Diễn đàn lý luận

Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Nam bộ đầu thế kỉ XXI

Nguyễn Bùi Thiện Nhân
Lý luận phê bình 08:19 | 04/10/2026
Baovannghe.vn- Tiểu thuyết nữ Nam bộ viết về vấn đề gia đình đầu thế kỉ XXI không tô hồng hiện thực mà nhìn thẳng vào sự rạn nứt bằng cái nhìn tỉnh táo, đôi khi đến mức tàn nhẫn.
aa

Sự đứt gãy này không chỉ diễn ra ồn ào trên bề mặt các sự kiện (li hôn, ngoại tình, tranh chấp tài sản, con cái) mà thấm sâu vào từng mối quan hệ cốt tử nhất, làm biến dạng các vai trò xã hội truyền thống, tạo nên một bức tranh gia đình đầy ám ảnh và day dứt.

Trong dòng chảy chung văn học đương đại, tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam bộ nổi lên như một hiện tượng văn học đặc sắc, một “cấu trúc có nghĩa” đầy ám ảnh và sức lay động. Với sự nhạy cảm giới tính đặc biệt và vốn sống thực tế phong phú, các tác giả như Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư, Bích Ngân, Lý Lan, Trầm Hương, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Thị Diệp Mai... đã kiến tạo nên những thế giới nghệ thuật đa diện, nơi “vấn đề gia đình” trở thành tâm điểm của sự trăn trở, day dứt khôn nguôi. Khác với cảm hứng sử thi hào hùng tập trung vào vận mệnh dân tộc của giai đoạn chiến tranh (1945-1975) hay cảm hứng thế sự xã hội khái quát của giai đoạn đầu Đổi mới (sau 1986), các cây bút nữ đương đại đi sâu vào những vỉa tầng khuất lấp của đời sống, khai thác những góc khuất tâm lí, nơi những “vết nứt” nhỏ nhất của gia đình trở thành ẩn dụ xác đáng cho những chấn thương lớn lao của xã hội Nam bộ thời mở cửa. Bài viết này, dựa trên nền tảng lí thuyết xã hội học văn học, tập trung phân tích mô hình gia đình và các phương thức nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyết nữ Nam bộ đầu thế kỉ XXI để nhận diện sự vận động của tâm thức xã hội và thân phận con người trong bối cảnh mới.

Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Nam bộ đầu thế kỉ XXI
Một số tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam bộ xuất bản đầu thế kỉ XXI.

Tiểu thuyết nữ Nam bộ viết về vấn đề gia đình đầu thế kỉ XXI không tô hồng hiện thực mà nhìn thẳng vào sự rạn nứt bằng cái nhìn tỉnh táo, đôi khi đến mức tàn nhẫn. Sự đứt gãy này không chỉ diễn ra ồn ào trên bề mặt các sự kiện (li hôn, ngoại tình, tranh chấp tài sản, con cái) mà thấm sâu vào từng mối quan hệ cốt tử nhất, làm biến dạng các vai trò xã hội truyền thống, tạo nên một bức tranh gia đình đầy ám ảnh và day dứt.

Giải thiêng vai trò người “trụ cột”

Trong mô hình gia đình phong kiến Nho giáo hay gia đình nông nghiệp truyền thống Việt Nam, người cha/người chồng được định vị là “nóc nhà”, là “trụ cột”, biểu tượng của lề luật, của quyền uy tuyệt đối và sự che chở. Tuy nhiên, khảo sát hàng loạt tác phẩm của các nhà văn nữ Nam bộ, chúng ta nhận thấy hình tượng này đang trải qua một quá trình “giải thiêng” triệt để và đau đớn. Các nhà văn nữ đã dũng cảm bóc tách lớp vỏ uy quyền, gạt bỏ những hào quang giả tạo để lộ ra những sự thật trần trụi về nam giới trong thời đại mới.

Thứ nhất, đó là sự xuất hiện phổ biến đến mức trở thành một ám ảnh nghệ thuật của motif “người cha vắng bóng”. Trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư như Sông hay Biên sử nước, những người đàn ông thường xuyên ở trong trạng thái vắng mặt, trôi dạt. Sự vắng mặt này có thể là sự biến mất vật lí (bỏ đi biền biệt, đi làm ăn xa, chết đuối, mất tích trong chiến tranh hoặc những cuộc mưu sinh) hoặc đáng sợ hơn là sự vắng mặt về tinh thần (hiện diện bằng xương bằng thịt nhưng vô hình, câm lặng, vô cảm, rút lui vào thế giới riêng). Nhân vật Ân trong Sông thực hiện hành trình dọc sông Di ngỡ như để quên đi người tình cũ, nhưng sâu thẳm trong vô thức là hành trình tìm kiếm hình bóng người cha đã mất tích. Sự vắng bóng của người cha - biểu tượng của trật tự và định hướng - dẫn đến sự mất cân bằng nghiêm trọng trong cấu trúc tâm lí của thế hệ sau, khiến những đứa con lớn lên với cảm giác chông chênh, thiếu điểm tựa, luôn hoài nghi về nguồn cội và bản sắc, dẫn đến hội chứng “mồ côi văn hóa” ngay trong chính gia đình mình.

Thứ hai, bi kịch hơn cả sự vắng mặt là sự “bất lực” và tha hóa của người đàn ông ngay trong chính ngôi nhà của họ. Tiểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân là một ví dụ điển hình và sắc sảo cho sự sụp đổ của hình tượng người đàn ông gia trưởng. Nhân vật Tuyên - người chồng - hiện lên như một điển hình cho mẫu đàn ông bước ra từ chiến tranh nhưng thất bại thảm hại trong hòa bình. Anh ta mang theo những hào quang quá khứ để áp đặt quyền uy lên vợ con, nhưng thực chất bên trong lại là sự yếu đuối, tự ti và đầy mặc cảm trước sự thành đạt và mạnh mẽ của người vợ (Mỹ Tiệp). Chi tiết Tuyên xé bỏ những trang viết của Tiệp hay cấm đoán cô giao du với bạn bè văn chương không đơn thuần là sự ghen tuông nam nữ tầm thường, mà là nỗi sợ hãi hiện sinh của một kẻ đang mất dần quyền kiểm soát “diễn ngôn” trong gia đình. Sự bất lực trong việc khẳng định vị thế xã hội (thất nghiệp, không bắt kịp thời cuộc, tư duy bao cấp trì trệ) đã khiến Tuyên quay sang bạo hành tinh thần vợ con như một cách để vớt vát chút quyền lực nam nhi còn sót lại. Ngôi nhà, thay vì là tổ ấm, đã trở thành “địa ngục trần gian” của những tra tấn tâm lí, nơi người đàn ông hiện nguyên hình là một kẻ hèn nhát núp bóng truyền thống để che đậy sự thất bại của cá nhân.

Trong tiểu thuyết Hoa Trân của dòng họ của Nguyễn Thị Diệp Mai, sự “giải thiêng” này diễn ra ở một cấp độ khác: sự sụp đổ của quyền uy dòng tộc - nơi vốn được xem là thành trì vững chắc nhất của chế độ phụ quyền Nam bộ. Những người đàn ông trong dòng họ danh gia vọng tộc này hiện lên không phải như những trụ cột chấn hưng gia tộc, mà là những kẻ thủ cựu, bám víu vào hào quang quá khứ, hoặc sa vào những toan tính tầm thường. Họ áp đặt những luật lệ hà khắc lên người phụ nữ (như nhân vật Hoa Trân) nhân danh “nề nếp gia phong”, bắt cô phải hi sinh hạnh phúc cá nhân để giữ gìn danh dự ảo, nhưng thực chất đó chỉ là lớp vỏ rỗng tuếch che đậy sự suy đồi bên trong. Sự bất lực của người đàn ông ở đây chính là sự bất lực của cả một hệ tư tưởng phong kiến già nua trước cơn bão táp của thời đại mới. Tương tự, ở Thế giới xô lệch của Bích Ngân hay Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan, những người đàn ông đô thị hiện lên với vẻ ngoài hào nhoáng, thành đạt nhưng bên trong rỗng tuếch. Họ bị cuốn vào dòng xoáy của đồng tiền, của những cuộc vui bên ngoài, bỏ mặc trách nhiệm làm chồng, làm cha. Hình ảnh người đàn ông trong văn học nữ Nam bộ, từ góc độ xã hội học, phản ánh cuộc “khủng hoảng nam tính” trong xã hội Việt Nam đương đại. Khi cơ sở kinh tế thay đổi, người phụ nữ tham gia sâu rộng vào hoạt động xã hội và kinh tế, vị thế độc tôn của người đàn ông bị lung lay. Sự phản kháng tiêu cực của họ (ngoại tình, bạo hành, bỏ đi) chính là phản ứng tự vệ yếu ớt trước sự sụp đổ tất yếu của chế độ phụ quyền.

Xung đột thế hệ và sự đứt gãy trong giao tiếp

Gia đình truyền thống vận hành trơn tru nhờ sự tiếp nối và trao truyền kinh nghiệm từ thế hệ trước sang thế hệ sau (cơ chế “tre già măng mọc”). Tuy nhiên, trong tiểu thuyết nữ Nam bộ, “kênh” giao tiếp này dường như bị tắc nghẽn, tạo nên những đứt gãy thế hệ sâu sắc, phản ánh sự phân hóa dữ dội về lối sống và hệ giá trị.

Trong Lần đầu thấy trăng của Võ Diệu Thanh, sự va đập giữa các thế hệ được đẩy lên thành những xung đột về quan niệm hạnh phúc. Người mẹ trong tác phẩm, đại diện cho thế hệ cũ, luôn mong muốn con gái mình có một bến đỗ an toàn theo chuẩn mực làng xã, ổn định và tuân thủ đạo đức truyền thống. Nhưng người con gái lại khao khát một tình yêu tự do, vượt thoát khỏi những định kiến hẹp hòi, chấp nhận rủi ro để được sống thật với cảm xúc. Khoảng cách thế hệ ở đây không chỉ là sự khác biệt tuổi tác, mà là sự đối đầu giữa hai hệ tư tưởng: tư duy sở hữu, an phận và tư duy giải phóng, dấn thân. Thế hệ trước (ông bà, cha mẹ, họ hàng…) thường áp đặt lên thế hệ sau những khuôn mẫu đạo đức cũ kĩ như một cách để bảo vệ chúng, nhưng vô tình lại tạo ra những chiếc lồng giam hãm ngột ngạt. Ngược lại, người trẻ - những công dân của thời đại kĩ thuật số và văn hóa đại chúng - khao khát khẳng định cái tôi và quyền tự quyết.

Sự xung đột này cũng được thể hiện day dứt và đầy kịch tính trong Hoa Trân của dòng họ. Nhân vật Hoa Trân bị kẹt giữa hai thế giới: một bên là trách nhiệm nặng nề với dòng họ, với những di huấn của tổ tiên mà thế hệ trước (ông, cha) áp đặt như một gánh nặng thần thánh không thể chối bỏ; một bên là khát vọng được sống cuộc đời của chính mình, được yêu thương và tự do như những người phụ nữ hiện đại khác. Mâu thuẫn giữa việc “giữ gìn” (bảo thủ) và “phá bỏ” (cách tân) không chỉ là câu chuyện riêng của cá nhân Hoa Trân mà là bi kịch phổ biến của thế hệ trẻ Nam bộ khi đứng trước ngã rẽ của truyền thống và hiện đại. Họ muốn bay lên nhưng đôi chân vẫn bị cột chặt vào gốc rễ gia tộc.

Bi kịch nằm ở chỗ các thành viên trong gia đình mất đi khả năng đối thoại. Những bữa cơm chung vốn để duy trì sự gắn kết trong tiểu thuyết thường trở nên thưa thớt, nguội lạnh hoặc trở thành nơi chịu đựng sự im lặng nặng nề. Trong Sông của Nguyễn Ngọc Tư, sự giao tiếp giữa các nhân vật đạt đến độ “âm tính”. Họ nói chuyện với nhau nhưng không ai thực sự lắng nghe, hoặc họ chọn cách im lặng để trốn tránh thực tại. Các nhân vật dường như chỉ độc thoại nội tâm chứ không thể chia sẻ cùng người thân. Họ sống cạnh nhau nhưng cô đơn tuyệt đối trong thế giới riêng của mình. Sự “mất ngôn ngữ” trong gia đình là chỉ dấu xã hội học rõ ràng nhất cho sự lỏng lẻo của các liên kết xã hội: Khi tế bào xã hội không thể giao tiếp nội bộ, cơ thể xã hội cũng rơi vào trạng thái phân rã, thiếu đồng thuận và đầy rẫy những hiểu lầm tai hại.

Sự xâm nhập của yếu tố kinh tế và nguy cơ thực dụng hóa

Dưới góc nhìn xã hội học, một trong những khía cạnh quan trọng khác mà tiểu thuyết nữ Nam bộ phơi bày, là sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường lên đạo đức gia đình. Theo lí thuyết của Georg Lukács và sau này là Lucien Goldmann, trong xã hội tư bản chủ nghĩa hoặc xã hội đang chuyển đổi sang thị trường, mọi mối quan hệ đều có nguy cơ bị “vật hóa”, tức là bị biến thành quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Gia đình, vốn được xem là thành trì tình cảm thiêng liêng, cũng không nằm ngoài quy luật nghiệt ngã này.

Trong Thế giới xô lệch (Bích Ngân), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân) hay Người cha hiện đại (Trầm Hương), đồng tiền len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống gia đình, trở thành tác nhân gây chia rẽ và tha hóa. Những tranh chấp tài sản, những toan tính thừa kế, hay áp lực cơm áo gạo tiền đã bào mòn tình cảm ruột thịt. Nhân vật trong Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan đối mặt với những cuộc hôn nhân mang màu sắc thực dụng, nơi mà sự môn đăng hộ đối được tính bằng tài khoản ngân hàng, bằng sự thăng tiến trong sự nghiệp và vị thế xã hội hơn là sự rung động của con tim. Tình yêu, hôn nhân trở thành một “dự án đầu tư” cần tính toán lời lỗ. Hiện tượng này phản ánh một thực tế xã hội nghiệt ngã ở Nam bộ thời kì công nghiệp hóa: sự lên ngôi của chủ nghĩa vật chất đang dần lấn át những giá trị tình nghĩa truyền thống. Khi thước đo hạnh phúc gia đình bị quy chiếu về sự thành đạt kinh tế, thì sự gắn kết giữa các thành viên trở nên lỏng lẻo và dễ vỡ hơn bao giờ hết. Đây là tiếng chuông cảnh báo sâu sắc của các nhà văn nữ về nguy cơ băng hoại đạo đức ngay từ tế bào gốc của xã hội, khi con người đánh mất nhân tính trong cuộc chạy đua vật chất.

Từ nạn nhân đến chủ thể hành động

Từ sự đổ vỡ của mô hình cũ, các nhà văn nữ Nam bộ không dừng lại ở sự than khóc hay lên án. Với tư duy văn học hiện đại và nhân văn, họ đi sâu phân tích thân phận người phụ nữ và những nỗ lực tái cấu trúc gia đình như một cách để “trị liệu” và hàn gắn các vết thương xã hội.

Trong “cấu trúc sinh thành” của tiểu thuyết nữ, người phụ nữ luôn chiếm vị trí trung tâm, là điểm tụ của mọi mâu thuẫn xã hội. Họ là những người chịu tác động kép của giai đoạn chuyển giao: một mặt vẫn phải gánh vác thiên chức làm mẹ, làm vợ, “giữ lửa” theo khuôn mẫu truyền thống khắt khe (công, dung, ngôn, hạnh). Mặt khác, họ phải vật lộn mưu sinh, đối mặt với áp lực công việc và khát vọng khẳng định bản thân trong xã hội hiện đại.

Các nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, Dạ Ngân, Bích Ngân, Nguyễn Thị Diệp Mai thường mang vẻ đẹp của sự nhẫn nại, bao dung, giàu đức hi sinh. Tuy nhiên, điểm mới mang tính đột phá của văn học giai đoạn này là họ không còn là những nạn nhân câm lặng, cam chịu số phận như trong văn học hiện thực phê phán trước 1945. Sự đau đớn trong hôn nhân, sự phản bội của người chồng, hay gánh nặng cơm áo đã đánh thức trong họ ý thức tự chủ mạnh mẽ. Mỹ Tiệp (Gia đình bé mọn) là một hình tượng điển hình cho sự trỗi dậy của ý thức nữ quyền. Chị đã dám bước qua định kiến xã hội, bước qua những ràng buộc đạo đức giả tạo để ly hôn, tìm kiếm hạnh phúc đích thực và quan trọng hơn là khẳng định quyền được viết, quyền được sống như một con người độc lập, có tư duy và cảm xúc riêng. Cuộc đấu tranh của Mỹ Tiệp không chỉ là cuộc chiến với người chồng gia trưởng mà là cuộc chiến với cả một hệ tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức cộng đồng. Sự dũng cảm của Tiệp là một tuyên ngôn về quyền được mưu cầu hạnh phúc cá nhân, quyền được giải phóng khỏi những gông cùm vô hình của định kiến giới. Hoa Trân trong Hoa Trân của dòng họ mang một sắc thái bi kịch và phản kháng rất riêng. Cô là hiện thân cho nỗi đau của người phụ nữ phải gánh vác danh dự của cả một dòng tộc trên đôi vai bé nhỏ. Hoa Trân không chỉ đối mặt với áp lực gia đình hiện tại mà còn đối mặt với cả quá khứ, với những “bóng ma” của lề thói phong kiến còn sót lại. Hành trình của cô là hành trình tự nhận thức đau đớn nhưng cần thiết: từ chỗ chấp nhận hi sinh hạnh phúc cá nhân để làm tròn bổn phận “con dòng cháu giống”, đến chỗ nhận ra sự vô nghĩa của những danh hão và khao khát được giải phóng. Dù kết thúc có thể vẫn còn nhiều day dứt, nhưng sự thức tỉnh của Hoa Trân là tiếng nói mạnh mẽ tố cáo sự trói buộc phi nhân tính của những hủ tục gia đình, đồng thời khẳng định khát vọng sống, khát vọng yêu thương mãnh liệt của người phụ nữ miền Tây Nam bộ.

Thông qua thân phận người phụ nữ, các tác giả cảnh báo về sự xuống cấp đạo đức và sự xâm thực của lối sống thực dụng. Nhưng quan trọng hơn, họ khẳng định sức mạnh nội tại của tính nữ. Chính người phụ nữ, trong hoàn cảnh bi đát nhất, lại là người chủ động hàn gắn các vết rạn, là người giữ lại chút nhân tính và tình thương cuối cùng giữa một thế giới đang dần trở nên vô cảm.

Nỗ lực tái cấu trúc các mô hình gia đình mới

Một phát hiện đầy tính nhân văn trong tiểu thuyết nữ Nam bộ đầu thế kỉ XXI là sự chấp nhận và miêu tả sự đa dạng của các mô hình gia đình. Nếu trước đây, gia đình khuyết thiếu (cha mẹ đơn thân, li hôn) bị xem là “bất hạnh”, “lệch chuẩn” hay là bi kịch cần né tránh, thì nay, nó được nhìn nhận như một thực tế xã hội tất yếu và một lựa chọn khả dĩ để giải phóng cá nhân khỏi bi kịch. Trong Biên sử nước và Sông của Nguyễn Ngọc Tư, ta bắt gặp sự hình thành của những “gia đình” phi huyết thống đầy ám ảnh. Đó là sự kết nối của những “người dưng khác họ”, những kẻ bị tổn thương, bị gạt ra bên lề xã hội, tụ họp lại trên những chiếc ghe, những cù lao trôi nổi. Họ nương tựa vào nhau để vượt qua bão giông cuộc đời, chia sẻ với nhau mái nhà, miếng cơm, và quan trọng nhất là sự thấu cảm. Cộng đồng những người trẻ đi tìm kiếm bản ngã dọc theo dòng sông Di đã tạo nên một kiểu liên kết lỏng lẻo nhưng đầy thấu hiểu, một kiểu “phản gia đình” nơi không có sự áp đặt quyền uy, không có tôn ti trật tự khắc nghiệt mà chỉ có sự chia sẻ của những vết thương chung. Đây là một thông điệp nhân văn sâu sắc và là một chỉ báo về sự biến đổi cấu trúc xã hội ở Nam bộ: Khi các liên kết huyết thống truyền thống bị đứt gãy do tác động của kinh tế thị trường và di cư, con người Nam bộ - với bản tính hào sảng, trọng nghĩa tình và linh hoạt - đã tự tái cấu trúc nên những cộng đồng mới dựa trên tình thương và sự tự nguyện. Những “gia đình xã hội” này xuất hiện như một cơ chế bù trừ, giúp con người không bị rơi vào trạng thái cô độc tuyệt đối giữa dòng đời biến động. Đó là cách người miền Tây thích ứng để tồn tại: khi dòng sông lở, họ dời nhà; khi gia đình cũ vỡ, họ dựng lại mái ấm mới từ những mảnh ghép khác biệt, chấp nhận sự chắp vá như một phần của thân phận.

Tiếp cận tiểu thuyết của các nhà văn nữ Nam bộ đầu thế kỉ XXI từ lăng kính xã hội học văn học, chúng ta không chỉ thấy được sự phản chiếu của hiện thực mà còn nhận diện được những “đứt gãy địa chấn” trong chiều sâu tâm thức cộng đồng. Đóng góp quan trọng nhất của các cây bút nữ này không nằm ở việc họ ghi chép lại sự đổ vỡ của các giá trị cũ, mà ở nỗ lực kiến tạo những giá trị mới trên nền tảng của sự thấu cảm và lòng nhân ái. Người viết đã chứng minh rằng: gia đình, dù có thể thay đổi về hình thức cấu trúc, vẫn là hằng số văn hóa thiêng liêng và là chốn neo đậu cuối cùng của con người trước những biến thiên lịch sử.

Sắc màu mùa thu - Thơ Nguyễn Thủy

Sắc màu mùa thu - Thơ Nguyễn Thủy

Baovannghe.vn- Khi mùa thu vừa đến/ Hoa cúc lại nở vàng
“Đánh thức” những thước phim cũ

“Đánh thức” những thước phim cũ

Baovannghe.vn- Từng được xem là dòng phim kén khán giả, phim tài liệu đang dần tìm lại sức sống trong đời sống văn hóa đương đại. Những thước phim tưởng như thuộc về quá khứ nay được tiếp cận theo cách mới, mở ra cuộc đối thoại gần gũi hơn với công chúng, đặc biệt là người trẻ.
Mùa vàng Khưa Phát quê tôi. Tùy bút của Khải Vân

Mùa vàng Khưa Phát quê tôi. Tùy bút của Khải Vân

Baovannghe.vn- Có những con đường ta đến một lần đã nhớ. Con đường lên Khưa Phát một bản nhỏ rất xa của Thái Nguyên quê tôi là một con đường như vậy.
Nghệ sĩ xiếc Việt: Dấu ấn riêng trên đấu trường quốc tế

Nghệ sĩ xiếc Việt: Dấu ấn riêng trên đấu trường quốc tế

Baovannghe.vn- Đằng sau những phút giây thăng hoa trên sân khấu quốc tế là hành trình dài khổ luyện, vượt qua giới hạn bản thân của các nghệ sĩ xiếc Việt.
10 nữ nhà văn tiềm năng của Nobel Văn chương 2026

10 nữ nhà văn tiềm năng của Nobel Văn chương 2026

Baovannghe.vn- Ngày 8/10/2026, chủ nhân mới nhất của giải Nobel Văn chương sẽ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố tại thủ đô Stockholm.