Diễn đàn lý luận

Tươi tắn Đỗ Chu - Bút ký chân dung của nhà văn Tô Hoàng

Nhà văn Tô Hoàng
Chân dung văn học
10:33 | 10/07/2024
Đỗ Chu quan sát tinh tường, sắc sảo, đầy cách nhìn cách cảm riêng thế giới xung quanh và lột thành chi tiết văn chương để đưa vào tác phẩm.
aa

Bạn bè dặn, ông ấy thức khuya nên dậy muộn. 9 giờ sáng hãy tới...

... Đón khách, lúc nhà văn lọ mọ bật bếp ga đun nước pha trà, mình tranh thủ ghé thăm bàn viết của bạn. Vẫn là chiếc bàn thấp tè, với chỗ ngồi là chiếc ghế nức mây của đồng bào Dao hay Thái. Ngọn đèn đêm chưa tắt. Trên mặt bàn là những trang viết dang dở. Chữ viết bằng bút, xít hàng, ken đặc. Chi chít vòng tròn, móc lên ngoặc xuống để sửa chữa, bổ sung. Hỏi, đang viết gì? Đáp, viết bài giới thiệu tập thơ một thằng đàn em ở quê nhờ...

(Đến thăm Đỗ Chu, ngày đầu đông 2021)

Tươi tắn Đỗ Chu - Bút ký chân dung của nhà văn Tô Hoàng
Nhà văn Đỗ Chu - Ảnh: Tư liệu

Những truyện ngắn đầu tiên như Ao làng, Thung lũng cò, Hương cỏ mật, Mùa cá bột của Đỗ Chu đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội vào hai năm 1962-1963. Thời gian ấy, những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học tên tuổi sau này như Phạm Tiến Duật, Nghiêm Đa Văn, Tô Nhuận Vỹ, Vương Trí Nhàn, Lâm Quang Ngọc... đang còn là sinh viên năm thứ hai, khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Những truyện ngắn ấy đầy sức hấp dẫn và cũng đầy chất kích thích các chàng sinh viên học ngành sư phạm nhưng lại ấp ủ hoài bão trở thành nhà văn, nhà thơ...

Nghiêm Đa Văn đóng những tập giấy giá năm hào hai (giá thời điểm ấy) gộp lại với nhau viết một lèo hai cuốn tiểu thuyết tựa đề rất hay nhưng không bao giờ ra mắt bạn đọc - Lá nhoCon ngựa cơm cháy. Lâm Quang Ngọc ghi lên vách tường cạnh chỗ nằm ở ký túc xá sinh viên: “Cố gắng đuổi kịp và vượt Đỗ Chu!” Các chàng sinh viên mê văn chương ấy càng ngạc nhiên, sửng sốt hơn khi phát hiện ra Đỗ Chu khi ấy mới mười bảy tuổi, đang là học sinh năm cuối trường Phổ thông cấp ba Hàn Thuyên, thị xã Bắc Ninh!

Chiến tranh chống Mỹ cứu nước diễn ra, tờ tạp chí Văn nghệ Quân đội ngay lập tức trở thành một trung tâm văn bút không chỉ thu hút các nhà văn đã khẳng định tên tuổi mà còn là nơi “lăng-xê” kịp thời sáng tác của những người viết mới xuất hiện. Đỗ Chu nhập ngũ, trở thành lính Phòng không - Không quân. Dường như dưới tác động của anh, ở binh chủng này xuất hiện cả một loạt cây viết khác như Nguyễn Trí Huân, Lưu Quang Vũ, Thao Trường (tức Nguyễn Khắc Trường sau này), Dương Duy Ngữ, Duy Khán…

Đỗ Chu được các nhà văn đàn anh tại Tòa soạn Văn nghệ Quân đội như Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hải Hồ, Mai Ngữ... đón nhận như một đồng nghiệp ngang ngửa văn tài. Người viết bài này từng được chứng kiến giây phút hai “thủ lĩnh” của tờ Văn nghệ Quân đội là Vũ Cao và Từ Bích Hoàng vẻ đầy tự hào, mãn nguyện mỗi khi “khoe” số báo mới bên cạnh bài “đinh” của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu... là bài “đinh” của Đỗ Chu.

Tổng Biên tập Vũ Cao lật bài viết mới in của Đỗ Chu trên tờ tạp chí, cười vui nói với chúng tôi: “Một bài ký thôi hắn đã chiếm hơn 10 trang. Rất vân vi, rất tỉa tót, rất lòng thòng... Cái lạ là khó thò bút biên tập cắt được một dòng nào, ngay cả một chữ của nó”.

Phó Tổng Biên tập Từ Bích Hoàng, giọng nhẹ nhàng, cân nhắc, nhưng không kém phần đe nẹt cánh trẻ mới cầm bút bọn tôi: “Ấy nhưng đừng cậu cô nào bắt chước cách viết của Đỗ Chu nhé! Cứ đường ta ta đi. Bắt chước ông tướng ấy là tiêu ma sự nghiệp đấy!”

Chiến tranh leo thang của giặc Mỹ khi ấy đã lan ra khắp miền Bắc. Kể về sinh hoạt, cách thức ăn nói, yêu đương, tâm lý luyến nhớ quê hương của đám lính trẻ giữa nơi lửa đạn đạn - không ai kể hay, kể sinh động, kể tươi tắn, kể giàu sức sống như Đỗ Chu trong Chiến sĩ quân bưu, Thành phố bên kia cầu, Chuyện mùa Hạ...

Bạn viết cùng trang lứa thì không một ai dám coi anh chỉ có học vấn phổ thông. Đỗ Chu đọc nhiều, sức nhớ tốt, trí thông minh hơn người, lại biết khái quát, đúc rút rất nhanh điều đã đọc thành vốn liếng của mình. Nhà văn Nguyễn Khải từng nói, tài năng của một nhà văn là ở chỗ anh ta biết đặt tên cho từng hiện tượng, từng sự việc mà người khác chỉ cảm nhận được thôi, nhưng không biết biểu đạt ra sao. Về phương diện này Đỗ Chu nổi trội. Anh quan sát tinh tường, sắc sảo, đầy cách nhìn cách cảm riêng thế giới xung quanh và lột thành chi tiết văn chương để đưa vào tác phẩm.

“Gió từ trên núi dịu dàng thổi xuống, những cây tre đực trên lũy cọ xiết vào nhau kêu ken két như có ai cầm mảnh sành cứa vào thân chúng”...

“Sau làng em có trái núi Voi, núi Voi đối với tụi nhỏ chúng em như người bạn lớn tuổi, hiền từ...

“Cái đỉnh tháp chuông nhà thờ nom xa như một dấu than...”

Những chi tiết đắt giá như vậy đầy ắp trong các truyện của Đỗ Chu. Điều đáng kể, anh có một trí tưởng tượng nhanh nhạy, khoáng hoạt không ai bì. Trí tưởng tượng ấy lại được phù trợ bởi sức lao động bền bỉ, chăm chỉ và một ý thức trách nhiệm cao với từng con chữ, từng dòng viết.

Xin được kể chuyện này. Một lần, trại sáng tác nọ bố trí ở một kho chứa các nguyên vật liệu thông tin của quân đội ngay sát bên trạm khí tượng Láng, Hà Nội. Suốt ngày tiếng đóng mở hòm gỗ ồn ã, tiếng xe tải đến, đi rú ga inh tai nhức óc, tiếng các nhân viên coi kho nói cười oang oang. Nhưng bên kia bức tường lại là vẻ ắng lặng của khu vườn đo mưa, đo gió với bóng áo trắng của các cô gái nhân viên trạm khí tượng. Đỗ Chu thách đố mọi người viết một truyện ngắn bằng những gì mắt thấy tai nghe diễn trước mắt. Kết cục: người thắng cuộc không ai khác mà chính là Đỗ Chu - anh đã viết nên truyện ngắn Chuyện mùa Hạ khá nổi tiếng sau này. Tiếng lách cách mở đóng hòm gỗ thành tiếng gõ mạn thuyền lùa cá trên sông. Tiếng xe vào, xe ra thành tiếng rì rầm của những đoàn xe kéo pháo. Còn đóng vai trò khá quan trọng ở cái thị xã trống hoang trống huếch kia chính là các cô gái đo mưa đo nắng, không đi sơ tán mà ở lại tử sinh với bom đạn Mỹ cùng các chiến sĩ một đơn vị cao xạ. Đọc văn của Đỗ Chu ai cũng tưởng rằng chữ nghĩa, câu cú cứ tuồn tuột chảy ra từ ngòi bút của anh. Nhưng thực tế anh viết hệt như đánh vật với từng con chữ. Với chính truyện Chuyện mùa Hạ kể trên, người viết bài này đã chứng kiến suốt một tuần lễ đầu anh chỉ viết được trên nửa trang, gạch xóa, bổ sung, thêm chỗ này, bớt chỗ kia. Tóm lại ngó mắt vào trang bản thảo văn xuôi của anh mà chi chit dập xóa, ngoặc lên kéo xuống, những mảng đan vá như một bản thiết kế của một kiến trúc sư. Tóm lại Đỗ Chu viết trang văn xuôi mà y hệt như đang làm thơ. Khi dòng viết tắc, anh bỏ sang phòng khác quấy nhiễu, trêu chọc bạn bè. Rồi phóng xe vào phố dạo chơi. Khi mọi người tưởng đâu như anh ngưng viết rồi, bỗng anh xòe ra hơn 60 chục trang viết tay!

Nói thêm về sự kỹ càng đối với chữ nghĩa, cũng là nói thêm trí nhớ tuyệt vời của anh

Lại vẫn Chuyện mùa Hạ ấy, sau khi đã “chiến thắng” các bạn viết về khả năng tạo dựng chuyện từ những chi tiết cận kề, Đỗ Chu tuyên bố anh có thể đọc thuộc lòng từ trang đầu đến trang cuối truyện ngắn đó mà không sai sót một dấu chấm, dấu phẩy. Còn nhớ rõ thuở đó kiếm được điếu thuốc đầu bằng, để trong bao mà hút đã là sang trọng, đáng nể lắm. Đỗ Chu rút trong túi ra nửa tút thuốc lá “Tam Đảo” đặt trước mặt chúng tôi, cao giọng: “Tớ mà vấp váp khúc nào, tớ biếu không các cậu cả 5 bao này. Nếu tớ thắng cuộc, các cậu phải góp tiền mua chợ đen trả tớ 5 bao khác!”

Anh em trại viên quây thành vòng. Lê Lựu cầm tập bản thảo trong tay, đảm trách vai trò giám khảo. Đỗ Chu chắp tay sau lưng đi đi, lại lại và bắt đầu thủng thẳng đọc bằng trí nhớ. Đọc cả dấu chấm, dấu phẩy, ngoặc đơn, ngoặc kép, chỗ xuống dòng. Chỉ cần đến trang thứ 10, Lê Lựu lắc đầu tuyên bố: “Chịu thầy!”

Vào những năm tháng chiến tranh ấy các khóa đào tạo người viết trẻ, các trại sáng tác văn học do Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trì mở ra liên tục. Trong giờ lên lớp, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà văn đàn anh thường lấy truyện ngắn của Đỗ Chu làm dẫn chứng về cách thức cấu tứ, vận dụng tu từ, cách tạo chi tiết... Song ngay từ dạo ấy, bạn đọc cũng như học viên, trại viên của các lớp, các trại này đều thấy rõ một điểm nổi trội nhất trong các truyện của anh: ngòi bút Đỗ Chu luôn hướng về việc ca ngợi con người, những phẩm giá tốt đẹp trong quan hệ giữa con người với con người nói riêng. Đó là nét hiện thực cơ bản, tạo nên sức mạnh tinh thần của người dân miền Bắc trong thời kỳ vừa dựng xây chủ nghĩa xã hội vừa chiến đấu, tích cực chi viện sức người sức của cho miền Nam ruột thịt.

Đọc truyện ngắn của Đỗ Chu, người đọc thấy thêm yêu cuộc đời, yêu đồng bào, đồng chí của mình và tình yêu ấy đã giúp họ vượt qua biết bao thử thách, khó khăn. Cùng với các sáng tác văn học khác như thơ của Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ... các ca khúc trữ tình của Huy Du, Huy Thục, Doãn Nho, Vũ Trọng Hối, Nguyễn Đức Toàn, Xuân Hồng, Phạm Minh Tuấn... các vở kịch, các bộ phim cùng thời, truyện ngắn của Đỗ Chu không chỉ động viên đồng bào chiến sĩ vào những năm tháng chiến tranh, mà còn lưu giữ mãi giá trị của việc phản ánh tình người, tinh thần cao thượng và sức hy sinh chịu đựng của cả dân tộc ở một khúc ngoặt lịch sử.

Lại nhớ rõ, dành cho sáng tác văn chương, thuở ấy trên miền Bắc chỉ có tờ báo Văn nghệ mỗi tuần ra một số và tờ tạp chí Văn nghệ Quân đội mỗi tháng ra một số. Chuyển tải văn chương tới cho bạn đọc xa gần còn có thêm buổi Đọc chuyện đêm khuya của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Điều kỳ lạ này chắc nhiều người đã quên: Cùng với gạo đạn, xăng nhớt vượt đường Trường Sơn dày đặc bom đạn luôn có những cuốn tạp chí Văn nghệ Quân đội. Sau này khi đã vào làm lính ở chiến trường Kon Tum, khi đón những kiện hàng từ Trường Sơn chuyển vào, anh em lính tráng yêu văn học chúng tôi đều nóng ruột chờ đợi được cầm trên tay cuốn tạp chí Văn nghệ Quân đội và lật ngay ra tìm đọc cho bằng được những truyện ngắn, những bài ký của Đỗ Chu.

Những năm yên hàn sau tháng Tư năm 1975, ngồi với nhau, những cây viết từng mặc áo lính ở mặt trận Đường Chín Khe Sanh, Trị Thiên - Huế như Xuân Đức, Tô Đức Chiêu, Lê Thị Mây, Tô Nhuận Vỹ..., ở Mặt trận Quảng Đà - Khu V như Thái Bá Lợi, Trung Trung Đỉnh, Quang Chuyền, Nguyễn Thụy Kha, Cao Duy Thảo... hay ở Nam Bộ như Trần Văn Tuấn, Văn Lê, Thái Thăng Long, Lê Văn Vọng... đều vui vẻ, chân thành xác nhận cùng nhau: những sáng tác của Đỗ Chu không chỉ giúp họ nạp thêm tình yêu cuộc đời, tình yêu đồng đội và cuộc sống nơi trận mạc, mà còn thực sự trực tiếp khơi ngợi cảm hứng sáng tác, cách tiếp cận văn chương, văn phong và bút pháp của nhiều anh chị em.

Thành phố Hồ Chí Minh

Xuân Giáp Thìn 2024

Cái Tôi văn hóa trong tùy bút Đỗ Chu: KHÁM PHÁ VÀ TRI ÂM Kỷ niệm Mùa thu thứ 5 – Chuyên đề Viết và Đọc Sáng tạo - Những bước chân của sự can đảm Nhà thơ Phạm Thị Ngọc Liên: Một mình em, một mình sen Phiêu lưu với sự viết
Những thể nghiệm sáng tạo và tiếp nhận trong Văn học

Những thể nghiệm sáng tạo và tiếp nhận trong Văn học

Trong lịch sử nghiên cứu truyện trinh thám, nhiều nhà phê bình hình dung đó là một thể loại văn học tĩnh tại và nguyên khối, luôn vừa vặn trong những...
Chị tôi - Thơ Phạm Sao

Chị tôi - Thơ Phạm Sao

Lang thang lúc khóc khi cười/ Ôm chiếc gậy chị khát lời ru con/ Xuân thì độ tuổi trăng tròn/ Trường Sơn thuở ấy chỉ còn trong mơ.
Sóng sông - Truyện ngắn của tác giả Vũ Thanh Thế

Sóng sông - Truyện ngắn của tác giả Vũ Thanh Thế

Hôm nay không biết là ngày gì mà từ sáng tới giờ chẳng chở được người khách nào. Vũ trở về sớm hơn thường lệ trong tâm trạng buồn bã. Ra sông ngồi mắt hướng về
Mùa hè trong thi ca Việt- những lát cắt đặc biệt

Mùa hè trong thi ca Việt- những lát cắt đặc biệt

Mùa hè vào thi ca Việt còn gắn với những ngày tháng cụ thể như những lát cắt đặc biệt đi qua trong cuộc đời mỗi người. Xin bắt đầu với những bài thơ tả mùa hè
Triển khai Dự án Khu công nghiệp Đông Nam Á giai đoạn 2

Triển khai Dự án Khu công nghiệp Đông Nam Á giai đoạn 2

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chấp thuận để UBND tỉnh Long An chuyển mục đích sử dụng 219,44 ha đất trồng lúa sang làm Dự án Khu công nghiệp Đông Nam Á giai đoạn 2