Hôm ấy, thằng Quân về dự lễ khánh thành nhà thờ chi họ. Sân gạch đỏ ken người. Tiếng pháo hoa xé trời. Ánh chớp vút lên từng vệt, bung ra rồi tắt lịm trong khói khét. Ông Khai đứng bên hiên, tay cầm lon nước lạnh, mắt nhìn lên khoảng trời mờ khói còn rung âm thanh, nhìn Quân đang chắp tay trước bàn thờ. Di ảnh bố nó nhòa trong làn hương khói. Ngay khoảnh khắc ấy, ký ức chiến tranh bất ngờ trồi dậy, sắc lạnh như mảnh kim loại găm vào ngực.
![]() |
| Minh họa Lê Trí Dũng |
Ông thấy Lân. Người bạn cùng tiểu đội trong bom đạn suốt gần mười năm, màn trời chiếu đất, chia từng cọng rau rừng. Trong ba lô Lân, thứ quý nhất là tấm ảnh vợ và đứa con trai nhỏ. Mỗi khi im tiếng súng, Lân lại lôi ra, nhìn thật lâu. Giữa tiếng đạn bom, chỉ cần nhìn tấm ảnh hai mẹ con, cả tiểu đội ai cũng vững tin mình vẫn còn một con đường để quay về.
Ông nhớ nhất sáng hôm ấy, tiếng máy bay gầm rít như xé toạc quả núi. Lân choàng mở mắt, thấy ánh mặt trời chói lóa, vơ vội tấm ảnh vợ con ép vào ngực, hét lớn:
- Trốn! Trốn!
Chỉ vì tối qua Lân cùng đồng đội ngủ trong vòm cây kín lá. Vậy mà sáng ra, cả cánh rừng bạt ngàn trụi trơ không còn một chiếc lá. Thân cành chỏng chơ như những cánh tay chới với kêu cứu vì chất độc da cam. Nhớ cảnh đó, ngực ông như tức thở.
Hòa bình, Lân xin ở lại Tây Nguyên làm lâm nghiệp như để chuộc lỗi với rừng bởi chiến tranh. Khi nhận được dự án trồng rừng, Lân đã điện ngay cho ông:
- Khi nào thằng Quân tốt nghiệp Đại học Lâm nghiệp, mày cho nó vào đây trồng rừng với tao.
Trước khi vào Kon Tum với Lân, thằng Quân mang di ảnh và tấm bằng Tổ quốc ghi công của bố nó - em trai ông - sang đặt lên bàn thờ. Nó nói:
- Cháu gửi bác.
Nhìn theo đứa cháu ra ngõ xa dần, nhìn di ảnh em, ông lặng lẽ thắp hương lên ban thờ.
*
Ông Khai là trưởng chi họ Nguyễn Cao trong làng. Vì là trưởng chi, ông phải cố có con trai nối dõi. Khi vợ có bầu đứa thứ tư, ông lén đưa vợ về ngoại đẻ, được một thằng cu tóc dày đen, da trắng trẻo. Mừng không giấu nổi, rồi ông bị kỷ luật, mất hết chức việc.
Đứa con trai chỉ lớn cái trán và đôi mắt trắng. Chân tay và cái ngực của nó như không được đánh thức. Vợ ông nhìn ba đứa chị, nhìn bàn thờ... rồi nhìn đứa con trai, mà ruột gan khô héo, nước mắt không còn để chảy. Bà nói trong tiếng nấc:
- Có phải vì cái chữ “nối dõi”... mà ra nông nỗi này không ông?
Ông ngồi ở gian bên, nghe tiếng thằng bé thở dốc, chen giữa những nhịp thở dài của vợ. Mỗi khi nó lên cơn đau, hai mắt trắng trợn ngược, hai tay như bấu vào cái gì đó trong không khí. Miệng méo xệch ú ớ. Nước mắt nước mũi cứ trào ra. Nó ở với ông bà hơn ba năm rồi đi theo tiên tổ.
Từ khi thằng bé mất, bà càng buồn, da xanh nhớt, đêm ho nhiều. Khăn tay bà có thêm vết máu. Nhưng bà cố giấu không cho ông biết, vì trong nhà chưa tìm đâu ra hạt thóc củ khoai. Được ít lâu, bà không thể ho nữa, thở yếu dần rồi cũng theo con.
Từ ngày vợ con mất, ông ít ngủ. Đêm nào cũng ngồi ở gian trên nhìn bát hương nghi ngút khói đến gần sáng. Có hôm ông lẩm nhẩm gọi tên thằng bé, gọi tên bà như lúc họ còn sống.
Có người bảo, tại ông nằm ở chiến trường lâu. Người bảo, nhà thờ chi họ ông không đúng hướng. Cũng có người bảo tổ tiên trách phạt, nên nhà ông mới ra thế. Ông không thể không tin.
Ông bán mảnh vườn sau, góp vốn với chi họ làm lại nhà thờ ba gian gỗ lim trên đám vườn, không theo hướng cũ. Mái ngói, sân gạch, cột kèo chạm trổ trông bắt mắt hơn hẳn một số nhà thờ trong làng. Rồi ba đứa con gái lần lượt yên bề gia thất, ông thấy trong lòng man mát, đời mình như được vá lại.
Từ đó, lưng ông lại thẳng, đi đâu đầu cũng như ngẩng cao hơn. Đến đám cưới, đám giỗ, ông được mời ngồi mâm trên, nhiều người đến chạm cốc mạnh hơn, rượu bia thêm ngọt. Rồi cả họ, cả làng theo ông: Sinh con trai là nổ pháo. Có nhà pháo đì đùng mấy ngày như Tết. Những nhà sinh một bề con gái, nghe tiếng pháo là lặng lẽ cài cửa.
Tết rượu bia nhiều mà sao vắng tiếng đàn bà khác họ, ít trẻ bi bô. Nhiều năm gần đây chỉ thấy vài con chó cưng bọn nó mang từ phố về làm bẩn cả góc sân nhà thờ. Nhà thờ nhìn thì đầy đặn, nhưng...
Buồn lòng, ông mang gia phả lật từng trang. Cả chi họ hơn hai chục đứa cháu trai, đứa ít cũng ngoài ba mươi, đứa nhiều đã gần năm mươi nhưng đều lẻ bóng. Hôm giỗ tổ, ông trưởng tộc mặt hơi đỏ, nói xoáy thẳng vào mặt ông Khai:
- Mấy thằng con trai chi bên ông, Tết giỗ đầy rượu bia, ô tô chật hết đường làng mà không có vợ con theo sau thì… không được với họ đâu! Con trai đầy nhà mà vẫn thiếu người...
Ông Khai mím chặt môi cúi mặt. Hôm đó ông không uống ly rượu nào, xin cáo họ về trước.
Tết đó, chi ông tập trung khá đầy đủ con cháu. Nâng cốc, ông nói ngay:
- Từ nay, dù bận làm ăn gì, các cháu cũng phải chú tâm việc yên bề gia thất, cho các ông bà già đỡ ngóng, tổ tiên cũng hài lòng.
Bọn trẻ không ngẩng đầu.
Sống mũi ông cay, giọng ông gằn xuống:
- Nếu các anh chị chưa có… thì thuê cũng được. Cứ bảo là người yêu, cho cánh già chúng tôi đỡ tủi.
Chúng cười:
- Bác yên tâm, bọn cháu thế này ế sao được!
Ông uống ực cạn ly rượu, cổ họng khó nuốt, đặt cạch cái ly xuống bàn tưởng vỡ, rồi lại nắm chặt ly trong tay giơ lên. Ông gay gắt tuyên bố:
- Từ nay, đứa nào có vợ, có con đưa về đây thì được bày lễ gian giữa, ngồi mâm trên. Đứa nào chưa có thì xuống dưới.
Chúng nhe răng không thành tiếng, rượu bia lại rót.
Một năm, rồi hai năm, không thấy bóng dáng một “bóng hồng” nào theo các cháu ông về. Ông bỏ rượu, bỏ chè, làm bạn với cái cuốc, ra vườn cuốc đi cuốc lại như giận thứ gì không nằm trong đất. Mỗi dịp lễ Tết, ông lại chăm chăm nhìn ra ngõ, mong có bóng đàn bà về cùng bọn trai trẻ.
Đứa khiến ông tạm yên lòng vẫn là thằng Quân. Nó vào Kon Tum với ông Lân đã yên ấm vợ con, luôn chăm lo cho họ hàng. Ông vẫn âm thầm chờ một thằng con trai của nó như chờ một lời giải với người đã khuất. Nhưng đứa khiến ông sốt ruột nhất lại là thằng Sơn - con trai em út của ông. Ông bế bồng nó từ khi mới lọt lòng. Nó có đôi mắt sáng trong, nhìn vào như mặt hồ thẳm - lặng sóng. Cầm tấm bằng kiến trúc sư bao năm mà vẫn ngửa tay, trói gà không chặt. Giỗ chạp, Tết nhất về lấm lét, chỉ thấy nó lẩn ra phía sau cọ rửa ấm chén.
Bao mùa lá rụng, cả chi họ từng ấy con trai mới chỉ được vài đám cưới. Trai tân nhà ông, đứa nào cũng cao ráo mặt mày sáng sủa, vậy mà phần nhiều lại lấy đàn bà nửa đường đứt gánh, cưới cả trâu lẫn nghé. Có đứa cưới vợ về, mừng luôn cho con riêng của vợ vào đại học.
Lần ấy có đám cưới thằng cháu trai trong chi họ. Cả họ mừng. Khách khứa đông, cỗ bàn đã bày la liệt trong trung tâm tổ chức sự kiện sang trọng. Ông đại diện họ trai, đang cầm mic chúc phúc cho hai họ với giọng ấm và sang như nhiều lần. Một cô bé chừng bốn, năm tuổi, kết nơ tai thỏ chạy lại kéo nhẹ tay áo ông:
- Ông ơi, ông phải nói bà ngoại cháu là công chúa… bây giờ mới gặp hoàng tử!
Ông nhìn xuống cái nơ tai thỏ tím rung rinh. Ông lặng người một lúc lâu... ông chỉ nói tiếp được đúng một câu... “chúc hai họ nhiều hạnh phúc”. Ông không nói được câu cô bé dặn, mà chỉ thấy trong đầu đôi tai thỏ tím lắc lư...
*
Tết cách đây hơn hai năm, thằng Sơn dắt về một cô gái ở Hà Nội - lại là người cùng làng, cách nhà chưa đầy năm trăm mét. Cả họ xôn xao:
- Thuê rồi!
Ông Khai kéo con bé ra góc vườn:
- Này, hàng xóm bác hỏi thật: thằng Sơn hay bố nó thuê cháu?
Nó cười:
- Dạ, nếu các bác nhận thì… thật. Không thì… diễn.
Thằng Sơn đứng cạnh, tay chân như thừa, như không phải của nó, tai cứ đỏ ửng.
Đêm ấy, ông đi đi lại lại trong sân, thắp hương lên ban thờ vài lượt. Ông mừng không ngủ.
*
Một buổi sáng, điện thoại reo:
- Bác có phải bác Khai không? Cháu giao hàng ạ.
Ông Khai ra cổng nhận một bưu kiện mỏng, rộng. Mở ra, đúng là một bức tranh.
Ông nhìn bức tranh: một con ngựa gục đầu đứng lặng. Một người lính quỳ xuống, ôm lấy cổ nó. Bên cạnh là cây giáo và tấm khiên bị vứt bỏ, cạnh đám cỏ chồi non đang nhú. Trên cao là vầng trăng khuyết. Một khoảng lặng sâu, đến nghẹn.
Dưới góc có dòng chữ nhỏ:
“Tạm biệt chiến tranh”
Tác giả: Nguyễn Cao Hoàng Sơn - kính tặng nhà thờ chi họ Nguyễn Cao.
Kèm một bức ảnh Sơn cùng vợ con nhận giải đặc biệt của Hội Mỹ thuật.
Ông Khai sững lại. Thằng Sơn - thằng cháu có đôi mắt như mặt hồ thẳm, từng lấm lét, từng bị nghi “ế vợ”. Từ khi làm nhà thờ đến nay, chỉ nó, và cũng là đứa đầu tiên, làm ông đứng trước nhà thờ thấy đỡ trống trải.
*
Chiều hôm ấy, điện thoại ông “tít tít” có tin nhắn của thằng Quân - đứa đã chi nhiều tiền nhất dựng cái nhà thờ này:
“Giỗ Tổ tới cháu không về được vì vợ cháu thêm một lần mang bầu dị tật, cô ấy không chịu nổi đã bỏ đi, để lại ba đứa con gái cho cháu. Cháu gửi bác ít tiền nhờ bác mua lễ thắp hương cầu an cho nhà cháu. Mong bác khỏe!”
Ông đứng khựng. Cái cuốc trong tay ông rơi xuống nền đất cứng phát ra tiếng khô khốc. Bóng ba cô con gái chợt vây quanh. Cô út nói:
- Sao bố cứ giữ cái cuốc cùn này mãi.
Từ hôm đó, người ta không thấy ông ra vườn.
Ít tuần sau, Quân về. Người nó gầy, mắt thâm quầng, ánh mắt như ái ngại, không dám nhìn trực diện ông. Nó lúng túng thắp hương lên bát hương trước di ảnh bố.
Ông hỏi:
- Gia đình cháu thế nào?
Quân cúi đầu:
- Vợ chồng cháu mấy lần tưởng được thằng cu. Mỗi lần siêu âm, cả nhà lại thấp thỏm chờ kết quả, tưởng lần này cả họ sẽ được vui, nào ngờ… mất tiền, mất người. Bác Lân vết thương tái phát cũng ra đi. Giờ cháu chỉ còn ba đứa con gái. Con út suốt ngày hỏi mẹ sinh em trai đâu. Đêm nào cũng khóc tìm mẹ và em không ngủ.
Quân không nhìn ông. Không nhìn ban thờ. Chỉ nhìn mũi giày.
Ông nhìn sân nhà thờ. Rồi nhìn bức tranh. Không dám nhìn thân hình gầy rộc của Quân.
Ánh sáng nhòe đi. Hai mí mắt nặng trĩu. Hai hàng nước mắt chảy xuống gò má nhăn nheo.
Trong đầu ông vọng lại tiếng hét:
- Trốn! Trốn!
Rồi nghe tiếng bom, tiếng rít, cây cối đổ ngổn ngang, dưới chân ngập lá vàng. Ông úp mặt vào hai bàn tay nhăn nheo. Nước mắt thấm lạnh qua kẽ ngón.
- Thôi… bác rõ rồi. Không phải chỉ mình cháu...
Thằng Quân không nói gì, ngửa mặt lên trời, đứng trước sân nhà thờ vái ba vái, chào ông rồi xách túi xiêu vẹo bước ra đầu ngõ. Bóng nó mờ dần. Ông đứng lặng rất lâu, đất dưới chân ông như đang sụt lở.
*
Mấy tháng sau, vợ chồng Sơn bế con về, mang theo một túi lễ. Con bé mắt sáng trong. Vợ nó vui vẻ chào ông.
Ông Khai mỉm cười, giơ tay:
- Cho ông bế tí.
Con bé cười tít. Vợ nó vừa chuyền bé sang tay ông Khai, vừa liếc chồng vừa nói:
- Có bé Na này là cháu phải “lừa” mãi mới được đấy bác ạ.
- Sao lại lừa?
Nó nguýt Sơn.
- Anh Sơn bảo thuê cháu về họ cho “oách”. Cháu gật, nhưng đến khi trả tiền cháu bảo: Hàng xóm ứ lấy. Cuối cùng, cháu phải đòi được bé này. Con trai họ bác “dại gái” lắm, “bị lừa” là chắc. Chưa bị lừa thì hôm nay chắc bác không vui được đâu.
Ông cười, nhìn hai đứa, hôn trán con bé thơm mùi sữa. Mắt nó trong veo - đôi mắt của nhà ông. Hai tay nó cứ túm vuốt râu ông.
Sơn nói:
- Cháu ít về vì đang phải cày tối ngày trả nợ cho mấy năm lêu lổng. Cuối năm cháu định làm triển lãm, may ra đưa được bố mẹ về gần chúng cháu. Dạo này bố mẹ cháu yếu lắm rồi.
Ông Khai nhìn bức tranh, nhìn đứa bé trong tay rồi nói:
- Thế ông ở nhà với ai đây?
Vợ Sơn lại véo chồng:
- Chắc nhiều anh trong họ muốn về lắm, nhưng chỉ kiến trúc sư này “thuê” được người dễ thế này thôi bác ạ.
Ngoài sân, gió xuân thổi qua khóm nguyệt quế làm cánh hoa rung nhẹ. Trong gian giữa, một mâm lễ được bày lên cao.
Ông nhìn vợ chồng thằng Sơn đang chắp tay đứng trước ban thờ, bé Na nằm gọn trong cánh tay nhăn nheo như chồi non mọc giữa cành khô. Và ông nhìn bức tranh treo trang trọng trên tường rất lâu.
Bé trong tay ông ngủ lúc nào không biết. Đôi mi nó lúc thức như cánh diều lộng gió che cho mặt hồ xanh thẳm, giờ khép nhẹ như hai vầng trăng khuyết lung linh. Miệng nó vẫn cười nụ. Hương trầm có hơi sữa thơm hơn.
*
Tết năm ấy, con cháu lại tập trung. Chồng con ba cô con gái, cùng vợ chồng Quân, Sơn dắt lũ trẻ ào vào sân, tóc bay trong nắng. Chúng cười giòn, líu lo như tiếng chim sáng sớm đầu mùa. Đám trai thanh niên đã ngồi quanh các mâm cỗ. Hương trầm bay trong không gian đông vui. Ông vẫn thấy như thiếu mùi tóc của bà đâu đó trong nhà.
Ông nhìn di ảnh bà, di ảnh em trai, rồi nhìn sang bát hương của thằng bé vẫn còn chấm đỏ. Môi ông mím chặt. Ông đứng rất vững giữa nhà, dồn lực nói để mọi người đều nghe rõ:
- Các cháu nghe đây! Hôm nay tất cả các cháu đều được ngồi mâm trên nhé.
Không gian nhà thờ lặng một nhịp, rồi bọn trẻ cười ran như chim vỡ tổ.
Đã lâu lắm ông mới chạm môi vào chén rượu.
Ông nhìn lại bức tranh. Ánh sáng tràn vào thêm sắc nét.
Con ngựa mỏi hay người cầm khiên giáo mỏi, ông không cần biết nữa.
Chỉ thấy đám cỏ vẫn xanh...