Diễn đàn lý luận

Nói thêm về Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp

Lã Nguyên
Lý luận phê bình 09:14 | 18/09/2026
Baovannghe.vn - Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử được Nhà xuất bản Giáo dục in lần đầu vào năm 2002. Sau đó, vào các năm 2005, 2007, 2012, 2018, chuyên luận liên tục được tái bản, lúc đầu ở Nhà xuất bản Giáo dục, về sau ở Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.
aa

Vào năm 2024, công trình vượt ra ngoài biên giới quốc gia, đến với độc giả quốc tế nhờ được dịch ra tiếng Pháp. Bản dịch tiếng Pháp (La Poétique du Kiều) do Trần Lê Bảo Chân thực hiện, Nhà xuất bản Kimé phát hành ở Paris trong khuôn khổ Dự án hợp tác Việt - Pháp giữa Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Sư phạm Cao cấp Paris mà Nhà xuất bản Đại học Sư phạm là đơn vị điều phối về phía Việt Nam. Nhân đây, tôi muốn nói thêm đôi lời về chuyên luận hi hữu này.

Nói thêm về Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
La Poétique du Kiều - ấn bản tiếng Pháp của Thi pháp Truyện Kiều. Nguồn ảnh: NXB Đại học Sư phạm

Tôi xem Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ. Đó là thành quả của cả một quá trình nghiền ngẫm, thai nghén lâu dài của tác giả. Rất dễ nhận ra nhiều bình diện tạo thành nội dung cốt lõi của chuyên luận đã được ông trình bày trong hàng loạt công trình khác, viết suốt hai mươi năm, kể từ những năm tám mươi của thế kỷ trước, ví như Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, hay Những thế giới nghệ thuật thơ.

Tuy nhiên, phải đến khi Thi pháp Truyện Kiều ra đời, ta mới thấy hết ý đồ lớn lao mà tác giả đã đặt vào công trình nghiên cứu này: Nỗ lực chứng minh, rằng tuy vay mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân, nhưng với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sáng tạo ra một tác phẩm độc đáo, có giá trị văn học lớn, hoàn toàn khác biệt với nguyên tác của tác giả Trung Hoa.

Ý đồ khoa học nói trên được Trần Đình Sử thực hiện bằng con đường nghiên cứu so sánh - lịch sử văn học. Ông không “so sánh tay đôi” giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân để chứng minh sự “hơn thua” như nhiều người đi trước đã làm. Đọc Thi pháp Truyện Kiều, tôi thấy nhãn quan so sánh văn học của ông mở ra hết sức rộng lớn. Ông đặt sáng tác của Nguyễn Du trên cái nền của cả văn hóa, văn học Trung Hoa, lẫn văn hóa, văn học Việt Nam để “nghiên cứu ảnh hưởng”, dò tìm nguồn gốc trực tiếp và gián tiếp của Truyện Kiều, đồng thời tiến hành “so sánh loại hình” để xác định bước ngoặt và bản chất sáng tạo nghệ thuật trong kiệt tác của thi hào dân tộc. Ông so sánh Truyện Kiều với văn hóa, văn học Trung Hoa ở tất cả các cấp độ: từ tư tưởng triết học, tôn giáo, thể loại văn học, chủ đề tác phẩm, cốt truyện, nhân vật, cho đến phong cách. Ông chỉ ra ba nguồn ảnh hưởng từ văn hóa, văn học Trung Hoa tới kiệt tác của Nguyễn Du: thứ nhất, trực tiếp nhất, ai cũng biết: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân; thứ hai, dòng “tiểu thuyết tài tử - giai nhân” phát tích từ đời Đường, định hình ở đời Minh, trở nên thịnh hành vào thời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long và đến đầu thế kỷ XX thì suy thoái thành truyện tình rẻ tiền của phái “Uyên ương - Hồ điệp” và, thứ ba là “thơ cổ điển Trung Hoa”. Theo Trần Đình Sử, Nguyễn Du đã tiếp thu đầy sáng tạo nguồn thơ ca và văn xuôi Trung Quốc để mang lại cho Truyện Kiều một chất lượng mới.

Nhưng cần phải nhấn mạnh điều này: Truyện Kiều của Nguyễn Du là kết tinh của văn hóa và tài năng Việt Nam. Đó là hạt giống du nhập từ Trung Quốc, khi đem về Việt Nam, nó được gieo trên cánh đồng phì nhiêu của tiếng Việt và tác phẩm văn học tiếng Việt để từ đây mọc lên một cái cây cường tráng. Trần Đình Sử tìm thấy hai nguồn gốc thi pháp có ảnh hưởng trực tiếp, làm nên hình thức nghệ thuật độc đáo của kiệt tác này: ngâm khúctruyện Nôm.

Trần Đình Sử mở rộng khảo sát mọi nguồn mạch ảnh hưởng tới sự ra đời của Truyện Kiều là để xác định bản chất sáng tạo của Nguyễn Du. Ông chứng minh đầy thuyết phục rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du là sản phẩm của một ý thức chủ thể hoàn toàn khác so với ý thức chủ thể trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Từ ý thức chủ thể ấy, Nguyễn Du dựng lên một thế giới nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân và sáng tạo ra một mô hình tự sự làm thay đổi bản chất thể loại của tác phẩm vốn được vay mượn từ cốt truyện nước ngoài.

Thế giới nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, như Trần Đình Sử đã phân tích, thể hiện một chủ đề tư tưởng mới, khác hẳn với chủ đề tư tưởng của Kim Vân Kiều truyện. Là tác phẩm có cốt truyện được vay mượn từ tiểu thuyết tài tử - giai nhân, nhân vật trong Truyện Kiều hầu hết là “người tài,” ai cũng nể trọng cái tài. Nhưng chữ tâm, chứ không phải chữ tài, mới là nguyên cớ, là động lực thúc đẩy mạch vận động của truyện kể. Trần Đình Sử chứng minh, rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du được sáng tạo ra là để “thử thách cái tâm” và thực sự đó là tiểu thuyết về chữ tâm. Bên cạnh chữ tâm, trong Truyện Kiều còn có chữ thân với nghĩa là “mình” là “thân thể”. Tâm là bình diện đời sống tinh thần, là lương tâm, nghĩa vụ, đạo lí, là bình diện “hình nhi thượng”. Thân là bình diện “hình nhi hạ”, là phần vật chất duy nhất của con người, là phần hữu hạn, nhỏ bé, dễ hư nát nhất của bất cứ ai. Nó cũng là phần vô thức, bản năng, là phần riêng tư nhất mà người ta có thể “đem cho, liều lĩnh”. Đó cũng là phần quý giá nhất, vì có thân thì mới có người, nhờ có thân, người ta mới biết vui sướng, hay đau đớn. Cuộc đời lưu lạc của Thúy Kiều là chuỗi ngày đày đọa của tấm thân. Truyện Kiều của Nguyễn Du được xây dựng chính là để nhân vật cảm thấy được thấm thía nhất cái thân đau đớn, ê chề, nhục nhã của mình. Và như thế, “tài - mệnh tương đố” không phải là chủ đề tư tưởng của Truyện Kiều. Ngược với tất cả các nhà nghiên cứu, Trần Đình Sử khẳng định, chủ đề cốt lõi của tác phẩm là mối quan hệ của tài tâm, là “thân - mệnh tương đố”. Với chủ đề tư tưởng này, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đưa chủ nghĩa nhân đạo của dân tộc lên đỉnh cao của nó, vượt ra ngoài khuôn khổ tư tưởng của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, của Nho gia, Phật giáo và nhiều hệ tư tưởng khác. Theo logic lập luận của Trần Đình Sử, ta thấy, để thể hiện tư tưởng chủ đề nói trên, Nguyễn Du đã “sáng tạo ra một tác phẩm mới” bằng cách “nhào nặn lại” toàn bộ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Ông nhào nặn lại cốt truyện đã vay mượn, biến tiểu thuyết tài tử - giai nhân thành tiểu thuyết tâm lí, đặt trọng tâm truyện kể vào “khúc đoạn trường”. Ông nhào nặn lại các nhân vật, biến “nhân vật đạo lí thành nhân vật tâm lí”. Ông sáng tạo ra hình tượng người trần thuật kiểu mới, trong đó các chức năng tự sự, trữ tình và nghị luận được hợp nhất lại với nhau.

Một điểm khác, thế giới nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyên Du là thế giới của một cái nhìn rất riêng về con người. Không thể phủ nhận việc Nguyễn Du đã kế thừa quan niệm truyền thống về con người, ví như quan niệm cổ - trung đại về “con người vũ trụ, con người tỏ lòng”, hay cái nhìn của dân tộc về con người từ “cảm quan cây trái”. Nhưng đặt trọng tâm xây dựng nhân vật vào chữ “tâm” và chữ “thân”, Nguyễn Du đã chuyển cái nhìn từ con người vũ trụ, con người tỏ lòng, sang con người cá nhân, con người tấm lòng. Ông mô tả thế giới nhân vật như “thế giới của những tấm lòng” đầy phức tạp, khiến nhân vật không bao giờ đồng nhất với những vai văn học có sẵn. Ông xóa bỏ khoảng cách giá trị giữa người trần thuật và nhân vật, mô tả nhân vật từ điểm nhìn thân mật, gần gũi, tăng cường tính thời sự cho truyện kể. Và đây là phát hiện tinh tế của Trần Đình Sử: Trong văn học tự sự trung đại, Truyện Kiều gần như là tác phẩm đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam sớm thực hiện trần thuật, tả tình, cũng như tả cảnh, từ điểm nhìn của nhân vật.

Lại nữa, thế giới nghệ thuật trong Truyện Kiều có không gian, thời gian riêng. Trần Đình Sử chứng minh, ứng với loại “tiểu thuyết lưu lạc”, kể về cuộc đời ba chìm bảy nổi của nhân vật, Truyện Kiều mô tả hai loại không gian: “Không gian lưu lạc và không gian giam hãm”. Trong tác phẩm, hai loại không gian này tạo thành “mô hình thế giới” mà các nhân vật sống, cảm thấy vị trí và số phận của mình. Đây cũng là hai loại không gian chủ yếu của đời sống mà con người phải đối phó để tồn tại. Cho nên, có thể nói, với hai loại không gian này, Nguyễn Du đã thể hiện hết các cung bậc tình cảm chân thật không chỉ của người đương thời, mà còn của con người nói chung. Xét từ góc độ thể loại, theo Trần Đình Sử, Truyện Kiều đã chuyển từ “không gian kịch”, loại không gian chỉ cho phép nhìn thấy nhân vật từ một phía, sang “không gian tiểu thuyết” với cái nhìn đa chiều. Ông nhấn mạnh những điểm giống nhau và khác của thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều và trong văn học tự sự trung đại. Chẳng hạn, so với truyện Nôm, Truyện Kiều là trường hợp hiếm hoi có thể hiện tư tưởng định mệnh, nên trong tác phẩm có “thời gian định mệnh” với chức năng duy nhất là phác ra cái xu hướng và sự kiện tất yếu sẽ xảy ra trong cuộc đời của nhân vật. Nó là thời gian siêu hình, chỉ tồn tại trong quan niệm của nhân vật như là một biểu hiện đời sống nội tâm thần bí của nó. Thời gian chủ yếu trong Truyện Kiều là “thời gian sự kiện” lấy con người và hành động sống của nó làm thước đo. Trong Truyện Kiều, sự kiện thường xảy ra đột ngột, ngẫu nhiên, nên thời gian của truyện là “thời gian gấp khúc, nhịp điệu gấp gáp”, đối nghịch với hạnh phúc và sự tồn tại của con người. Sự kiện truyện kể ở đây còn gắn với “thời gian sinh hoạt” diễn ra trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, có “ngày”, có “buổi”... Nguyễn Du tiếp thu quan niệm truyền thống về thời gian tuần hoàn, đồng thời ông cũng thể hiện sự mất mát, đổ vỡ của hạnh phúc, sự phôi pha của nhan sắc, sự biến đổi của đời người trong quá khứ là một trật tự thời gian không thể đảo ngược.

Cuối cùng, thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của Truyện Kiều, Trần Đình Sử nhận ra một “hình tượng tác giả” đặc sắc, khác hẳn với con người thật trong sinh hoạt thường nhật của Nguyễn Du. Ông nhận ra hình tượng tác giả ấy qua giọng điệu trần thuật, qua sự lặp lại của từ ngữ mà Nguyễn Du thường dùng trong tác phẩm…

Nói thêm về Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
PGS.TS Nguyễn Bá Cường và GS.TS Trần Đình Sử bên hai cuốn sách Thi pháp Truyện Kiều phiên bản tiếng Việt và tiếng Pháp. Nguồn ảnh: NXB Đại học Sư phạm

Ở Việt Nam, có lẽ Trần Đình Sử là người đầu tiên nghiên cứu mô hình tự sự của Truyện Kiều từ góc độ lí thuyết tự sự học hiện đại. Ông cho rằng, so với mô hình tự sự của Kim Vân Kiều truyện, truyện tài tử - giai nhân và tiểu thuyết cổ điển của Trung Hoa nói chung, hình thức tự sự của Truyện Kiều có ba điểm khác biệt cơ bản. Thứ nhất, ở đây có sự sáng tạo đột xuất của Nguyễn Du: Thay mô hình tự sự khách quan từ đỉnh Olympe, theo ngôi thứ ba, biết hết, thấy tất bằng mô hình tự sự ở ngôi thứ ba nhưng đặt tiêu cự vào tầm nhìn của nhân vật thể hiện sự cảm thụ thế giới mang tính cá nhân, kèm theo lời bình luận, đánh giá thiên về cảm xúc, từ bỏ hình thức kể “mộc” (bạch miêu) và lối chêm thơ vào truyện, thực hiện sự tổng hợp tự sự - trữ tình vốn có truyền thống từ văn học dân tộc. Thứ hai, Truyện Kiều của Nguyễn Du lấy “số phận bi kịch” của nhân vật làm nền tảng tổ chức cốt truyện. Điều này giúp tác phẩm phá vỡ, vượt ra ngoài cấu trúc ba thành phần với lối kết thúc có hậu của mô hình tự sự truyền thống: mất - tìm - tìm thấy (của sử thi), thịnh - suy - thịnh (của truyện sử), hoặc gặp gỡ - ly tán - đoàn viên (truyện Nôm). Kiệt tác của Nguyễn Du có nhiều yếu tố của tiểu thuyết hiện đại. Theo mô hình cốt truyện, Trần Đình Sử xếp tác phẩm vào loại “tiểu thuyết cảm thương”, gần với tiểu thuyết của chủ nghĩa tình cảm ở châu Âu. Thứ ba, đây là tác phẩm giàu chất thơ: chất thơ ở những bức tranh phong cảnh, ở thế giới được mô tả theo nguyên tắc nội cảm hóa.

Trần Đình Sử có nhiều phát hiện mới mẻ về ngôn ngữ nghệ thuật của Truyện Kiều. Ông chỉ ra “ngôn ngữ độc thoại nội tâm, giọng cảm thương” của tác phẩm. Ông phân tích cách thức tác giả sử dụng tài tình ngôn ngữ màu sắc, đối ngẫu, phép đối, ẩn dụ, điển cố… Ông chứng minh Nguyễn Du là “nghệ sĩ ngôn từ”, vì nhà thơ không chỉ sử dụng ngôn từ khéo léo, mà biết tổ chức, tạo ra thứ ngôn ngữ có khả năng tự mô tả và biểu hiện, tự cất lên tiếng nói của mình.

Tóm lại, Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử gây được tiếng vang, có tầm ảnh hưởng rộng lớn không chỉ ở trong nước, mà còn vượt ra ngoài biên giới quốc gia để đến với độc giả quốc tế trước hết nhờ sự đột phá của ông trong việc phát hiện những giá trị nghệ thuật lớn lao của Truyện Kiều. Với công trình này, lần đầu tiên các nguồn ảnh hưởng tới Truyện Kiều từ văn hóa Trung Hoa và văn hóa Việt Nam được phân tích cặn kẽ, kỹ lưỡng. Cũng với công trình này, lần đầu tiên Truyện Kiều được chứng minh là sản phẩm của một ý thức chủ thể khác: Vay mượn cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã nhào nặn lại tất cả để tạo ra một tác phẩm khác, thuộc thể loại khác với một thế giới nghệ thuật, mô hình tự sự và ngôn ngữ, giọng điệu riêng. Để có được những phát hiện ấy, ngoài tài năng và sự sắc sảo, Trần Đình Sử phải tạo ra những đột phá trong phương pháp luận nghiên cứu. Với Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử, lần đầu tiên phương pháp nghiên cứu so sánh - lịch sử văn học và tự sự học được vận dụng một cách sáng tạo, khoa học vào việc phân tích một tác phẩm văn học. Chuyên luận của Trần Đình Sử còn mở ra cho tâm trí người đọc cả một kho tri thức khổng lồ về văn học và văn hóa trung đại của Việt Nam, Trung Hoa và khu vực Đông Á nói chung. Cho nên, ai cũng tin và có thể nói, rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du là kiệt tác có sức sống lâu bền và là đề tài “nói mãi không cùng”, nhưng để giúp cho niềm tin và niềm tự hào của độc giả về pho tượng đài văn hóa vĩ đại này thật sự có cơ sở khoa học vững chắc, thì tôi nghĩ, cho đến nay, chưa mấy ai làm được nhiều như Trần Đình Sử với cuốn Thi pháp Truyện Kiều của ông.

Lịch sử văn học từ những phạm trù thẩm mĩ

Lịch sử văn học từ những phạm trù thẩm mĩ

Baovannghe.vn - Điều gì làm nên diện mạo của văn học Việt Nam: Hiện thực đời sống, trí tưởng tượng kì ảo, tiếng cười trào phúng hay những bi kịch của con người trước lịch sử?
Nền tảng cho một diện mạo giáo dục mới

Nền tảng cho một diện mạo giáo dục mới

Baovannghe.vn- Nghị định số 271/2026/NĐ-CP vừa được ban hành, trong đó có quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
Hương nhài phố vắng. Truyện ngắn của Trần Thủy

Hương nhài phố vắng. Truyện ngắn của Trần Thủy

Baovannghe.vn- Mùa hè năm ấy, những buổi chiều mải miết, mặt trời chẳng chịu lui về nghỉ ngơi. Nắng chạy dài trên giàn hoa giấy trước sân đỏ rực.
Nghỉ hè sợ nghỉ hưu bứt phá phòng vé Việt

Nghỉ hè sợ nghỉ hưu bứt phá phòng vé Việt

Baovannghe.vn - Bỏ xa các đối thủ cùng thời điểm trên đường đua ra rạp mùa Quốc khánh, phim Nghỉ hè sợ nghỉ hưu dẫn đầu thị trường với doanh thu ấn tượng vượt 178 tỷ đồng.
Miền quê cổ tích - Thơ Lương Mỹ Hạnh.

Miền quê cổ tích - Thơ Lương Mỹ Hạnh.

Baovannghe.vn- Em theo anh về miền quê cổ tích/ Có cây đôi tình yêu vẫy nắng ngàn năm