Diễn đàn lý luận

Bài thơ "Làm dâu" của Trần Mạnh Hảo - Lời bình Đặng Toán

Đặng Toán
Lý luận phê bình 11:00 | 18/08/2024
Baovannghe.vn - Được làm dâu là niềm hạnh phúc của đa số các cô gái khi đến tuổi lập gia đình. Điều tưởng như thường tình đó lại trở nên không bình thường...
aa

LÀM DÂU

TRẦN MẠNH HẢO

Bài thơ
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo

Chị làm dâu cuộc chiến tranh

Hòa bình khóc kẻ chưa thành lứa đôi

Hứa hôn với lính lâu rồi

Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu

Giá ngày xưa kịp lấy nhau

Giờ này chắc đã con đầu bằng anh

Đất sâu đợi rỗng tiểu sành

Mộ chưa có cốt rừng xanh gửi hồn

Mỗi khi chim lợn kêu dồn

Khói hương khấn gió Trường Sơn tìm mồ

Đêm về đội lén khăn sô

Thương người nằm khoác ba lô mối đùn

Tay sờ ảnh mộ còn run

Xin thương rế rách chổi cùn chiến tranh

Gọi thầm nấm đất bằng anh

Chị xin nhận tấm cỏ xanh làm chồng

LỜI BÌNH CỦA : ĐẶNG TOÁN

Được làm dâu là niềm hạnh phúc của đa số các cô gái khi đến tuổi lập gia đình. Điều tưởng như thường tình đó lại trở nên không bình thường với người “chị” trong “Làm dâu” của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Bởi nhân vật thơ của chúng ta đang “làm dâu cuộc chiến tranh”.

Nói đến chiến tranh là nói đến đau thương chết chóc, đến mất mát chia lìa. Vậy là ngay câu thơ đầu tiên, tác giả đã như ngầm hé lộ cho người đọc thấy những bất trắc trong cuộc đời của “chị”. Trong chiến tranh, rất nhiều cô gái, chỉ vì một lời hứa hôn với người ra trận mà chấp nhận cả đời làm hòn vọng phu để đến khi đất nước hòa bình, người lính không trở về lại ngậm ngùi tiếc nuối: “Giá ngày xưa kịp lấy nhau/ Giờ này chắc đã con đầu bằng anh”. Tiếc nuối nhưng không ân hận. Bởi một khi đã “hứa hôn với lính” là sẽ nguyện sắt son, chung thủy trọn đời. Đó là điều đáng được ngợi ca song nó lại cũng chính là “nấm mồ” chôn vùi mãi mãi tuổi thanh xuân của họ. Người xưa có câu “trước làm nàng dâu sau làm mẹ chồng”. Nhân vật trữ tình làm sao được nếm trải thứ hạnh phúc bình dị ấy, khi mà “Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu”.

Bài thơ "Làm dâu" - của Trần Mạnh Hảo
Nguồn Internet

Nhưng còn xót xa hơn, cái nấm đất nơi nghĩa trang mà chị gọi thầm bằng anh ấy chỉ là một ngôi“mộ chưa có cốt rừng xanh gửi hồn”. Bởi vậy mà cứ “mỗi khi chim lợn kêu dồn” chị lại “khói hương khấn gió Trường sơn tìm mồ”. Thế là chị lại mất anh thêm một lần nữa! Biết đến bao giờ mới hết cảnh mòn mỏi: “Đất sâu đợi rỗng tiểu sành... Đêm về đội lén khăn sô” khi mà người lính ấy vẫn “nằm khoác ba lô mối đùn” nơi chiến trường ngút ngàn sương gió.

Nếu cách so sánh đầy ám ảnh đến gai người “đất sâu đợi rỗng tiểu sành” làm người đọc bàng hoàng thảng thốt. Thì hình ảnh chân thực nhưng gợi nhiều liên tưởng: “Đêm về đội lén khăn sô” với chữ “lén” được dùng quá đắt. Lén là làm một việc giấu giếm, vụng trộm, không được đàng hoàng. Lại khiến độc giả thêm ngậm ngùi, xót thương cho nhân vật thơ. Vậy là, ngay đến cả cái việc nghĩa tử nghĩa tận của người vợ với người chồng cũng không dám công khai giữa thanh thiên bạch nhật. Thử hỏi còn nỗi bẽ bàng nào trớ trêu, chua xót hơn thế cho cái sự làm dâu của “chị”?

Với cái tứ quen thuộc, tác giả bình thường có thể cũng sẽ đưa lại cho người đọc một tác phẩm tròn trịa với bố cục chặt chẽ, chỉn chu. Song Trần Mạnh Hảo, bằng cái tài trong sử dụng ngôn ngữ, bằng cách nhìn, cách cảm sâu sắc, tinh tường thấu đáo tới mọi khuất lấp của nỗi đời, đã biến những câu chữ, những hình ảnh rất đời thường thành những câu thơ hay, ấn tượng và ám ảnh: “Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu; Đất sâu đợi rỗng tiểu sành; Đêm về đội lén khăn sô; Chị xin nhận tấm cỏ xanh làm chồng...”

Hai câu thơ cuối bài, thoạt nghe ngỡ nhẹ nhàng như không: “Gọi thầm nấm đất bằng anh/ Chị xin nhận tấm cỏ xanh làm chồng” mà đọc lên cứ nhói đau, cứ cay xè khóe mắt. Cả một đời “làm dâu”, cuối cùng “chị” cũng đã có được “anh”, nhưng chỉ là nấm đất, có được chồng, nhưng chỉ là “tấm cỏ xanh” không xương không cốt . Chị tự an ủi hay đang tự dối lòng mình? Một cái kết quá đau xót, quá thương tâm cho nhân vật thơ và cũng là số phận hẩm hiu, trớ trêu của biết bao người mẹ, người chị, người vợ đã phải gánh chịu chồng chất nỗi đau thương mà chiến tranh gây ra.

Tác phẩm của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, bên cạnh những sẻ chia chan chứa còn là tiếng lòng thương cảm, xót xa trước những bẽ bàng, nghịch cảnh trái ngang của những người phụ nữ đã không được sống một cuộc đời bình thường trong và sau những cuộc chiến./.

Đặng Toán | Báo Văn nghệ

Có một người thơ trên Facebook Nhà thơ Tế Hanh - Người thơ mang gương mặt quê hương Nhà thơ Trinh Đường: Nhập thân vào đất nước để nhập thần vào thơ Vài kỷ niệm về cố nhà văn Nguyễn Tuân "Đồng dao cho người lớn" - Thơ Nguyễn Trọng Tạo
Toàn văn phát biểu nhậm chức của Tổng Bí thư Tô Lâm

Toàn văn phát biểu nhậm chức của Tổng Bí thư Tô Lâm

Baovannghe.vn- Ngày 23/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Baovannghe trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu nhậm chức của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Thông cáo báo chí phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Thông cáo báo chí phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Baovannghe.vn - Chiều ngày 23/01/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp phiên bế mạc tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thay mặt Đoàn Chủ tịch điều hành phiên bế mạc Đại hội.
Thông cáo báo chí Hội nghị lần thứ Nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV

Thông cáo báo chí Hội nghị lần thứ Nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV

Baovannghe.vn - Sáng ngày 23/01/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã tổ chức Hội nghị lần thứ nhất để quyết định những vấn đề đặc biệt quan trọng, đánh dấu khởi đầu của nhiệm kỳ mới.
Thủ pháp so sánh trong sáng tác của Nguyên Hồng

Thủ pháp so sánh trong sáng tác của Nguyên Hồng

Baovannghe.vn - Trong sáng tác của Nguyên Hồng, người đọc luôn thấy một “thế giới cần lao dưới đáy của xã hội thành thị” với hai loại hình nhân vật nổi bật: hạng người lưu manh, côn đồ cùng những người buôn thúng bán mẹt, những đứa trẻ đầu đường xó chợ.
Dốc Phạ. Truyện ngắn của Tống Ngọc Hân

Dốc Phạ. Truyện ngắn của Tống Ngọc Hân

Baovannghe.vn - Đường vào bản Phạ của người Mông Hoa là một cái dốc cao lừng lững. Cái dốc cũng được gọi là dốc Phạ. Đứng bên kia sông nhìn sang, dốc Phạ như mũi tên bằng vàng đang vút vào mây trời. Cánh cung là dải núi đá vôi đồ sộ cổ kính. Con dốc không dài nhưng dựng đứng.