Sáng tác

Nhớ vị trà xưa. Tản văn của Lê Phượng

Lê Phượng
Tản văn 12:00 | 31/01/2026
Baovannghe.vn - Trời đã cuối thu, màu nắng không còn tươi dịu như ngày đầu thu hay giữa thu, mưa cuối mùa lắc thắc, cây đã rụng hết lá im lặng chờ một mùa lộc mới, trời không còn xanh màu áo lụa với những đám mây trắng mỏng như bông, bảng lảng giữa trời, gợi trong ta nhiều mộng mơ xa vắng.
aa

Mùa đang đi, mùa phai, nắng nhạt dần lại gợi nhiều trông mong, nuối tiếc. Tôi nhớ mùa xưa, nhớ vườn cũ, nhớ một mùi thơm, là mùi gì ấy nhỉ? Là mùi hoa phảng phất trong vườn nhà? Là mùi cỏ khô đượm màu nắng? Là mùi bạc hà day day trong tay toát lên cái dìu dịu mà thoang thoảng buồn? Không, là tôi nhớ hương trà và vị trà cha tôi thường nấu, thường pha.

Nhớ vị trà xưa. Tản văn của Lê Phượng
Minh hoạ Vũ Đình Tuấn

Cũng lạ, không biết tự bao giờ, Huế tôi phân biệt rất rõ nước chè và nước trà. Nước chè là nước được nấu từ chè tươi hái trong vườn và ngon nhất là thứ chè Truồi nổi tiếng. Tôi nghe nói cây chè hấp thụ những tinh túy từ phù sa và nước sông Truồi để tạo ra vị chát ngọt rất riêng mà không nơi nào của Huế có được. Chè ấy chỉ nấu bằng lá, bỏ cọng. Lá chè giòn được mẹ tôi rửa sạch, để ráo, chờ nước sôi mới bóp chè và bỏ vào. Đợi sôi lần nữa, cho vài lát gừng rồi tắt lửa. Nước chè rót ra xanh trong một màu và thơm dịu, được uống bằng đoại (bát to). Uống một đoại mới thấy đã! Tiêu cơm, chắc ruột và đã khát.

Nhưng tôi nhớ mãi thứ trà cha tôi thường dùng để tiếp khách. Đó là thứ trà được hái từ cây chè trồng ở các đồi. Lá chè hay đọt chè được hái về vò, sao và phơi đúng kĩ thuật, mùi rất thơm! Nói nghe đơn giản vậy nhưng nó là kết quả của công sức, mồ hôi và nước mắt của người làm ra trà.

Nhớ những gói chè đầu tiên tôi thường chạy mua cho cha ngày tôi còn nhỏ là trà Tàu Buồm. Trà được gói trong loại giấy trắng tinh có vẽ hình những chiếc tàu buồm. Tôi lờ mờ đoán trà này được nhập từ đâu đó về qua đường thủy hay chính hình ảnh chiếc tàu buồm trên giấy làm tôi nghĩ thế, cũng không biết nữa! Tôi nhớ hương trà còn lưu lại trên giấy khi cha tôi đã cho trà vào lọ thủy tinh nhỏ.Trà Tàu Buồm phổ biến một thời gian rồi biến mất lúc nào tôi cũng không rõ. Trà cha tôi mua sau đó là trà Bảo Lộc - Lâm Đồng, trà này được gói trong giấy nilon bên trong lót một lớp giấy mạ kim loại để giữ hương được lâu, tôi nhớ trên bọc giấy có vẽ hình hai con hươu cao cổ, đứng giữa đồi trà, nhìn rất đẹp. Thứ trà cuối cùng cha tôi thường uống là trà móc câu Thái Nguyên, trà này được gửi người quen mua từ Thái Nguyên về, cha tôi mua vài lạng để dành đãi khách và uống dần.

Việc pha trà của cha cũng rất kì công. Nước pha trà phải được lấy từ nước mưa đựng trong những chiếc lu mệ tôi (nội tôi) thường để dưới những gốc cau trong suốt mùa mưa hay lấy từ giếng đồi nhà ông nội chú, nước này chảy ra từ những mạch nhỏ xuyên qua khe đá nên nước rất trong và mát. Củi để đun nước nấu trà là thứ củi mà quê tôi gọi là củi nè (đó là đọt tre, hay cành tre khô gãy), củi này mới cháy đượm và không có mùi, mùa đông lại đun bằng than. Tôi nhớ mãi bộ chén uống trà cũ của cha tôi có từ lâu lắm rồi, bình trà và những chén tống, chén quân nhìn rất đẹp, bộ chén này chỉ dùng khi có khách hoặc lễ, Tết. Chén bao giờ cũng được rửa sạch bằng nước cốt tro và chanh, rồi phơi dưới nắng mới đem cất.

Khi cha tôi pha trà, tôi có cảm tưởng như đang đọc lại một đoạn nào đó trong bút kí của Nguyễn Tuân, nào là tráng trà, tráng chén, hãm nước để khi pha trà không lạnh và lạt vị.

Buổi sáng, thế nào cha tôi cũng pha trà, uống cho tỉnh như cha tôi thường nói. Sau khi rót trà ra chén, cha thôi đưa lên mặt để hương trà phả nhẹ vào mắt, vào mặt rồi mới nhấp từng ngụm một như để cho trà tan trong cổ họng, buổi trưa cha tôi uống trà và nhìn nắng rơi ngoài hiên để thấy lòng thanh tịnh. Chiều tối hay khuya cha tôi uống trà, cha nhấp từng ngụm nhỏ và chậm như để thấm những điều mình nghĩ ngợi sau một ngày

Khi có khách, cha tôi cũng mời trà, cha và khách nhâm nhi những ly trà và trao đổi những chuyện mà hai người quan tâm hay hồi tưởng thời trai trẻ, trà làm cho câu chuyện càng thêm đậm vị.

Ngày xuân nhà tôi pha trà nhiều hơn, bếp nhà luôn đỏ lửa, lửa làm cho ấm nhà và giữ nước luôn sôi để chế trà khi khách đến. Cha tôi nói chế trà như vậy mới ngon. Hình như, mưa xuân làm cho mọi thứ trở nên chậm lại, từ tốn hơn, người ta như không muốn làm động cái không gian yên ắng với tiếng mưa rơi nhẹ và êm ở ngoài kia. Tôi từng thấy các chú tôi đến thăm nhà ngày Tết, họ ngồi bên bàn trà nhấp chén trà nóng, nhâm nhi lát mứt gừng, lời trao đổi cũng nhẹ nhàng, có lúc họ yên lặng nhìn mưa rơi, tâm trí như đang theo đuổi những ý nghĩ xa vời như không muốn phá vỡ không gian yên bình và tĩnh lặng ngoài kia.

Cha tôi cũng từng nói: thưởng trà cũng thể hiện cái cốt cách của con người. Người không hiểu về trà chỉ là uống, người hiểu trà gọi là thưởng trà. Thưởng trà mới thấy được cái hồn trà. Cũng có biết bao câu chuyện về đối nhân, xử thế quay quanh chén trà khiến lòng tôi mênh mang mãi

Uống trà cũng tùy từng người từng vùng. Tôi từng ngược phương Bắc, ghé nhà người quen hay đi thăm nhiều nhà chung quanh, thấy các cụ xưa uống nước trà rất đậm, nước như đóng trong chén. Cũng có khi tôi và bạn ngồi ở quán cóc, ở đó cũng có những chén trà nho nhỏ, thanh thanh, tôi và bạn vừa uống trà, vừa nhìn xe cộ, người người đi lại lũ lượt như nhìn dòng đời đang trôi chảy mãi miết không thôi. Rồi, tôi xuôi phương Nam, thấy vui với ly trà đá tràn đầy như hòa tan cả cái nắng phương Nam.

Tôi cũng từng nghe kể về trà hoa cúc, trà nhài, trà sen… Hình như không chỉ là trà mà nó còn là ý thích và là cách cất giữ bao kỉ niệm luyến thương của từng con người.

Tôi từng theo mệ tôi đến nhà bạn mệ, nhà một cung nữ xưa. Bước vào gian nhà xưa mát dịu, thơm thơm mùi trầm hương, tôi được uống nước trà sen cùng những miếng kẹo gương nhỏ. Cách pha trà của người từng sống ở cung cũng rất tinh tế, chẳng khác gì cách pha trà đạo của những người Nhật xưa. Vị trà sen chan chát, dịu ngọt, thơm hương cứ làm lưu luyến mãi. Sau này tôi mới biết thứ trà tôi được uống kia là trà được ướp trong những nụ sen. Khi vừa chập tối, nụ sen bắt đầu khép lại, người ta rải trà vào trong rồi buộc lại, đợi qua một vài đêm sương, trà đủ hương đủ tình, sáng ngày mới bơi thuyền ra rủ sen lấy trà, cất vào hộp để dành.

Thế mới biết, để có trà ngon mà uống, người làm trà cũng phải tốn bao công sức và cả tấm lòng. Khi uống, cả mệ tôi và bạn mệ không nói gì nhiều, hình như cả tâm tình đều được gửi cả vào chén trà nhỏ mà thơm hương này.

Thời gian và năm tháng trôi, cha tôi đã về miền mây trắng. Giờ đây, trà đã phát triển mạnh, có đủ loại trà trên thị trường. Vào siêu thị hay vào những cửa hàng bán trà, ta có thể tìm được thứ trà ta muốn từ trà móc câu hạng nhất cho đến trà bồm, trà thanh nhiệt… đủ loại nhưng với tôi, hương vị trà cha tôi pha xưa cứ phảng phất mãi không phai trong lòng!

Hoạ sĩ Linh Trang: Hội họa giữa dòng mơ và thực

Hoạ sĩ Linh Trang: Hội họa giữa dòng mơ và thực

Baovannghe.vn - Kỉ niệm khó quên trong những năm tháng du học, trải nghiệm khi bị mắc kẹt tại Nepal trong thời gian dịch Covid-19 bùng phát… tất cả đã được họa sĩ trẻ Linh Trang (sinh năm 1996 tại Hà Nội) thể hiện qua những bức tranh trừu tượng tại triển lãm cá nhân đầu tiên với chủ đề “Hip hip hooray!” (tạm dịch là: Hoan hô) vừa diễn ra tại ART30 Gallery, số 30 phố Quang Trung, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội.
Ta còn trên mặt đất - Thơ Hà Đức Hạnh

Ta còn trên mặt đất - Thơ Hà Đức Hạnh

Baovannghe.vn- Ta còn đi trên đất/ Bình minh lên bóng dài/ Cúi gom từng ránh lẻ
Ấn tượng với những trang báo Xuân tại Bảo tàng Báo chí Việt Nam

Ấn tượng với những trang báo Xuân tại Bảo tàng Báo chí Việt Nam

Baovannghe.vn - Bảo tàng Báo chí Việt Nam tại Hà Nội đã chính thức khai mạc trưng bày chuyên đề “Từ trang nhất đến trang sử - Xuân đất nước, Đảng soi đường.”
Leo Đinh: Làm IP, có những giấc mơ “đuổi 10 năm mới tới”

Leo Đinh: Làm IP, có những giấc mơ “đuổi 10 năm mới tới”

“Tôi có niềm tin khi người sáng tạo IP (Intellectual Property - Tài sản trí tuệ) cởi mở và kết hợp với các đơn vị có uy tín trong nước, chúng ta có thể xây dựng hệ sinh thái vững chắc và giúp IP đi được xa hơn”.
Đại tự sự trong văn học Việt đương đại

Đại tự sự trong văn học Việt đương đại

Baovannghe.vn - Có những thời đại mà con người bước đi trong đại tự sự - một thuật ngữ mà văn chương và triết học hậu hiện đại thường dùng để chỉ những “câu chuyện lớn” trong đời sống.