Ông đến với con chữ không phải bằng con đường chính thống của một người học văn, mà từ một cơ duyên tình cờ, từ một bát phở sáng và một trái tim đang yêu. Nhưng chính sự tình cờ ấy lại mở ra một hành trình gần trọn đời với trẻ thơ, với những trang viết hồn nhiên, trong trẻo đến lạ thường. Ông là người từng vào sinh ra tử nơi chiến trường khốc liệt, từng là cán bộ ngoại giao trên đất Mỹ, và trên hết, là một nhà văn luôn giữ cho mình “đứa trẻ” bên trong để viết nên những câu chuyện mà hàng triệu bạn đọc nhỏ tuổi đã yêu thương.
|
Nhà văn Thái Chí Thanh sinh năm 1953 trên mảnh đất địa linh nhân kiệt Diễn Châu, Nghệ An. Những năm tháng thanh xuân của ông không chỉ là những trang sách, mà còn là những tháng ngày khoác áo lính, xông pha trên chiến trường miền Nam từ năm 1971 đến năm 1975. Hỏi về những năm tháng ấy, ông chỉ bùi ngùi: “Chắc là không bao giờ quên được. Mình có viết cả đời cũng không hết, cho nên đối với đồng đội thì mình vẫn còn một món nợ luôn canh cánh trong lòng.”
Sau ngày thống nhất đất nước, người lính đặc công năm nào xuất ngũ, thi vào khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông học từ 1977 đến 1981, rồi học cao học Chính trị tại Moscow. Không dừng lại ở đó, ông còn trải qua chặng đường mười hai năm làm cán bộ ngoại giao tại Ba Lan và Hoa Kỳ.
Có một điều thú vị: Người ta thường nghĩ một nhà ngoại giao phải là người có nhiều kinh nghiệm sống, và Thái Chí Thanh đã sống rất nhiều. Ông từng kể về chuyến đi Las Vegas, nơi ông thử vận may với các máy đánh bạc. Ban đầu chỉ đánh vài xu, rồi tăng lên 80 cent một lần. Bỗng nhiên cả cỗ máy rung lên với tiếng nhạc reo và đèn chớp xanh đỏ, ông thắng hơn mười ngàn đô la. Chính sự hồn nhiên, không toan tính ấy lại mang đến cho ông những trải nghiệm khó quên.
Hiện tại, ông là Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi, Hội Nhà văn Việt Nam khóa X, một vị trí đòi hỏi tâm huyết và trách nhiệm.
Ít ai biết rằng, con đường đến với văn chương của nhà văn Thái Chí Thanh bắt đầu từ một buổi sáng ăn phở bên hồ Gươm. Hồi ấy, ông đang làm biên tập tại Nhà xuất bản Sự Thật (Chính trị Quốc gia Sự Thật), nhà ở gần báo Văn nghệ. Một buổi sáng đi ăn phở, ông tình cờ nghe các anh ở báo Văn nghệ bàn nhau về việc cần bài cho trang thiếu nhi số báo Tết. “Lúc ấy, tôi đang yêu một cô họa sĩ (là vợ tôi bây giờ), lại còn thích nghệ thuật nữa, nên đã về thử viết”, ông kể lại với nụ cười hóm hỉnh.
Viết xong, nhút nhát, không quen ai, ông đến bỏ bản thảo vào thùng thư trước cổng tòa soạn. Không ngờ số báo Tết ấy lại có truyện ngắn Trâu tìm bạn của ông, được in rất đẹp. Đó là truyện đồng thoại đầu tiên, mở ra một sự nghiệp sáng tác dành cho thiếu nhi.
Từ đó, ông viết liên tục. “Viết truyện nào cũng được đăng cả, thế là phấn khởi”, ông chia sẻ. Ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997. Điều đáng ngạc nhiên là dòng văn học thiếu nhi ấy không đến từ một nhà văn “chuyên nghiệp” mà từ một người học sử, làm nghề biên tập sách, rồi đi làm ngoại giao. “Tôi không phải là dân viết văn mà là dân học sử”, ông cười bảo. Có lẽ chính cái nền tảng “không chuyên” ấy lại giúp văn ông không bị ràng buộc bởi lối mòn, cứ hồn nhiên như chính con người ông.
Nếu có một từ để mô tả về văn chương Thái Chí Thanh, có lẽ là “hồn nhiên”. Khi được hỏi bí quyết viết cho thiếu nhi, ông tâm sự: “Viết cho thiếu nhi trước hết phải hấp dẫn thì các em mới đọc. Nếu muốn có tính nọ tính kia nhưng tác phẩm không hấp dẫn thì trẻ em không đọc. Tôi thích viết giản dị.”
Ông quan niệm rằng tính giáo dục phải được đưa vào tác phẩm một cách cẩn thận, nhẹ nhàng “như không”, tránh sa vào giáo điều khô cứng. Lấy ví dụ truyện Gấu con chia quà (trích từ tập Gấu con học đếm), tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt 1, bộ Chân trời sáng tạo. Ông kể: “Bắt nguồn từ chuyện hai anh em con trai tôi dạo bé... Trong tác phẩm, cần có sự linh hoạt, có những sáng tạo, biến tấu cùng thực tế sẽ tạo ra những câu chuyện hấp dẫn.” Câu chuyện gấu con chia quà mà quên phần mình đã dạy trẻ về phép đếm và lòng vị tha một cách tự nhiên, dí dỏm.
Ông thích kể những câu chuyện đời thường “nhưng đan xen cổ tích”. Ông nói: “Ngoài đồng thoại, cổ tích, hiện tôi viết truyện sinh hoạt nhiều hơn.” Những tác phẩm như Người ở hay Thằng em tôi đều bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, từ những mối quan hệ giữa người với người, nhưng được nâng lên thành những thông điệp nhân văn sâu sắc. Truyện Người ở là câu chuyện về cô bé Tuyết làm thuê vì nghèo nhưng thông minh và giàu nghị lực, từ đó thức tỉnh lòng tự trọng và biết ơn ở người bạn Minh.
Ở tuổi ngoài bảy mươi, nhiều người thắc mắc làm sao Thái Chí Thanh vẫn viết cho thiếu nhi một cách tươi mới như vậy. Câu trả lời của ông thật giản dị: “Có lẽ do cái tạng, cái duyên của từng người. Có những người còn trẻ nhưng viết lại thấy già, có người già viết vẫn thấy trẻ. Mình cứ sống hồn nhiên. Mình viết không vì thế nọ thế kia, cứ viết bình dị, quan trọng nhất là phải có cảm xúc... đứa trẻ trong tôi còn mãi.”
Cố nhạc sĩ - nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, một người bạn tri kỷ của ông, đã từng viết: “Người mà cố tình viết nhạc sẽ không mạo hiểm như thế. Rất khó tìm được ca khúc thiếu nhi nào, mở đầu là một điệu thức mà kết thúc là một điệu thức khác... Hóa ra, mọi sự cầu kỳ, cố tình vặn vẹo đều ít chất nhạc hơn sự giản dị, tự nhiên chảy ra từ đáy lòng nồng nàn cảm xúc.” Đó cũng là bí quyết trong văn chương của Thái Chí Thanh: Sự tự nhiên đến từ sự đồng điệu với trẻ thơ.
Sự nghiệp sáng tác của Thái Chí Thanh vô cùng đa dạng với nhiều thể loại: truyện ngắn, đồng thoại, tiểu thuyết, kịch bản phim hoạt hình và cả ca khúc thiếu nhi. Cho đến nay, ông đã xuất bản 14 tác phẩm.
Nhắc đến Thái Chí Thanh, người ta nhớ ngay đến tập truyện đồng thoại Gấu con học đếm, đặc biệt là trích đoạn Gấu con chia quà được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt 1. Tập sách này từng được Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành 30.632 bản vào tháng 7/2009 - một con số đáng nể. Chuyện gấu con chia những quả táo đã dạy trẻ bài học đếm và đạo đức tươi vui, nhẹ nhàng: “Chia quà mà quên phần mình thì chẳng sợ mất phần đâu.”
Truyện ngắn Người ở và Em tôi được đưa vào sách giáo khoa phản ánh rõ nét tư tưởng nhân văn của ông. Em tôi trong sách Tiếng Việt 5, bộ Cánh diều, là câu chuyện “đã là anh em thì đứt ruột thương nhau, sẵn sàng hy sinh cho nhau”. Trong khi đó, Người ở lại “phản ánh sâu sắc bi kịch cùng phẩm giá con người trong bối cảnh xã hội cũ”.
Không chỉ viết văn, Thái Chí Thanh còn thành công với kịch bản phim hoạt hình Quỷ núi và tình yêu, đoạt giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 11. Phim kể về câu chuyện tình mẫu tử và tình yêu lứa đôi đã cảm hóa được con quỷ.
Đặc biệt, ở tuổi xế chiều, ông còn sáng tác nhạc. Tập ca khúc Hạt sương ban mai (Nxb Hội Nhà văn, 2021) gồm 41 bài hát, trong đó ca khúc Trăng ơi... từ đâu đến? phổ thơ Trần Đăng Khoa được trao giải Khát vọng Dế Mèn năm 2024. Ông kể: “Mỗi lần sáng tác nhạc là một lần xúc động như lần đầu tiên mình được làm, chứ không bị chai cứng.”
Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi, Thái Chí Thanh dành nhiều tâm huyết để vực dậy mảng sáng tác này. Ông trăn trở trước thực trạng văn hóa đọc của thiếu nhi hiện đang bị ảnh hưởng bởi văn hóa nghe nhìn, chất giải trí lấn át chiều sâu.
Ông quan niệm rằng nhà văn có vai trò quan trọng trong việc chọn lọc tác phẩm, và việc đưa tác phẩm vào sách giáo khoa cần có sự góp ý của các cây bút chuyên viết cho thiếu nhi để tránh sự áp đặt cứng nhắc. “Mục đích cuối cùng luôn là vì các cháu, vì trẻ thơ, vì thiếu nhi”, ông khẳng định.
Với ông, văn học thiếu nhi không chỉ là để giải trí mà còn là để nuôi dưỡng tâm hồn, ươm mầm những giá trị nhân văn. Bởi vậy, dù đã ngoài bảy mươi tuổi và bận rộn với công tác Hội, ông vẫn không ngừng sáng tạo. Như có lần ông kể, ông vừa hoàn thành bản thảo truyện dài Phong lan núi, một câu chuyện về tuổi thiếu niên thời chống Mỹ với thông điệp sinh thái mới mẻ.
Nhà văn Thái Chí Thanh là một con người của những tương phản. Ông từng là người lính đặc công chiến đấu ở Quảng Trị khốc liệt, nhưng lại có tâm hồn dịu dàng viết về những chú gấu con chia quà. Ông từng trải qua những mất mát, hy sinh và nhìn thấy cái chết của đồng đội, nhưng thứ ông mang lại cho trẻ thơ là sự hồn nhiên, niềm tin vào cái thiện. Ông từng là một nhà ngoại giao trên đất nước xa xôi, nhưng trở về, ông vẫn là nhà văn của tuổi thơ, của những điều bình dị.
Tác phẩm của Thái Chí Thanh, qua lăng kính của một người từng trải, không chỉ là cổ tích hay đồng thoại thuần túy. Đó là những câu chuyện đời, những bài học làm người được gói gọn trong một câu chuyện dễ thương. Như nhà thơ Nguyễn Thụy Kha đã ví von: “Hạt sương ban mai đậu lên cánh hoa... Lung linh muôn sắc màu của đất trời quê ta.” Nhà văn Thái Chí Thanh cũng như giọt sương ấy, khiêm nhường, bình dị nhưng lại chứa đựng cả một bầu trời yêu thương cho trẻ thơ.
“Đứa trẻ trong tôi còn mãi”, ông nói vậy, và chúng ta, những người đọc, cũng hy vọng rằng đứa trẻ ấy mãi ở lại trong từng trang viết của ông. Để mỗi khi một cuốn sách của Thái Chí Thanh được mở ra, thế giới tuổi thơ lại một lần nữa trở về, với biết bao tiếng cười và những giọt nước mắt của sự xúc động, lòng nhân ái.