Sáng tác

Sức mạnh của dĩa cơm. Truyện ngắn của Ifeoma Okoye

Ifeoma Okoye
Văn học nước ngoài 08:56 | 26/06/2026
Baovannghe.vn- Má tôi là nhà triết học trong nhiều chuyện. Bà mất trước khi tôi có thể trả hiếu cho những hy sinh mà bà dành cho tôi. Bà đã từ chối sự an nhàn để tôi được học hành, đã gánh lấy gánh nặng tài chính cho cả nhà trong thời gian ba tôi bệnh tật dai dẳng và sau khi ông phải chết trẻ.
aa
Ifeoma Okoye là nhà văn người Nigeria, bà học đại học và cao học tại Đại học Nigeria và ở Birmingham (Anh). Bà là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng viết cho trẻ em và từng giành Giải thưởng văn học dành cho trẻ em Macmillan. Bà cũng in nhiều tiểu thuyết và được trao giải của Hiệp hội các tác giả có truyện hay nhất Nigeria.

Tôi vừa thở hổn hển vừa giận dữ bước nhanh tới văn phòng của ông Aziza. Mặt trời tháng giêng chiếu gay gắt. Khi đi đến văn phòng ở cuối dãy nhà của những người quản lý, tôi nhớ tới một trong các câu châm ngôn của má tôi: “Đừng làm gì khi giận dữ. Hãy chờ tới khi nỗi giận dữ của con tan biến như cục dầu cọ được đặt dưới ánh nắng.” Má tôi là nhà triết học trong nhiều chuyện. Bà mất trước khi tôi có thể trả hiếu cho những hy sinh mà bà dành cho tôi. Bà đã từ chối sự an nhàn để tôi được học hành, đã gánh lấy gánh nặng tài chính cho cả nhà trong thời gian ba tôi bệnh tật dai dẳng và sau khi ông phải chết trẻ. Vì nhớ tới lời má, tôi đứng cạnh cửa văn phòng của ông Aziza vài giây để cố gắng làm nguôi giận nhưng thất bại tồi tệ. Trong trường hợp của tôi, chỉ có thiên thần hoặc kẻ ngu xuẩn mới giữ im lặng.

Sức mạnh của dĩa cơm. Truyện ngắn của Ifeoma Okoye
Minh họa Lê Anh Vân

Cuối cùng, tôi gõ cánh cửa màu xanh có nhiều chỗ lốm đốm.

“Mời vào!”

Cái giọng quyền uy của ông Aziza tấn công tôi như một cú đấm, làm tôi giật mình. Tôi mở cửa và bước vào, nỗi giận dữ vẫn cháy âm ỉ.

Ông Aziza, hiệu trưởng của trường trung học cơ sở nơi tôi đang dạy, ngồi phía sau một cái bàn có kích cỡ trung bình làm bằng gỗ trắng rẻ tiền và được đánh một lớp vani dày. Sách, hồ sơ, các khay đựng thư từ và các tờ giấy rời khác tranh nhau giành chỗ trên bàn. Ông ta ngẩng cái đầu hình trái dừa lên, đóng tập hồ sơ đang đọc lại, giở cặp kính gọng nhựa ra và nhìn tôi chăm chăm.

“Hừ, chị Cheta Adu. Chị cần gì?” Giọng ông ta gây gổ còn vẻ mặt với sống mũi thô lậu thì đầy dọa dẫm.

Tôi hít vào thật sâu. “Thưa anh, tài vụ của trường nói là anh yêu cầu giữ lại tiền lương của tôi.”

Chúng tôi được trả lương không đúng hạn kỳ. Dù giờ là cuối tháng giêng nhưng lương đang được nói tới là lương của tháng mười năm ngoái. Đã bốn tháng không lương nhưng chúng tôi vẫn phải đi làm đều đặn.

“Ừ, tôi có nói thế, chị Chita Adu.” Đôi mắt ti hí của ông Aziza nhìn tôi như một thứ vũ khí chết người. Như một giáo viên đã nói, ông ta làm con mồi của mình tê liệt bằng đôi mắt đó trước khi giáng cho nó một cú đấm chí mạng.

“Thưa anh, tôi đã làm gì nào?” tôi hỏi, cố mỉa mai nhấn giọng chữ thưa anh để cho thấy tôi đang nghĩ gì bên trong.

Ông Aziza lấy tay sờ chiếc mũi hình củ - phần của cái thân thể đã trở thành cái đích để các giáo viên đùa cợt. Ai cũng biết ông ta thích ăn uống hơn là thích những thứ khác và một nữ giáo viên từng nói hầu hết những thứ ông ta ăn đi vào trong bằng đường mũi.

“Tuần vừa rồi chị bỏ dạy bốn ngày mà không xin phép”, ông Aziza cuối cùng tuyên bố.

Cơn giận của tôi vài phút trước giảm xuống ở mức âm ỉ giờ bỗng bắt đầu bùng lên sùng sục như xoong xúp ogbono đặt trên lửa hồng.

Tôi gắng nói trầm tĩnh như có thể. “Thưa anh, bốn ngày đó em suýt mất một đứa con. Em đã trình bày điều đó với anh. Con em bỗng nhiên bị bệnh rất nặng. Em phải đưa nó đi bệnh viện. Anh ạ, nó phải vật lộn để giành sự sống trong bốn ngày đó.”

“Rồi sao nữa?” ông Aziza nghiêm giọng nói.

Có ai đó gõ cửa và khi quay đầu ra tôi thấy khuôn mặt râu ria của ông phó hiệu trưởng thứ hai. Ông ta đang mở cửa. “Tôi sẽ trở lại”, cái môi mỏng và cái miệng rậm râu nói và biến mất. Sự xuất hiện của khuôn mặt đầy râu giống như một cảnh hài hước trong bi kịch của Shakespeare.

Tôi quay lại phía ông Aziza và để trả lời câu chất vấn của ông ta, tôi nhắc lại rằng tôi đã nhờ người ta nói giùm với ông ta là tôi phải đưa con đi bệnh viện.

“Chị nhắn lời sau khi đã bỏ dạy bốn ngày,” ông Aziza phàn nàn.

“Dạ. Nhưng con em lúc đó đang trong tình trạng rất nguy hiểm, em bối rối không viết được giấy phép. Em nghĩ chắc anh hiểu.”

“Chị có thèm nghĩ tới chuyện liệu bạn chị có nói lại gì với tôi hay không?”

“Cô ấy nói đã nhắn lại với anh một ngày sau khi tôi nhờ. Khi cô ấy gọi lần thứ nhất, anh không có ở văn phòng, rồi cô ấy quên mất tiêu vào ngày tiếp theo. Em xin lỗi vì sự chậm trễ đó.”

Ông Aziza mở một tập hồ sơ và lật nhanh các trang. “Chị sẽ nhận được lương vào cuối tháng hai,” ông ta nói.

Tôi há hốc miệng: “Anh muốn nói là em phải chờ cho đến cuối tháng hai mới được nhận lương sao?”

“Đúng vậy.”

“Nghĩa là năm tháng trời không có lương!”

“Tôi không quan tâm tới sự tính toán của chị.”

Ông Aziza nổi tiếng vì luôn trừng trị giáo viên bằng cách giữ lương của họ lại. Nhưng tôi biết ông ta chưa bao giờ giữ lại lương của bất cứ giáo viên nào quá hai tuần. Ông ta luôn nghĩ, nói và hành động như thế để thể hiện sự “chiếu cố” đối với giáo viên, dù trường chúng tôi là trường công, thuộc quyền quản lý của nhà nước, được nhà nước tài trợ.

“Em làm thế nào để có cái cho các con em ăn đây anh?” tôi hỏi.

“Đó là chuyện của chị, không phải của tôi,” ông Aziza đáp.

Tôi từ chối thôi không nghĩ về việc đó nữa. Theo kinh nghiệm của người làm công ăn lương có thu nhập thấp và trung bình ở nước tôi thì tháng Giêng là tháng dài nhất. Sau những chi tiêu bắt buộc và khổng lồ, vô tội vạ cho giáng sinh và năm mới, người sống bằng lương còn lại rất ít tiền trong phần còn lại của tháng giêng. Đối với những ai có con đi học, phải đóng học phí, mua sách bút, đồng phục cho năm học mới thì tình cảnh thường là ác mộng. Năm nay, tình hình thật tồi tệ cho tôi và tất cả các giáo viên khác trong trường do lần cuối chúng tôi được chi lương là vào tháng mười một năm ngoái.

“Em góa bụa, anh ạ,” tôi van nài ông Aziza. “Em là trụ cột duy nhất trong nhà. Thời buổi lại khó khăn. Các con em không thể sống sót đến hết tháng hai nếu em không có lương.”

Ông Aziza nói, “Tôi không cần biết, chị Cheta Adu. Tôi đã có quyết định cuối cùng.”

Ông ta lấy tay kéo hai ống quần lên và đứng dậy, bước tới chiếc cửa sổ bên phải và dòm ra ngoài, ông ta nhỏ con và gầy, là loại người mà má tôi thường nhắc tôi phải cảnh giác.

Tôi bất lực đứng nhìn ông ta, một kẻ không biết linh động. Kinh nghiệm từ các đồng nghiệp cho thấy, nếu tôi đưa vụ việc của mình lên Cục quản lý các trường công thì cũng vô ích vì ông Aziza đã lấy lòng hết các viên chức cao cấp và quyền lực ở đó. Với tư cách là hiệu trưởng của một trường công sáng chói trong nước, ông ta đã giúp nhận con cái họ vào trường mình, kể cả những đứa hư hỏng, không qua nổi kỳ thi tuyển. Tôi cũng hiểu rằng đưa ông ta ra tòa là không thể được. Tôi lấy đâu ra tiền để thuê luật sư? Ngoài ra, các vụ kiện dân sự thường kéo dài hàng tháng hoặc hàng năm do người ta nghĩ chúng không cần thiết hoặc do bị hoãn một cách có chủ tâm.

Ông Aziza đi trở lại ghế và ngồi xuống.

Tôi nhìn chăm chăm vào ông ta, không nói một lời rồi bỏ đi. Ngồi trên taxi trở về nhà, tôi chẳng nghĩ gì khác, ngoài nghĩ về ông Aziza. Đây là lần thứ hai tôi phải van nài ông ta. Lần thứ nhất là cách đây năm năm khi tôi chuyển đến trường ông ta từ một trường trung học cơ sở ở Onitsha, nơi tôi dạy trước khi có chồng. Lúc ấy, vừa đọc xong lá thư điều chuyển mà tôi phải tự tay trao cho ông ta, ông ta quẳng nó vào mặt tôi và tuyên bố, “Tôi không cần nữ giáo viên trong trường tôi, nhất là người đã có gia đình.”

“Thì tụi em đã làm gì chứ?” tôi muốn biết.

“Các chị là một lũ lười biếng”, ông ta nói. “Các chị luôn tìm cách bỏ tiết. Hôm nay thì nói có con bị bệnh phải đưa đi bệnh viện, hôm sau thì nói có đám tang của một người họ hàng.”

Khi ông ta chính thức từ chối không nhận tôi, tôi dùng đến một chiến thuật đã từng thành công trước đó. Tôi gọi đến văn phòng ông ta hằng ngày mà thường là không nói gì, gọi cho đến khi ông ta chán nản và buộc phải nhận tôi. Tuy nhiên lần này tôi có cảm giác là ông ta sẽ không bị lay chuyển dù cho tôi có làm bất cứ điều gì.

Khi trở về nhà lúc hơn 5 giờ chiều, tôi thấy mẹ chồng tôi đang địu con trai Rapulu hai tuổi của tôi trên lưng đi tới đi lui trước căn hộ, còn con trai bốn tuổi Dulue thì lê theo sau.

“Con về trễ quá vậy Cheta”, mẹ chồng tôi nói. “Má nghĩ con sẽ không về.” Bà nhìn lo lắng và mệt mỏi.

“Xin lỗi má, con có chuyện ở trường. Tôi bước về phía bà sau khi đã ôm hôn thằng Dulue lúc nó ào tới tôi. “Thằng Rapulu có khỏe không má?” tôi hỏi.

“Nó bị bệnh.”

Tôi lấy mu bàn tay đặt lên trán đứa con trai nhỏ nhất. Đầu nó rất nóng.

“Đừng bệnh nữa nghe Rapulu”, tôi vừa nói vừa thở dốc. Tôi nói to, “Nó bắt đầu sốt từ bao giờ vậy má?”

“Sau khi con đi tới trường sáng nay một chút.” Mẹ chồng tôi đáp.

Tôi giúp gỡ Rapulu ra khỏi lưng bà và bồng nó vào nhà. Dulue lẽo đẽo theo sau. Tôi cởi hết áo quần của Rapulu ra, lấy một chén nước lạnh và khăn rồi bắt đầu chườm mát cho nó. Nó vùng vằng nhưng tôi không quan tâm. Dulue lấy ngón tay cái đút vào miệng, lẩm nhẩm nói rằng nó đói bụng trong khi má chồng tôi đứng thẫn thờ nhìn tôi.

Lúc đó, tôi nhớ ra là tôi phải cho Rapulu uống thuốc hạ sốt. Tôi chạy vào phòng ngủ duy nhất của căn hộ và lấy ra một cái chai nhỏ. Ẵm Rapulu trên cánh tay, tôi cho nó uống một muỗng thuốc vừa ngọt vừa đắng rồi tiếp tục chườm mát cho nó.

Mẹ chồng tôi thờ thẫn. Tội nghiệp bà quá. Chắc bà đã có một ngày nhọc nhằn. Bà cũng là một bà góa phụ. Tôi mời bà về để phụ giúp giữ con cho tôi. Cảm ơn bà, tôi sẽ ra sao nếu bà từ chối lời mời? Một lý do nữa làm tôi mời bà là để tiết kiệm chi phí. Hằng tháng, tôi thường gởi tiền cho bà để phụ thêm vào khoản thu nhập ít ỏi từ vườn tược của bà.

Chúng tôi ăn tối trễ, với khoai lang và dầu cọ. Đó là những củ khoai cuối cùng còn lại trong nhà. Tôi bỏ bữa trưa vì muốn chắc rằng xúp garri và eguei tôi để dành sẽ đủ dùng cho hai đêm tới.

Đêm ấy thật dài. Tôi trằn trọc vì sợ Rapulu sẽ sốt nặng hơn nhưng thật may mắn, sốt đã hết. Sau đó, tôi hồi nhớ lại những gì đã qua từ khi chồng tôi là Adam, con trai duy nhất của mẹ chồng tôi, mất trong một vụ tai nạn xe máy hơn một năm trước. Ảnh là một nhân viên ngân hàng chói sáng. Chúng tôi học chung ở một trường đại học. Ảnh học ngân hàng còn tôi thì học toán. Thật may mắn, chúng tôi được phái đến cùng một bang khi tham gia một hoạt động thiện nguyện. Chúng tôi đính hôn khi hết thời gian ấy rồi kết hôn không lâu sau đó. Ảnh mất nửa tháng sau kỷ niệm năm năm ngày cưới và từ đó, cuộc sống của tôi là một hành trình vô tận trên miền đất của thách thức và trở ngại. Dưới những áp lực lớn, tôi dùng hết tiền bạc dành dụm để làm cho ảnh một đám tang đình đám mà dòng họ của tôi và ảnh mong muốn, dù biết đó là sự hoang phí vô lý về tiền bạc.

Trong phần còn lại của đêm, tôi lo lắng, không biết lấy đâu ra tiền để trả các khoản phí tháng giêng, để nuôi hai con và mẹ chồng và tôi sẽ làm gì đây nếu ngộ nhỡ Rapulu bị bệnh nặng tới mức phải đưa đi viện. Tôi đã mắc nợ hai người bạn tiền bạc và không muốn thấy mình phải vác mặt tới nhà chúng lần nữa.

Tôi lại mượn tiền và cố xoay xở nuôi sống cả nhà trong hai tuần dài nhưng riêng tôi có khi phải nhịn đói. Tôi trở nên cáu bẩn và học sinh phàn nàn rằng tôi quá khó đối với chúng. Bản tính hiền hòa của mẹ chồng tôi cũng thay đổi. Bà hay tự ái và khó chịu với tôi. Hai con trai tôi cũng trở nên cáu bẳn, hầu như lúc nào cũng khóc. Rồi tôi chẳng còn tiền và không ai cho tôi mượn nữa. Tôi đã tới mức phải làm điều gì đó quyết liệt, nếu không, hai con tôi sẽ chết đói.

Sau giờ dạy của ngày 23 tháng hai, tôi đến văn phòng của ông Aziza và van nài ông chi lương cho tôi.

“Chị làm mất thời gian của chị, chị Cheta Adu à”, ông ta nói. “Tôi sẽ không bao giờ thay đổi ý kiến. Chị sẽ không được nhận lương vào ngày 28 tháng hai hay sớm hơn.”

Tôi đi ra và đợi ông ta ở phòng ngoài. Lúc 4 giờ, ông ta rời văn phòng. Tôi đi theo ông ta về nhà ông ta. Đó là một căn nhà nằm gần cổng chính của trường. Ông ta quay lại hỏi tại sao tôi đi theo. Tôi không nói gì. Ông ta mở cửa và bước vào. Tôi cũng lặng lẽ theo vào phòng khách, ngồi xuống mà không đợi ai mời. Căn phòng được trang bị đơn giản. Một chiếc tivi trắng đen nằm trên đầu một cái kệ, cạnh đó là chiếc radio. Cạnh kệ sách là một cái bàn ăn nhỏ và một chiếc ghế bằng thép màu đen.

Ông Aziza sống một mình. Vợ và sáu đứa con của ông ta sống ở Onitsha, cách đây một trăm hai mươi kilomet.

Ông Aziza quay mặt nhìn tôi. “Này chị Adu, chị theo tôi như một con chó nhưng sẽ chẳng kiếm được gì. Chị có thể ở lại đây muôn kiếp nhưng tôi sẽ không thay đổi ý kiến.” Ông tiến qua một khung cửa phía bên phải.

Giờ thì thằng bé giúp việc đi vào phòng và bắt đầu dọn cơm. Mùi cơm thơm nhứ nhứ vào mũi tôi, làm tôi thấy đói cồn cào, dù đã phải đè nén cơn đói bằng sự giận dữ, bất bình và sự liều lĩnh. Thằng bé dọn cơm lên xong và biến mất.

Do bị thúc giục bằng một cơn xung động, tôi bước tới bàn ăn và ngồi xuống ghế. Tôi giở nắp dĩa cơm ra và nhìn chăm chăm vào dĩa cơm gạo thơm hấp dẫn. Sau đó, tôi chụp lấy cái muỗng cạnh cái dĩa và bắt đầu ngoạm. Tôi ăn ào ào, không chỉ vì thấy đã mà còn vì ăn cho bõ ghét.

Tôi nghe tiếng cánh cửa kêu cọt kẹt và quay lại thì thấy ông Aziza đang bước vào. Ông ta há hốc miệng, chưng hửng nhìn tôi.

“Chị nghĩ chị đang làm gì đó, chị Cheta Adu?” ông ta quát lên sau vài giây á khẩu. Sự ngỡ ngàng hiện rõ trên mặt ông ta.

Tôi không màng tới câu hỏi và tiếp tục ăn. Tôi xúc một miếng thịt to và một muỗng cơm đầy đưa vào miệng, hai má phồng ra.

Ông Aziza sấn tới bàn ăn, lấy tay phải giật cái muỗng còn tay trái thì giật dĩa cơm. Dĩa cơm giờ gần như đã sạch bách. Tôi nhổm người lên khỏi ghế, lùi lại một chút vì nghĩ là ông ấy sẽ bốp tôi.

Ông ta áp mặt sát mặt tôi, hai mắt trợn trắng. “Đi ra khỏi nhà tôi, đi ra khỏi nhà tôi ngay!”

“Chỉ khi nào tôi được nhận lương”, tôi bình tĩnh nói. Sự liều lĩnh đã cho tôi sức mạnh chưa hề có trước đó. “Tôi sẽ đợi tới bữa ăn khuya.”

Ông Aziza gào lên “Đi ra. Đi gặp tài vụ. Nói với nó tôi đã đồng ý chi lương.”

Tôi bình thản nói, “Ảnh sẽ không tin tôi. Tại sao không trao tôi một miếng giấy có ghi vài chữ.”

Ông ta viết nguệch ngoạc vài dòng lên một tờ giấy rồi quẳng cho tôi và tôi chụp nó. Gượng cười, tôi nói, “Cảm ơn anh” và đi ra, rệu rạo nhai mẩu thịt còn lại trong miệng.

Trần Ngọc Hồ Trường

Dịch từ An African quilt,

Signet Classics, 2013

90 trung tâm thương mại Vincom đồng loạt bùng nổ lễ hội mua sắm red sale 2026 ưu đãi khủng 70%

90 trung tâm thương mại Vincom đồng loạt bùng nổ lễ hội mua sắm red sale 2026 ưu đãi khủng 70%

Baovannghe.vn - Từ ngày 25/6 đến 20/7, Vincom Red Sale 2026 sẽ đồng loạt diễn ra tại 90 trung tâm thương mại Vincom trên toàn quốc. Chương trình quy tụ hàng trăm thương hiệu với ưu đãi lên tới 70%. Đây cũng là lần đầu tiên Vincom triển khai chuỗi hoạt động kết hợp livestream O2O và trải nghiệm mua sắm trực tiếp.
Nỗi lo từ chiếc điện thoại trên tay trẻ em

Nỗi lo từ chiếc điện thoại trên tay trẻ em

Baovannghe.vn - Nhiều năm qua, xã hội thường nói về công nghệ với sự lạc quan. Internet mở ra kho tri thức khổng lồ, giúp trẻ học ngoại ngữ, tìm kiếm thông tin, kết nối bạn bè, tiếp cận các kỹ năng mới. Điều đó đúng, nhưng mặt trái cũng đang lộ rõ, mạng xã hội không chủ yếu nhằm giáo dục trẻ em mà được thiết kế để giữ chân người dùng càng lâu càng tốt.
Đồng chí Bùi Quang Huy tái đắc cử Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Đồng chí Bùi Quang Huy tái đắc cử Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Baovannghe.vn - Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiếp tục tín nhiệm bầu đồng chí Bùi Quang Huy là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2026-2031.
Đôi nét về du kí Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX

Đôi nét về du kí Tây Nguyên nửa đầu thế kỉ XX

Baovannghe.vn - Cho đến nay, qua hơn phần tư thế kỉ sưu tầm các nguồn sách báo giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, chúng tôi đã có được hàng trăm trang du kí viết về cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên thuộc địa bàn vùng tây nam Trung bộ gồm 4 tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng, Quảng Ngãi (trước sáp nhập (7/2025) gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng).
Sông gọi (trích). Truyện của Hoàng Hạc

Sông gọi (trích). Truyện của Hoàng Hạc

Baovannghe.vn... Một mùa cam nữa qua đi. Suốt từ Thác Bà lên Lục Yên Châu, trong các làng bản, đường đi lối lại cỏ đã lan ra khá rậm. Khá nhiều cánh đồng đã bỏ.