Nguồn của dòng sông có thể được hiểu theo nhiều cách, trong đó, theo tôi có hai cách chủ yếu: Nơi dòng chảy đầu tiên, từ mạch nguồn trong lòng khe, núi; Nơi hai hay nhiều nhánh sông gộp lại, và cái tên của sông bắt đầu từ nơi hợp lưu ấy. Trường hợp này có sông Lam là ví dụ. Sông Lam bắt nguồn từ sự hợp lưu của sông Nậm Nơn và Nậm Mộ tại Cửa Rào, Nghệ An, và tại nơi này, cái tên sông Lam bắt đầu.
![]() |
| Minh hoạ: Nguyễn Quốc Thắng |
Làng tôi nằm ngay tại nơi hợp lưu của sông Bùi (chảy từ Hòa Bình - nay là Phú Thọ về) và sông Tích (từ vùng núi thiêng Ba Vì của Hà Nội xuống). Tôi xem trên bản đồ, thì từ điểm hợp lưu này, dòng sông bắt đầu có tên là sông Đáy. Tuy rằng, theo các ghi chép về thượng nguồn sông Đáy, thì thượng nguồn của dòng sông này từ huyện Phúc Thọ, Hà Nội, lấy nước của sông Hồng, và có tên cổ là Hát Giang. Đây là dòng sông của thi ca “sông trăng, sông lụa”: “Dòng sông Đáy quê em/ Sông trăng hay sông lụa/ Nong kén vàng như lúa/ Tròn vạnh một góc trời” (lời thơ Lai Vu, cũng là lời ca khúc, do bài thơ của Lai Vu được nhạc sĩ Đoàn Bổng phổ nhạc thành bài hát nổi tiếng “Dòng sông quê anh, dòng sông quê em”). Sông Đáy cũng là dòng sông lịch sử, đầu nguồn của dòng sông chứng kiến một sự kiện vô cùng lớn lao của lịch sử nước nhà trong những năm đầu Công nguyên. Đó là nơi Hai Bà Trưng mở hội thề tụ nghĩa vào mùa xuân năm 40. Sông Tích, sông Bùi chỉ là phụ lưu cấp 1 của sông Đáy mà thôi.
Thời thơ dại, tôi chạy trên bờ đê của cánh đồng làng và nhìn miên miết theo dòng chảy lấp lánh của dòng sông. Người lớn thì luôn nói mọi dòng sông đều đổ về biển cả, nên tôi cũng luôn tự hỏi những dòng nước này đổ về biển ở nơi nào, và có điều gì khác biệt với nơi đây?
Bây giờ, thì việc thực hiện cái mong mỏi muốn biết nơi đổ ra biển của dòng sông quê nhà đối với tôi đã không khó. Tôi đã đi qua cái dòng chảy cuồn cuộn của dòng sông quê mình trước khi nó đổ vào biển cả ở Kim Sơn, Ninh Bình. Nơi đó có tên là Cửa Đáy. Cửa sông thật khác xa với nơi nó bắt nguồn, nơi nó lặng thầm chảy qua những cánh đồng, làng mạc. Một dòng sông rì rào chảy. Vâng, tôi đã nghe đúng những tiếng sông rì rào khi đứng ở bãi soi làng tôi vào một chiều mênh mang nọ. Không biết khi đổ ra biển cả, nó thế nào? Tôi đã lại tự hỏi tôi như thế. Nơi dòng sông Hồng đổ vào biển cả ở của Ba Lạt ở tỉnh Thái Bình, tôi đã từng đến và cảm nhận cái mênh mông vĩ đại của sông và biển. Thì ở Kim Sơn, tôi không chỉ có thể nhìn thấy dòng sông quê mình đang ào ạt chảy, mà còn đi ngang qua dòng chảy mênh mang đó. Từ năm 2019, người ta đã xây dựng một cây cầu vượt biển dài 6km nối đất liền với Cồn Nổi, một hòn đảo rộng 1000 ha vượt qua Cửa Đáy. Người ta cũng cho rằng Cồn Nổi được hình thành do quá trình tương tác giữa dòng chảy mang phù sa của sông Đáy ra biển Đông. Cụ thể, dòng chảy sông đưa phù sa ra khơi bị sóng biển lại đẩy ngược vào trong và tương tác giữa hai quá trình này đã tạo ra Cồn Nổi. Và ngày nay, khu sinh cảnh Bãi Ngang - Cồn Nổi ở Kim Sơn đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng, đồng thời trở thành khu kinh tế ven biển của tỉnh Ninh Bình.
Vậy đó, tôi đã gặp nơi dòng sông quê mình đổ về biển cả, đã thấy những điều khác biệt. Đó là cái mênh mông và trù phú của vùng đất ven biển, nơi con tôm, con hàu, con cá được người ta nuôi kì công thế nào, đặc sản dưa hấu, dưa lê Kim Sơn được trồng ra sao, và ong thì lấy phấn, hút mật hoa sú, vẹt, loài cây ven biển phổ biến ở nơi này để làm mật ngọt.
Nói đến hoa thơm và mật ngọt, tôi nhớ ở nơi bắt đầu sông Đáy, làng Tiến Ân có cây thị ngàn năm tuổi. Năm 2014, cây được VACNE công nhận là Cây Di sản. Đây cũng là cổ mộc đầu tiên ở huyện Chương Mỹ (cũ) của Hà Nội đón nhận danh hiệu này.
Cây thị cổ kính là niềm tự hào của người dân làng Tiến Ân, theo lời họ, thì đây là cây thị có một không hai, quả ngọt và thơm nức tiếng. Một kì quan thiên nhiên, một chứng nhân của ít nhất một ngàn năm lịch sử. Một ngàn năm trước, nơi đây là rừng sâu núi thẳm, dòng sông nguyên thủy đã âm thầm chảy qua những vùng lau sậy um tùm, thì cây thị đã đâm mầm vươn lên thành một cổ mộc ngàn năm, và trong ngàn năm ấy, cái nhựa sống ngọt ngào kết tinh trong từng quả vàng thơm thảo vẫn còn miên miết chảy.
Nơi bắt đầu tên gọi sông Đáy là một bên bờ lở, một bên bờ bồi, nước sông ở khúc này hầu như quanh năm đục, do dòng đục nặng phù sa của sông Tích đổ về. Là một trong 5 con sông dài nhất miền Bắc Việt Nam, trên hành trình đổ ra cửa biển ở Kim Sơn, dòng sông đón nhận các dòng sông lớn khác thuộc lưu vực sông Hồng, và cũng trên hành trình xuôi biển cả, dòng sông có nhiều khúc trong, khúc đục, trôi qua bao bờ bãi lúa ngô. Xưa tôi đã hỏi mẹ tôi về cái tên lạ “sông Đáy” khi thấy nó chảy lững lờ qua những bờ dâu quê ngoại, mẹ tôi bảo gọi tên sông Đáy vì nước sông trong lắm, nhìn thấu được đáy sông. Chẳng phải trong bài thơ của Lai Vu có câu “Sóng xanh như mắt trẻ” đó sao? Tôi cứ thế mà hồn nhiên tin rằng cái tên sông bắt nguồn từ tính chất của nước sông, trong trẻo, hiền hòa ấp ôm làng mạc để rồi người ta thương nhớ mà gọi là sông trăng, sông lụa.
Những dòng sông luôn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của loài người. Lịch sử đã chứng minh rằng những tộc người từ khắp nơi trên thế giới đều nương theo những dòng sông để phân bố dân cư một cách tự nhiên. Các phát hiện khảo cổ cho thấy nền văn minh của loài người luôn bắt đầu bên những dòng sông lớn. Tôi hình dung sự kết nối của đầu nguồn và hạ lưu của sông, nơi tôi đã từng đặt câu hỏi từ những ngày thơ dại. Nơi đó là Bãi Ngang Kim Sơn, nơi gió biển mặn mòi, đất nhiễm mặn và những con sông nhỏ, những con rạch chạy ngang dọc đều mang vị muối, thì ngày nay người ta phát triển những loài quả ngọt nức tiếng: dưa hấu, dưa lê.
Dọc dài sông Đáy, nơi đôi lúc nó là biên giới giữa hai tỉnh Hà Nam (cũ) - Ninh Bình, Ninh Bình - Nam Định (cũ), tôi đến miền đất Kim Hải của Kim Sơn. Kim Sơn – Tiền Hải, những địa danh mà không ít người hiểu đó là biển bạc, núi vàng. Nhiều ý kiến cho rằng Tiền Hải có nghĩa là tiền, dùng để thông thương và trao đổi hàng hóa - biển bạc, để đối xứng với Kim Sơn - núi vàng. Nhưng, theo tôi được biết, “Tiền” trong Tiền Hải là chỉ vị trí, “tiền” là phía trước, bởi Tiền Hải do doanh điền Nguyễn Công Trứ lãnh đạo người dân lấn biển mà thành, tương tự như địa danh Hải Hậu (Nam Định cũ) được hiểu nôm na là miền đất sau biển. Nói đến Nguyễn Công Trứ, tôi nhớ nhà văn Khuất Quang Thụy. Vào một ngày cách đây rất lâu, ông đã “ngồi trên bãi biển Kim Sơn”, nơi có dải đất hai ngàn hecta mà những người lính vừa giành được từ biển cả, đọc lại cuốn sách về sự nghiệp của doanh điền Nguyễn Công Trứ và kể câu chuyện ấy cho một người bạn phương xa.
Đầu năm 2024, nhà văn Khuất Quang Thụy nghỉ hưu ở báo Văn nghệ, khi dọn dẹp phòng làm việc, ông bảo tôi tìm kiếm trong số những cuốn sách của ông, xem cuốn nào thích thì lấy. Tôi đã chọn được tới ba, bốn thùng cacton sách và báo cũ, còn lại những cuốn sách quý và tài liệu cá nhân ông chuyển hết về nhà, số bỏ lại là dành cho “giấy vụn”, “đồng nát”. Thế rồi, tôi phát hiện trong mớ “đồng nát” ấy một số tài liệu cũ của nhà văn, tôi cất đi, mong có ngày tìm kiếm lại, biết đâu thấy được món tài liệu nào quý, và biết đâu học được những kinh nghiệm làm việc của tiền bối trong nghề. Thế hệ các nhà văn lão thành từng làm công tác biên tập, làm báo thường rất chỉn chu và tích lũy nhiều kinh nghiệm. Thế rồi, mãi tới sau khi ông mất, tôi mới có thời gian dành một buổi sáng tìm kiếm trong những mớ tài liệu cũ ấy. Và, tôi thấy bức thư của nhà văn viết cho một người bạn cũ, vô tình thấy cái đoạn ông viết về bãi biển Cồn Thoi, Kim Sơn, Ninh Bình này. Và đặc biệt ông “bình” một cách chân thành về tiền nhân Nguyễn Công Trứ: “Anh đi biển hai chục ngày, trong khi anh em đi trại viết ở Bãi Cháy thì anh một mình đi bãi biển Cồn Thoi, Ninh Bình, nơi bộ đội đang lấn biển. Anh sống ở một trạm canh đê biển, ngay bên mép sóng. Hồi này lực lượng đăng đê của bộ đã rút cả, chỉ còn những người canh đê, làm cói, chăn vịt và nuôi ong trên những bãi sú vẹt. Những người đã bẫy chim biển và đánh tôm. Ngày xưa cụ Nguyễn Công Trứ đã lấn biển ở vùng này, đi nhiều nơi trong vùng Kim Sơn vẫn còn gặp những dấu vết của thời cụ Hi Văn Nguyễn Công Trứ để lại. Cụ là một anh hùng, và là một thi nhân, một kẻ nổi loạn và là một tao nhân mặc khách rất hào hoa phóng túng. Bảy mươi ba tuổi còn yêu, còn lấy một cô đào trẻ, mua một con thuyền lênh đênh thả trên sông đàn hát thi tửu suốt ngày. Chán sông nước lại kéo bầu đoàn thê tử lên chùa Mại, biến nhà chùa thành tửu điếm để khách thơ tới đàn hát, uống rượu và đánh bạc. Nhà chùa kiện lên tận Kinh đô, vua sai Bố chính Hà Tĩnh về xem xét, nhưng vị quan thanh tra này tới chùa liền “nhập cuộc” luôn và thấy cái tao đàn này của cụ Trứ cũng không đến nỗi vô lý lắm nên trước khi ra về còn làm một câu đối tặng cụ: “Sự nghiệp kinh nhân thiên hạ hữu/ phong lưu đáo lão thế gian vô (sự nghiệp làm thiên hạ kinh sợ thì đã từng có, nhưng người đến già còn phong lưu thì chưa từng có)”.
Thời điểm nhà văn viết bức thư cách nay đã rất lâu rồi, hơn bốn mươi năm. Cồn Thoi bây giờ đã là một khu dân cư trù mật, và cái nơi con sông Đáy bắt nguồn từ huyện Phúc Thọ, quê sinh của nhà văn Khuất Quang Thụy đổ ra biển cả đã bồi thêm một hòn đảo nữa, là Cồn Nổi, tất nhiên, quá trình hình thành Cồn Nổi cũng từ rất lâu.
Tháng 6/2024, tôi về Cồn Thoi lần đầu tiên, và đã chạy xe trên con đường đê của xã Kim Hải (nay thuộc xã Bình Minh) ra Cồn Nổi. Dọc đê, tôi giật mình bởi những con ong mật ở đâu bay rộn ràng, va cả vào người đi đường. Thì ra ven đê người ta bày rất nhiều tổ ong. Dạo ấy đương mùa hoa sú, hoa vẹt, loài cây mọc hoang và được trồng chủ động ven bờ biển đang ra hoa, hương thơm nồng nàn bay khắp không gian, và loài ong mà con người nuôi dưỡng đang ân cần mê mải tạo ra thứ mật ngọt của biển trời từ loài hoa ấy.
Đúng vậy, tôi bị “ấn tượng” ngay về mảnh đất này khi thấy dọc các con đê chạy dài ven biển, sú, vẹt mọc tự nhiên và được trồng thành rừng xanh ngát, cây sin sít cây, hoa chen chúc hoa. Khi thủy triều chưa lên, những con còng con cáy dạo trên mặt bùn kiếm ăn, nghe tiếng động cứ cuống cuồng chạy tìm chỗ trốn, nấp sau những gốc cây sú vẹt. Bên trong mặt đê là những ô, những vuông, ruộng nước được người dân đầu tư xây dựng, dẫn nước biển vào để nuôi tôm, nuôi hàu giống và hàu thương phẩm. Bờ vuông, bờ ruộng được trồng nhiều chuối. Trên mặt những tấm bạt lớn che bờ nổi hằn lên dấu vết của muối đã kết tinh. Người ta nói chuối trồng trên đất nhiễm mặn sẽ cho trái mang vị ngọt đậm đà. Tôi nhớ nhiều người có thói quen dùng muối biển để ăn hoa quả, không cứ quả chua, quả ngọt cũng chấm, họ cho rằng vị mặn của muối làm “đậm vị” cho quả ngọt. Có phải thế chăng, mà nhiều năm trở lại đây, Kim Sơn nổi tiếng với đặc sản dưa hấu, dưa lê? Mật ong hoa sú, hoa vẹt phải chăng vì thế mà cũng có vị đậm hơn mật ong lấy từ các loài hoa khác?
Nhiều năm trước tôi đọc bút kí của nhà văn Nguyễn Thành Long về nghề nuôi ong, nhớ ông viết về những người thợ nuôi ong đã táo bạo cho ong ăn phấn hoa sú, hoa vẹt, việc mà trước đó chưa từng ai làm, để rồi có những mùa mật ngọt. Đến nay, người ta cho rằng mật ong hoa sú vẹt là loại mật ong duy nhất được khai thác từ những loài cây mọc ven biển. Mật này có màu vàng nhạt, rất thơm. Cây sú vẹt mọc ở ven biển, ít bị tác động bởi con người nên mật ong rất sạch. Mùa ong lấy phấn từ hoa sú, hoa vẹt diễn ra từ tháng 4 đến tháng 8 hằng năm. Mỗi năm, người ta ước tính có hàng ngàn đàn ong của những người nuôi ong cả nước tìm về miền hoa biển này để ong tìm phấn hoa tạo mật. Có những đàn ong suốt quanh năm rong ruổi khắp ba miền đất nước để tiếp cận những mùa hoa mới. Có thể cuộc đời một con ong không đi hết được những mùa hoa trên đất Việt, nhưng đặc tính ân cần chăm chỉ và kỉ luật của chúng lại truyền cho thế hệ sau, tiếp nối và kết nối những mùa hoa đất nước.
Vậy là miền đất ven biển Kim Sơn lại sắp rộn ràng mùa ong đi lấy phấn hoa tạo mật. Từ thượng nguồn của dòng sông Đáy, âm vang của trống cờ lễ hội mùa xuân, nơi lòng người luôn hướng về tổ tiên anh hùng bất khuất như Hai Bà Trưng vẫn còn vang vọng, thì ở nơi cửa Đáy, nhịp sống cũng tiếp tục rộn ràng. Phù sa thượng nguồn ngày nối ngày cứ cuồn cuộn đổ về biển cả, để rồi âm thầm bồi lắng thành những miền nổi mới, để rồi từ những miền đất ấy, mật ngọt từ hoa, từ quả mỗi ngày lại thêm trù phú.