ĐT: Hoàn thiện cơ chế triển khai học bổng cho người học ngành công nghệ chiến lược

Baovannghe.vn - Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đang dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số nội dung và biện pháp tổ chức thực hiện chính sách học bổng đối với người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Chuỗi hoạt động tại không gian di sản "Dòng chảy di sản - Heritage Flow"

Chuỗi hoạt động tại không gian di sản "Dòng chảy di sản - Heritage Flow"

Baovannghe.vn - Chuỗi hoạt động tại không gian di sản "Dòng chảy di sản - Heritage Flow" nằm trong sự kiện Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 diễn ra từ ngày 11-20/9 hứa hẹn sẽ đem đến những trải nghiệm văn hóa thú vị.
Bóng đá và dòng sông lớn

Bóng đá và dòng sông lớn

Baovannghe.vn - Giải bóng đá thế giới (World Cup) năm nay thật đặc biệt, tổ chức trên ba quốc gia Canada - Mexico - Mỹ, với số đội tham gia mở rộng lên 48 đội.