![]() |
| Minh họa: Ngô Bình Nhi |
Đang làm hàng ở sân sau, cô Thịnh nghĩ dễ có đến ngót năm nay đoàn này mới về đây sau khi hai đoàn Kiến Thiết và Bồ Câu Trắng rời đi ít lâu. “Chả biết đào Thanh Huyền còn ở đoàn này nữa không, nếu vẫn thì ta có một món trả nợ kha khá đây.” Chồng cô, anh Phúc bảo cô nấu thêm cháo, thịt thêm con gà để đêm nay bán dưới mái hiên ngôi nhà ở gần cửa rạp hát Chấn Hưng.
- Ai chả biết mà còn phải dặn.
Nhập nhoạng tối, dãy đèn điện trước cửa rạp đã sáng chóe ra đến giữa lòng đường, thu hút đám trẻ con trong phố kéo nhau đến nô đùa một chập rồi mới về nhà học bài.
*
Lệ thường, đoàn nào cũng vậy, đêm diễn nào cũng vậy, đúng tám giờ tối mở màn. Nhưng trước đó chừng mươi phút, một người đàn ông lách qua hai cánh màn nhung đỏ rói, nói sơ sơ về vở diễn gồm mấy màn, mấy cảnh, có những đào, kép nào thủ các vai chính để khán giả tiện theo dõi.
Nhằm gây ấn tượng mạnh, đêm đầu tiên ra mắt sau thời gian vắng bóng ở thành Sơn, đoàn Ánh Hồng diễn vở Chu Du thổ huyết, mặc dù vở này đã diễn ở đây nhiều lần.
Thực tế, trong mỗi kì lưu diễn nhiều ngày, vở nào cũng phải diễn lại dăm bảy bận, chỉ đến khi vãn vãn khách mới chuyển sang vở khác, chứ mỗi đêm một tiết mục thì kiếm đâu ra lắm chương trình. Với lại, diễn viên cũng không theo kịp để diễn thuần thục được.
Cách nay già nửa thế kỉ, người xứ này luôn tự hào mình là dân thành Sơn, tỉnh lị của Sơn Tây xưa. Ngày đó, những ai mê xem hát cải lương đều không lạ gì đoàn Ánh Hồng có một kho vở diễn, như: Tần Hương Liên, Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, Chung Vô Diệm phá hội Kì Bàn, Tiết Đinh Sơn - Tiết Đinh Quý, Lã Bố hí Điêu Thuyền, Võ Tòng đả hổ, Anh hùng Lương Sơn Bạc, Mạnh Lệ Quân thoát hài, Kiếp hồng nhan… trong đó có mấy vở trùng tiết mục của các đoàn cải lương khác và các đoàn tuồng Bắc (dĩ nhiên là theo cung cách tuồng). Hầu hết các vở đều cải biên từ các tích văn hóa Trung Hoa thời cổ - trung đại. Duy chỉ có Kiếp hồng nhan là do ông Phượng trưởng đoàn biên soạn và chỉnh sửa hoàn thiện dần sau mỗi lần công diễn.
Diễn Chu Du thổ huyết nên Thanh Huyền không được phân vai. Bởi vậy, sau mươi lăm phút mở màn, cô đến ngồi bên cô Thịnh chưa kịp mở hàng.
- Lâu quá rồi chị em mình mới được gặp lại nhau. Chị cho em xin một bát nhỏ vì vừa nãy em đã ăn một cặp bánh dày.
Vừa nói cô vừa khom lưng kéo ra một xấp tiền.
- Em gửi anh chị món nợ dai từ hồi năm ngoái, chị không phải đếm lại đâu.
- Chị cảm ơn. Em gái cẩn thận quá đấy.
*
Có lẽ mọi người trong đoàn Ánh Hồng chưa chắc có ai biết rõ đời tư của Thanh Huyền bằng cô Thịnh. Là con dâu trưởng của một gia đình chuyên buôn bán vàng bạc ở thị trấn Việt Trì bên dòng sông Lô, nhưng Thanh Huyền không muốn trói buộc cuộc đời mình ở một nơi, yên phận làm dâu con một nhà giàu có và yên phận làm một người vợ khuôn phép, đẻ nhiều con, mặc dù người chồng khá đẹp mã, hiền lành, tốt bụng. Song sướng vui một nỗi và cũng khốn hạnh một nỗi, ấy là cô mê mẩn hát xướng cải lương từ tuổi dậy thì qua những lần được lên phố huyện xem các đoàn cải lương về diễn. Niềm đam mê như cái dằm êm ái không thứ gì có thể nhổ ra khỏi đầu óc cô được.
Chấp nhận hôn nhân qua mối lái và sắp đặt, cô lên sống ở Việt Trì. Mấy lần có đoàn cải lương về diễn ở thị trấn, cô rủ chồng đi xem cho vui, nhưng anh ta chỉ mua vé cho cô cùng với gói lạc rang húng lìu để cô vừa xem vừa nhấm nháp, còn mình ở nhà thức đợi cô về. Chán thế!
Đắn đo, dùng dằng mãi, cuối cùng cô dứt khoát bỏ trốn theo đoàn Ánh Hồng đang lưu diễn ở thành Sơn, chỉ để lại mảnh giấy: “Em xin lỗi bố mẹ, anh và các em rất nhiều, nhưng em không bao giờ quay về sống ở đây nữa. Anh đừng đi tìm em. Vĩnh biệt.”
Không để tâm đến những lời chửi rủa của nhà chồng và thiên hạ dè bỉu phía sau lưng mình, cô nghĩ “đó là việc của họ, còn mình chả làm gì xấu xa, tệ hại đến ai mà sợ”.
Nhìn thẳng vào mắt ông Phượng trưởng đoàn, cô nói năng mạch lạc, lưu loát, không hề e ngại:
- Em xin theo đoàn chỉ để làm bếp và những việc lặt vặt thôi.
Thoạt trông thấy Thanh Huyền có đôi mắt to tròn, làn da nõn nà, xinh đẹp nhường kia, ông Phượng mê ngay nhưng nét mặt vẫn vô cảm và nói một câu làm phép:
- Làm không đến nơi đến chốn để anh chị em trong đoàn kêu ca là tôi trả về cho phụ huynh đấy. Lúc đó, đừng có trách tôi ác.
Mục tiêu chính của Thanh Huyền không phải như cô nói mà chủ yếu là được nghe diễn viên hát trong những buổi tập dượt và được ngồi sau cánh gà sân khấu để nhẩm hát theo. Thực ra, sâu kín trong lòng cô là niềm hi vọng và sự tự tin sẽ có ngày trở thành diễn viên cải lương.
Tình cờ, một bữa ông Phượng đi ngang qua bếp lúc Thanh Huyền vừa đang nấu ăn vừa hát điệu Khốc hoàng thiên. “Đúng làn điệu, giọng truyền cảm và mượt mà đấy.” Sự tình cờ kia trở thành bước ngoặt mà cô cho rằng sớm muộn gì cũng phải đến với mình.
Ngay sáng hôm sau, ông cho gọi Thanh Huyền lên phòng làm việc và cũng là phòng ngủ của vợ chồng ông. Theo ý ông, cùng đi với cô còn có tay Bỉnh chuyên kéo phông màn và khuân vác đạo cụ. Sở dĩ phải có màn kịch này là để che mắt bà vợ cuồng ghen và biết rõ ông chồng đào hoa, hám gái đẹp. Ghen tuông vậy nhưng bà vẫn nem nép sợ ông, vì trái ý là ông cho ngay về quê sống với bố mẹ và nuôi dạy con cái.
Nghe Thanh Huyền ca mấy câu vọng cổ học lỏm từ vở Tần Hương Liên xong, ông Phượng thầm quyết định đào tạo cô thành một đào thương có hạng.
- Từ mai, cô chuyển sang làm việc mới, bếp núc để người khác làm. Đó là ban ngày dự thính những buổi diễn viên tập dượt, còn ban tối thì ngồi sau cánh gà theo dõi vở diễn.
Từ bữa ấy đến giờ đã vài ba năm. Thanh Huyền dường như sinh ra chỉ để làm đào hát cải lương. Cô tự tin đến mức dám xin ông Phượng tăng lương và thưởng trước khi ông cũng đang có ý định đó, bởi ông biết đoàn Bồ Câu Trắng đang ra sức chèo kéo cô về với họ và hứa hẹn hấp dẫn. Cũng suốt thời gian này cô chỉ về Việt Trì một lần để chính thức tuyên bố với gia đình chồng cũ rằng mình đã ra đi.
*
Nhân tuần mưa ngâu rả rích, ế khách quá nên đoàn tạm nghỉ diễn, ông Phượng sai vợ mang tiền về quê chu cấp cho các con và đỡ đần bố mẹ. Bà vợ vâng lời ngay. Nhưng... sau khi đi được khoảng hơn một tiếng thì bất ngờ quay lại với lí do nghe có vẻ chính đáng, ấy là mang theo áo khoác để phòng trời trở lạnh vì thời tiết đang xấu. Thực ra đó là hành động thăm dò... Nhẹ nhàng như mèo rình vồ chuột, bà ta lấy hết sức đạp mạnh cửa buồng đã cài chốt của hai vợ chồng. Và... bắt quả tang chồng đã tụt cả quần dài và quần lót xuống sàn nhà và đang rú lên như chó bị chọc tiết, trong khi Thanh Huyền vẫn mặc nguyên quần áo ngoài. Thì ra, cô đã rút cái ghim cài tóc thẳng tay đâm vào cái “của quý” đang cương cứng của ông ta. Bà vợ vừa căm uất chồng, vừa hả hê trước cảnh ông ta bị mĩ nhân mà ông mê đắm “điều trị” đích đáng. Qua vụ này, bà ta không còn hằn học, căm ghét Thanh Huyền như trước nữa.
Dù bị chơi một vố đau điếng đời như thế nhưng ông Phượng vẫn không dám đuổi “con cưng” của mình. Đuổi thì quá dễ, song làm như thế thì khác nào cứu giúp Bồ Câu Trắng đang đứng trước bờ vực tan rã, vì gần đây đào kép bỏ đi nhiều, còn họ đang chèo kéo Thanh Huyền về với mình. Chẳng cứ Bồ Câu Trắng mà các rạp Kim Chung, Kim Phụng ở thủ đô cũng có ý mời cô. Vả chăng, nếu để mất Thanh Huyền thì Ánh Hồng cũng sẽ dần vắng khách. Hơn nữa, cũng nhờ công ông đào tạo mà cô trở thành một đào thương át chủ bài. Chẳng những cô có tố chất giọng lặng trầm riêng khó kiếm mà cô còn tiếp thu nhanh và có khả năng ứng diễn tài tình. Trong vở Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, khi uốn éo, cô liền hát theo cách nói lối của sân khấu chèo vùng đồng bằng Bắc bộ: “Chàng ơi! Đôi chúng ta như đôi bướm trắng giữa thăm thẳm trời xanh, nguyện thề sống bên nhau muôn đời muôn kiếp...” rồi mới bắt vào ca từ của làn điệu theo kịch bản. Dù luôn ngăn cấm diễn cương, trong trường đoạn này ông Phượng thấy chấp nhận được, song cũng không khuyến khích. Lại nữa, trong Tần Hương Liên, Thanh Huyền mới chỉ ca hai câu trong sáu câu vọng cổ ai oán, giận hờn Trần Sỹ Mỹ, người chồng nhẫn tâm phụ bạc vợ thủy chung, khi hạ giọng xuống cung “xề”, cô đã nghẹn nấc lên khiến cả khán thính phòng dường như chết lặng rồi mới òa lên xuýt xoa. Nghĩ đến tài ứng diễn, ông Phượng lại nhớ đến giai thoại về người sắm vai Trương Phi. Khi anh ta bước ra sân khấu, định vuốt râu nhưng không có râu, bèn hát: “Như ta đây là Trương Phì, để ta vào gọi anh ta là Trương Phi ra đây nha.” Vào sau cánh gà, anh ta đeo bộ râu dài rồi trở ra diễn như thường. Khán giả thừa biết đó là lỗi kĩ thuật diễn nhưng cũng vui cười thích thú.
*
Một tối, Thanh Huyền đang ngồi nói chuyện với cô Thịnh thì một ông đóng bộ complet, đeo cravat, đội mũ phớt, đi giày tây, kéo ghế ngồi xuống cạnh cô, nói một cách trang trọng:
- Xin chào người đẹp, bữa nay, cô cho tôi hân hạnh được mời cô bát cháo loãng để lấy may.
Lời mời lịch sự, kiểu cách quá khiến cô không dám chối từ. Sau đó, chuyện lan man, ông ta nói mình rất hâm mộ cải lương và cũng vô cùng ngưỡng mộ cô từ lâu mà lúc này mới có cơ hội làm quen.
Khi cảm thấy chuyện trò có vẻ xuôi chiều, ông ta liền ngỏ ý mời cô về làm quản lí sổ sách, coi sóc xưởng mộc có nhiều nhân công của mình với thu nhập chắc chắn gấp nhiều lần so với ở đoàn Ánh Hồng.
- Trước tiên, em cảm ơn bác vì đã quá sớm tin cậy một người chỉ qua diễn xướng, nhưng em cũng phải nói ngay là em không thể rời khỏi đoàn vì đã trót kí hợp đồng dài hạn với họ, nếu phá vỡ hợp đồng thì phải bồi thường khoản tiền rất lớn.
- Tôi sẽ bồi thường giúp cô.
- Nhưng em cũng e rằng cái xưởng mộc của nhà bác có nhẽ không bồi thường nổi.
- Không đủ thì tôi đi vay. Sợ gì cơ chứ.
- Dù có thế em cũng không đổi ý đâu.
Ông ta còn tìm gặp lại Thanh Huyền vài lần nữa, vẫn với văn vở cũ. Có lẽ ông này tin chắc rằng sức mạnh của đồng tiền cộng với sự kiên trì sẽ lay chuyển được Thanh Huyền, người mà ông hi vọng sẽ thế chân bà vợ ông vừa mất ít lâu. Cậy mình giàu có và chịu chơi, ông còn mời đoàn Ánh Hồng đến tận tư gia trình diễn. Từ chối khéo để giữ giá, ông Phượng nghĩ: “Ta đi kiếm sống thật nhưng không hầu thiên hạ vô điều kiện.” Không bỏ cuộc, ông chủ xưởng mộc chơi ngông theo lối đại ca tỉnh lẻ là thuê bao cả một đêm diễn, vở nào cũng được nhưng nhất thiết phải có Thanh Huyền thủ vai mà chỉ có một mình ông ta xem, kể cả không cho tháo khoán. Được thôi. Khó gì. Trong lúc diễn, Thanh Huyền đưa mắt thấy ông ta ngồi ngay hàng ghế đầu, ngáp ngắn ngáp dài, chỉ thiếu ngủ gật. Chán là phải thôi. Đi xem văn nghệ cũng như đi trẩy hội, phải có đông người cộng cảm thì mới vui chứ.
Nào đã hết những chuyện nực cười dở hơi. Mấy tháng trước, đoàn Ánh Hồng về thành Nam (thành phố Nam Định) lưu diễn. Vừa ra khỏi rạp để đi ăn sáng thì một chú choai choai chắc mới vắt mũi sạch đứng đón đường, lễ phép:
- Cháu chào cô, cháu làm phiền cô một lát được không ạ?
- Có việc gì cháu nói đi.
Nó nói là đêm diễn đầu tiên của đoàn, cả bố mẹ nó và nó cùng đi xem, nhưng bốn năm đêm diễn tiếp theo thì chỉ có nó được bố mẹ cho tiền đi xem. Ấp úng một lúc, nó nói lí nhí:
- Cháu thích cô lắm và cháu biết cô vẫn đang sống một mình.
Phá ra cười, Thanh Huyền bảo:
- Thích để làm gì?
- Để lấy làm vợ.
Nó mạnh dạn nói rõ ràng.
- Ngộ nhỉ. Nhỡ bố mẹ cháu không đồng ý thì sao?
- Sẽ đồng ý mà.
Đoạn, nó kể trước kia bố nó là công nhân xưởng dệt mà yêu rồi lấy mẹ nó đang làm quản đốc hơn bố nó chục tuổi. Sáng hôm sau, nó lại đón đường và nói:
- Bố mẹ cháu bằng lòng rồi, cô ạ.
Để khỏi mất thì giờ vì chuyện vớ vẩn, Thanh Huyền bảo:
- Cô rất tiếc là không được gặp cháu và bố mẹ cháu sớm hơn. Mấy hôm trước, cô đã đính hôn với người cùng đoàn rồi.
*
Dẫu nhiều năm đứng dưới ánh đèn sân khấu rạng ngời, được khán giả nhiều nơi không tiếc lời khen ngợi, rằng cô vừa có giọng hát truyền cảm, vừa xinh đẹp mà lại rất “ăn phấn, ăn đèn”. Có cái sướng của người hành nghề, song lắm lúc cô cũng thở dài nghĩ ngợi. “Không lẽ đời mình cứ kéo lê thê cái ánh hào quang ảo tưởng này cho đến khi không còn ai để mắt đến vì mình sẽ già nua xấu xí và không đủ sức hát nữa? Vả lại, đoàn Ánh Hồng cũng sẽ có ngày rã đám chứ. Để đến ngày đó mới chịu ra đi thì mình đâu còn là mình nữa. Lúc đó mình sẽ sống bằng gì, sẽ nương tựa vào ai khi ốm yếu. Ngay lúc đang đứng ở đỉnh cao thì mình đã bị thiên hạ gọi là quân xướng ca vô loài, là con hát rồi. Có ai gọi là chị hát, cô hát, bà hát đâu. Bởi thế, cần phải lấy chồng, phải có một gia đình riêng…” Cô biết với nhan sắc chưa kịp phai tàn theo héo úa của mình, không khó lấy chồng là hiển nhiên, thậm chí rất dễ. Song gặp được người đàn ông nhìn ưng ý mà cảm hiểu và chia sẻ được nỗi niềm của mình mới khó, có thể chẳng bao giờ gặp. Cầm lòng vậy. Vì vậy, khi còn khả năng sinh đẻ được thì phải có con. Kể cả có con rồi mà số phận đưa đẩy, vẫn có người mình hằng ao ước hài lòng chấp nhận. Tâm tư nặng nề, buồn bã ấy, cô trút hết với cô Thịnh vốn cũng đang trăn trở vì nỗi hai vợ chồng cô lấy nhau dăm bảy năm rồi mà vẫn chưa có con. Thực lòng, cô Thịnh rất muốn giúp Thanh Huyền, nhưng giúp bằng cách nào? Còn Thanh Huyền càng bế tắc trong việc kiếm một đứa con ngoài giá thú. Ở tỉnh lị này, cô không quen biết người đàn ông nào khả dĩ... Chi bằng tìm quý nhân phù trợ ở ngay trong đoàn. Ai mới được? Ông Phượng ư? Không đời nào, vì nhiều lẽ. Qua nhiều đêm suy tính, cô quyết định nhờ tay Bỉnh chuyên kéo phóng màn và sắp xếp đạo cụ xem sao. Bỉnh có khuôn mặt vuông vức dễ ưa, khỏe mạnh, thật thà, trước nay không có điều tiếng gì. Quanh co mãi cô mới dám nói với Bỉnh việc ấy. Nhưng anh ta nghĩ cô đùa nhảm nên có ý đề phòng, bị lỡm thì không biết cất mặt vào đâu, chỉ thiếu nước chui xuống đất.
Với thái độ chân thành, Thanh Huyền mấy lần thuyết phục, anh ta mới đồng ý, chỉ với điều kiện phải tuyệt đối giữ kín, vì vợ anh ta cũng là người trong đoàn.
- Được như thế với người đẹp nhường kia thì còn gì bằng.
Nhưng cái phân xưởng vui sản xuất ấy vận hành ở đâu? Không thể ở mấy cái phòng ngủ tạm bợ của người trong đoàn được.
- Ta sẽ lo liệu sàn diễn ấy.
Thanh Huyền liền nghĩ đến ngôi nhà trong ngõ nhỏ của vợ chồng cô Thịnh, anh Phúc. Chẳng phải chờ nói đến lần thứ hai, cô Thịnh đồng thuận ngay. Cô nói lại với chồng nhưng anh Phúc giãy nảy lên:
- Không được! Cho gái gú làm chuyện ấy ở nhà mình thì hãm tài, lắm dớp lắm.
- Thế độ trước ta với nhau như vậy ở nhà cô bạn em thì sao? Chẳng những không hãm tài hãm lộc mà vợ chồng nó còn ăn nên làm ra, xây được nhà cao cửa rộng, con cái học hành ngoan ngoãn…
- Xưa khác, giờ khác.
- Chả có gì khác cái việc gieo mầm con giống ấy.
Sau một hồi đôi co, anh Phúc đuối lí. Mọi việc ổn thỏa.
Qua mươi lăm lần giao hòa, giao lưu, giao hữu, giao thoa, Thanh Huyền nghe người mình khang khác, không thèm của chua, của ngọt mà lại cứ thích nhấm nháp những mảnh ngói non.
- Đời mình ẩm ương nên ăn rở vậy chăng?
Biết mình đã tắt kinh, cô cảm ơn Bỉnh kèm theo một chút gọi là, để tẩm bổ sức dân. Còn Bỉnh nuốt nước dãi tiếc rẻ:
- Sao lại sớm đậu quả đến vậy?
Anh ta chưa biết Thanh Huyền sẽ lại có việc nhờ vả mình lần nữa.
*
Âm thầm thu xếp hành trang, nào có gì nhiều ngoài vài ba bộ quần áo tầm tầm, Thanh Huyền hóng xem ngày nào thuận lợi nhất để lên đường. Nghe người thạo thuật phong thủy nói vào ngày này tháng này, giờ nào cũng đẹp vì là ngày vũ thủy, làm việc gì cũng hanh thông, nhất là xuất hành.
Sáng sớm ngay sau đêm diễn Kiếp hồng nhan được ông Phượng đắc ý, cô thưa với ông ta rằng trong ngày mai, cô sẽ rời khỏi Ánh Hồng và hứa không đến với bất kì đoàn cải lương nào khác. Quá biết tính cách cô, ông Phượng không gặng hỏi lí do. Được nhận lương sớm cùng với tiền thưởng một tháng lương nữa, cô tạ ơn và nói:
- Em đã nghĩ chín từ lâu rồi, anh ạ.
Trước đó, cô cũng đã chào, cảm ơn vợ chồng cô Thịnh. Không nói chuyện lâu, cô dúi vào tay anh Bỉnh mảnh giấy ghi tên mẹ cô và địa chỉ cô sẽ về và dặn khoảng mười ngày sau thì đến đó giúp cô.
- Không có công việc gì kéo dài và nặng nhọc lắm đâu.
*
Lúc Thanh Huyền sắp ra đường thì trời sấm chớp đùng đùng, mưa trút nước. Mưa, kệ mưa. Ướt, kệ ướt. Cứ đi. Chưa bao giờ cô thấy thân xác mình, lòng mình nhẹ nhõm, thảnh thơi đến thế. Đây chính là mưa hồi xuân mà xưa nay người ta vẫn mong mỏi chăng?
Đúng hẹn, hơn tuần sau, Bỉnh đã đến gia đình cô, được bố mẹ cô và các em cô tiếp đón ân cần, niềm nở. Nhân đó, cô nói với anh ta, cô ở cữ xong đã, mọi việc tính sau.
- Anh ở lại chơi với gia đình tôi một, hai ngày đã là giúp tôi rồi. Cô còn nhấn mạnh anh không bao giờ được về đây nữa để sắm vai chồng hờ, dù con cô mang dòng máu của anh. Nếu anh không nghe, cô sẽ nói cho vợ anh ta biết. Ở thôn quê ngày ấy, đàn bà chửa hoang, chửa “buộm” hoặc đã có con riêng thì chỉ làm vợ lẽ, con mọn. Báu gì? Hắt nước vào bếp lửa rơm cho xong. Cô biết ở vậy nuôi con dù không còn trẻ nhưng chưa đến nỗi già thì cũng thiếu thốn tình yêu đôi lứa và những khoái lạc trần gian, nhưng làm sao được. Bỗng dưng, cô nhớ mấy câu thơ của Trần Huyền Trân: “Tự cổ sầu chung kiếp xướng ca,/ Mênh mang trời đất vẫn không nhà,/ Người ơi! Mưa đấy hay sênh phách,/ Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa.” “Phải chấp nhận thôi. Được cái này thì phải mất cái kia.”
Chan hòa lại với làng quê thời thơ ấu của mình sau bao năm va đập với nhiều hạng người, Thanh Huyền yên lòng mãn nguyện sống ở một xóm nhỏ ven sông Đáy hiền từ. Hằng ngày cô hái dâu, chăn tằm, dệt lụa như bao người ở đây, thỉnh thoảng cũng chạy chợ mua mua bán bán để vừa có tiền nuôi con vừa vui.
Ở nhiều thôn làng vùng ven sông này ngày đó vẫn giữ lệ xuân thu nhị kì lại tổ chức liên hoan văn nghệ cây nhà lá vườn. Đêm ấy, Thanh Huyền cầm ghế ra từ sớm, ngồi ngay trước sân khấu ước lệ là bãi cỏ có đóng bốn cột tre, chăng dây để trẻ con không chạy vào được.
Ngứa nghề, cô xung phong lên hát. Vác bụng to nghễu nghện như trống cái, sắp đến buổi nằm ổ, ăn mặc tuềnh toàng như ở nhà và không hề chải chuốt phấn son, trong ánh đèn măng xông lắm lúc nhập nhèm, cô hát liền mấy làn điệu cải lương cô ưa thích. “Cô Nhạn này (tên gọi khi còn ở nhà và bây giờ) đi làm diễn viên cải lương được đấy”, nhiều người tấm tắc khen và tỏ ra thông cảm: “Vậy mà thằng chồng biệt tăm chẳng ỏ ê gì tới…”
Những người trong nhà đã được dặn kĩ không nói với bất kì một ai, rằng cô đã có một thời son trẻ rực rỡ dưới ánh đèn sân khấu chuyên nghiệp nhiều năm. “Lắm người biết mình thì ích gì”, cô nghĩ, “chỉ tổ nặng người.”