Buổi chiều xong công việc, chúng tôi rủ nhau đi tắm biển. Từ khách sạn Quê hương nằm trên đường Trần Phú, chúng tôi băng qua đường rồi lững thững thả bộ về phía trung tâm. Hoàng Minh Tường đi trước tôi. Dáng anh thấp đậm, vai lắc lắc. Tới quảng trường 2/4, cả hai rẽ ngang xuống bãi cát. Biển khá đông người làm tôi ngán ngại. Hoàng Minh Tường động viên tôi rằng, biển Nha Trang mùa hè lúc nào chẳng thế, rằng có thêm chúng ta nữa thì cũng như “muối bỏ biển”, không vì thế mà người đông hơn… Và đúng thế, khi “hai viên muối” có tên Ngô Xuân Hội và Hoàng Minh Tường trầm mình trong làn nước trong xanh của biển rồi thì không thấy ai kêu “muối” đã làm biển chật.
![]() |
| Nhà văn Hoàng Minh Tường |
Một lần ra Hà Nội, tôi đến thăm nhà anh ở gần đường Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy chơi. Ngạc nhiên thấy trong nhà: phòng ngủ, phòng khách, phòng bếp, phòng ăn… chỗ nào cũng treo đầy ảnh và những bức tranh sơn dầu anh vẽ vợ, chuẩn bị cho Triển lãm tranh Nhà văn vẽ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, giữa năm 2005 cùng các bạn văn Trần Nhương, Đoàn Lê, Nguyễn Quang Thiều, Đỗ Minh Tuấn. Mãn nhãn trước những bức tường thơ - họa mà anh đã phải lao tâm khổ tứ lắm mới dàn dựng được, tôi thả một câu:
“Bác là người hạnh phúc.”
“Vì sao?” Hoàng Minh Tường cảnh giác.
“Vì có một cô vợ đẹp.” Chủ nhà nghe vậy, cười thỏa mãn.
Chờ anh cười xong, tôi tiếp câu thứ hai, nghe đã có vị đắng:
“Nhưng bác không biết giấu cảm xúc, có sao cứ bày ra vậy, không tốt. Nhà em bác đến rồi, không hề có ảnh vợ, dù chỉ là một cái cỡ 3x4. Mà trong khoản đội vợ lên đầu, em còn trên tài bác nữa ấy chứ…”
Chúng tôi còn trao qua đổi lại với nhau nhiều nữa về đề tài này, không ai khai hóa được ai, Hoàng Minh Tường bỏ ngoài tai những điều tôi nói. Ít lâu sau, anh chị kéo nhau ra tòa. Anh là người cắp cặp rời khỏi ngôi nhà một trệt hai lầu mà hai vợ chồng đã một thời “Ta nắm tay nhau xây lại đời ta”(1), dựng nên trên nền đất 60m2 mà anh đổi mảnh đất tiêu chuẩn được báo Văn nghệ cấp.
Trở thành người vô gia cư, đang không biết sẽ gửi thân nơi gầm cầu quán chợ nào, thì may thay “duyên” anh vẫn chưa hết. Trong hồi quang của mùa xuân, nữ sĩ LHP, một người đàn bà xinh đẹp, giàu có gặp anh - nhà văn khốn khổ, và bỗng dưng “phải lòng”. “Tình thương quán cũng như nhà…”, chị mua cho anh không phải một mái lều tranh mà cả một căn hộ chung cư sang trọng, ở phố Trung Kính. Sống độc thân trong ngôi nhà quá rộng dễ sinh tật, anh tự hạ tiêu chuẩn, sau đó chuyển đến khu đô thị Dương Nội, Hà Đông bây giờ trong một căn hộ hai phòng rộng 60m2, chịu cảnh ông Bắc, bà Nam. Những ngày cô đơn là những ngày anh hì hục… viết. Khi viết (tiểu thuyết) anh vẽ sơ đồ nhân vật, cách phát triển từng tuyến của câu chuyện... Nói chung là rất kỹ, sau đó cứ đề cương mà mần. Nhờ thế, hàng loạt tác phẩm, như: Đầu sông (1981), Những mảnh đời khác nhau (1986), Những người ở khác cung đường (1988), Cưới lại (1992), Đa thê (1995), Đen và béo (1997), Đồng sau bão (2000), Gia phả của đất (2000), Nàng Êva mù (2005), Ngư phủ (2005), Thời của thánh thần (2008), Thảm kịch vĩ nhân (2019)… ra đời. Tất cả gần 40 đầu sách. Cuốn mỏng hơn một trăm trang, cuốn dày bằng cả một cục gạch táp lô.
Sách Hoàng Minh Tường tôi đọc rải rác, nhưng rất ấn tượng. Một trong số đó là tập truyện ngắn Gã viết thuê, mà tôi rất thích.
Nhiều truyện ngắn của Hoàng Minh Tường trong Gã viết thuê giống như những mảng sáng tối đặt cạnh nhau trong một bức tranh, cái này làm nổi rõ, nâng cao cái kia. Thủ pháp này đã được nhiều bậc thầy truyện ngắn áp dụng. Đến lượt mình, Hoàng Minh Tường vận dụng thủ pháp trên mà không hề bị trùng lặp. Bởi nghĩ cho cùng, mỗi nhà văn chỉ viết bằng vốn sống của riêng mình. Không tìm cách lý giải sự việc, trong các truyện ngắn của mình Hoàng Minh Tường hầu như chỉ làm cái việc đào sâu, khơi dậy những tầng bậc ý nghĩa của cuộc sống thường ngày. Con mắt nhạy cảm của một nhà văn trong anh phát hiện cho người đọc nhiều vẻ đẹp bình dị mà người đọc dễ dàng bỏ qua. Những mặt nạ mang thói đạo đức giả cần được vạch trần, xé bỏ.
Từng có quá trình 10 năm làm biên tập văn xuôi của Tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), dấu ấn của nghề biên tập để lại khá rõ trên những trang viết của Hoàng Minh Tường. Văn anh mạch lạc, trong sáng. Từng nhận giải thưởng văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam trao cho tiểu thuyết Thủy hỏa đạo tặc, ở một bộ phận người đọc, lâu nay Hoàng Minh Tường vẫn được nhìn nhận trên phương diện là một nhà văn viết tiểu thuyết đáng trân trọng.
Trong sự nghiệp viết văn của mình, quan trọng trước tiên với anh là tiểu thuyết Đầu sông viết năm 1973, khi tham dự trại viết của Hội Văn nghệ Khu tự trị Việt Bắc. Đầu sông đơn giản là câu chuyện về một anh giáo viên miền xuôi lên miền núi dạy học, ít nhiều mang dáng dấp tự truyện, vì tác giả lấy đời sống của chính mình ra mô tả nhân vật.
Quan trọng thứ hai là bộ tiểu thuyết Gia phả của đất (Tập 1: Thủy hỏa đạo tặc, Tập 2: Đồng sau bão), phản ánh hiện thực nông thôn theo mô hình hợp tác xã làm ăn theo cơ chế cũ, cơ chế quan liêu bao cấp mang tính cộng đồng, tập thể thực hiện dưới sự áp đặt của một bộ phận lãnh đạo đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể. Tiểu thuyết mang âm hưởng chính luận và tính phản biện quyết liệt, tính dự báo xã hội sâu sắc. Tiểu thuyết đã mang lại cho Hoàng Minh Tường giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1997), tặng thưởng văn học Thời kỳ đổi mới 1985-2010 cho 10 tiểu thuyết hay nhất về Nông thôn - Nông nghiệp do Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trao tặng (2011)… Tuy vậy, cho đến lúc đó Hoàng Minh Tường vẫn chỉ được nhìn nhận như một nhà văn “hạng hai” trong văn giới.
Chỉ đến năm 2008, khi tiểu thuyết Thời của thánh thần xuất bản, anh mới được “thăng hạng”.
Đánh giá về Thời của thánh thần, nhà văn Nguyễn Khắc Trường viết: “Thiên truyện đúng ra phải đặt tên là “Những người khốn khổ”, hoặc “Con đường đau khổ”… Rất tiếc các văn hào Victor Hugo và Alexei Tolstoy đã viết từ những thế kỷ trước. Nhưng không sao. Những người khốn khổ và con đường đau khổ thì thời nào cũng thế thôi”.
Thời của thánh thần được bạn đọc đón nhận như đó chính là sản phẩm của họ, là tiếng đồng vọng của lương tâm và trách nhiệm của họ. Sách in 1.000 cuốn bán hết vèo ngay trong tháng đầu phát hành. Nhiều bạn bè nhà văn ở Hà Nội mua hàng chục cuốn gửi làm quà cho bạn bè, người thân… Dẫn đến sách lậu được dịp tung ra và hốt lời. Ước tính, có tới 10 vạn bản Thời của thánh thần bị in lậu.
Nhắc tới Thời của thánh thần ông tâm sự: “Tôi không thích viết những cuốn sách kể chuyện bình thường, đơn điệu, vì cuộc sống vốn rất phức tạp. Tôi luôn cố gắng để văn chương mình thực sự có ích, nhận được sự đồng cảm của đông đảo bạn đọc. Thời của thánh thần có thể coi là một cố gắng mới của tôi. Tôi đã huy động tất cả vốn sống, kiến thức hiểu biết của mình và vật vã trong bốn năm trời để phản ảnh hiện thực đất nước một chặng đường dài sau 1954 đến nay, không ngại khai thác những vùng được coi là nhạy cảm. Nên đối với tôi đây là đứa con tâm huyết.”
Đúng như tâm sự của tác giả. Để có được những trang viết về biển hay như trong Thời của thánh thần, tôi biết anh đã cày ải khắp các vùng biển đất nước, bám các làng chài. Nhờ thế, phát hiện ngư dân chính là những nông dân làm nghề biển và đó là chìa khóa giúp anh đi vào tâm hồn các Ngư phủ.
Đã hơn một lần cùng anh xuôi Nam ngược Bắc, tôi nhớ mãi lần chúng tôi hành hương về Đất Mũi giữa năm 2003. Lượt đi, mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Chúng tôi mê mẩn trước những dòng sông, kênh rạch Nam bộ phẳng bằng như đại lộ; mê mẩn trước những ngôi nhà dập dềnh bám mặt tiền sông, trước mũi đất, mũi tàu của đất nước. Lượt về, khi đến thị trấn Năm Căn tôi nhận được điện nhà báo tin mẹ mất. Ngay đêm ấy anh đã cùng tôi tức tốc nhảy xe đò về Thành phố Hồ Chí Minh, để rạng sáng hôm sau bố con tôi kịp bay về quê chịu tang bà.
Giờ đây cả tôi và Hoàng Minh Tường đều đã bên bên kia dốc của cuộc đời. Anh ở Hà Nội, tôi ở Thành phố Hồ Chí Minh, việc gặp nhau đã ít đi, thăm nhau thường chỉ gọi điện thoại. Nhớ nhau, tôi nhớ lại chuyến cùng anh đi Đất Mũi năm nào, tôi đến đứng trước giá sách lục tìm những Đồng chiêm, Gia phả của đất, Đen và béo, Gã viết thuê, Thời của thánh thần, Từ Ba Tư đến Bắc Mỹ… sách anh tặng tôi. Ngắm rất lâu lời đề tặng tác giả viết ở trang đầu mỗi cuốn bằng những nét chữ bay bướm và một chữ ký rất đẹp, rồi ôm đàn ngồi hát: “Ngày xưa có anh Trương Chi…”(2)
------------------
(1) Thơ Tố Hữu: “Bài ca xuân 1961”.
(2) Ca dao: “Ngày xưa có anh Trương Chi/ Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay…”