![]() |
| Trại viết văn học thiểu số năm 2025. Nguồn: NVCC |
Mỗi khi tháng tám về, cùng với kí ức về một mùa thu lịch sử, chúng ta thường nghĩ nhiều hơn về hai chữ đất nước. Đất nước không chỉ được viết bằng những mốc son lịch sử mà còn hiện diện qua cảnh sắc, phong tục, tiếng nói trong những áng văn chương… Từ văn học, có thể nhận ra một Việt Nam nhiều tiếng nói, nhiều sắc màu, trong đó văn học các dân tộc thiểu số góp phần quan trọng làm nên diện mạo đa dạng và đa sắc.
Quả thực, từ sau Cách mạng Tháng Tám, góp phần quan trọng vào sự hình thành của nền văn học Việt Nam hiện đại là những tiếng nói của các tác giả dân tộc thiểu số được nuôi dưỡng từ nhiều không gian văn hóa và ngôn ngữ. Các thế hệ nối tiếp nhau, từ những người đặt nền móng như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn đến những tác giả trưởng thành sau 1975, và các gương mặt trẻ đương đại.
Kế tiếp sự xuất hiện của những tác giả dân tộc thiểu số ở giai đoạn đầu trong thời kì chống Pháp là sự đổi mới trong cách hiện diện của những tiếng nói ấy ở những chặng đường về sau khi hòa bình lập lại, khi đất nước bước vào vận hội mới. Điều này đã tạo nên diện mạo riêng, vừa truyền thống vừa hiện đại của văn học dân tộc thiểu số. Nếu trước đây văn học các dân tộc thiểu số đôi khi vẫn được nhìn từ “bên ngoài”, được định danh bởi người miền xuôi, thì cùng với quá trình vận động của đời sống xã hội, các chủ thể sáng tạo này ngày càng ý thức rõ hơn về nhu cầu tự biểu đạt, tự xác lập bản sắc và vị thế của mình. Nhà văn kể về cộng đồng mình, về những vấn đề của đời sống hôm nay bằng chính kí ức và trải nghiệm của người trong cuộc, bằng đời sống văn hóa của chính họ. Nhưng những câu chuyện của họ không khép kín ở vùng đất mình, ở làng bản mình mà bước ra ngoài không gian rộng lớn hơn là đất nước. Bởi thế, câu chuyện về văn học các dân tộc thiểu số cũng gợi mở một cách nhìn rộng hơn về đất nước. Đất nước trở thành một thực thể thống nhất nhưng đa dạng, gần gũi mà không đồng nhất. Sự hiện diện của những khác biệt trong một chỉnh thể “thống nhất trong đa dạng” làm nên tính đa thanh và đa trung tâm của văn hóa Việt Nam.
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, có thể thấy đây không phải là một dòng văn học chỉ góp thêm “sắc màu” cho chỉnh thể văn học Việt Nam. Năm 1945 được xem là dấu mốc quan trọng khi văn học hiện đại các dân tộc thiểu số bắt đầu hình thành. Ngay từ những năm đầu của thời kì hiện đại, khi đất nước độc lập, các tác giả dân tộc thiểu số đã chủ động tham gia vào đời sống văn học mới với những sáng tác gắn với hiện thực cách mạng, với đời sống cộng đồng và những đặc điểm văn hóa riêng. Lớp nhà văn trưởng thành từ hoạt động tiền khởi nghĩa đã tạo nên một lực lượng sáng tác đáng kể, ôm chứa những nguồn đề tài phong phú từ cuộc sống và cuộc đấu tranh. Sau năm 1975, đội ngũ tác giả dân tộc thiểu số tiếp tục phát triển. Chất lượng tác phẩm từng bước thể hiện sự tự ý thức về bản lĩnh và vị thế của các cộng đồng ngày một rõ nét trong sự phát triển chung của văn học dân tộc.
Quá trình này gắn với sự hình thành và từng bước lớn mạnh của các thiết chế, diễn đàn văn học nghệ thuật. Hội nghị sáng tác văn học các dân tộc thiểu số ở miền Bắc lần thứ nhất tổ chức tại Thái Nguyên năm 1964 đã đặt ra những yêu cầu về phản ánh cuộc sống mới, phát triển các thể loại, đặc biệt là văn xuôi, xây dựng đội ngũ sáng tác. Những năm sau đó, các hoạt động nghiên cứu, lí luận, phê bình cũng từng bước được chú ý. Sau ngày đất nước thống nhất, Hội nghị các nhà văn, nhà thơ sáng tác về đề tài miền núi và các dân tộc tổ chức tại Hà Nội (1980) tiếp tục đặt ra yêu cầu phải có những tác phẩm có giá trị cao phản ánh đời sống vùng dân tộc. Từ những bước đi đó, tầm quan trọng của tiếng nói văn học các dân tộc thiểu số ngày càng được ghi nhận trong đời sống văn hóa, văn học quốc gia.
Trong quá trình ấy, nhà thơ Nông Quốc Chấn giữ một vị trí đặc biệt. Là một trong những gương mặt đặt nền móng cho văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, đồng thời đảm nhiệm nhiều trọng trách trong đời sống văn hóa văn nghệ, ông vừa sáng tác vừa trực tiếp góp phần xây dựng đời sống văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Với ông, vấn đề bản sắc và trách nhiệm của người cầm bút vì thế không chỉ là câu chuyện của sáng tác mà còn gắn với việc xây dựng một không gian để những tiếng nói ấy được cất lên. Những bài viết như “Bản sắc dân tộc trong thơ” và “Trả lời bạn thơ Mường” trong Đường ta đi (1972), “Độc lập hòa bình và trách nhiệm của nhà văn” trong Chặng đường mới (1985) cho thấy mối quan tâm nhất quán đến tính độc đáo của văn hóa dân tộc và vị trí của người viết trong đời sống chung. Cùng với sáng tác, sự hình thành ý thức lí luận ở những tác giả như Nông Quốc Chấn cũng góp phần xác lập quan niệm về bản sắc và vai trò của văn học tộc người trong tổng thể văn học Việt Nam.
Sau năm 1986, sự thay đổi về quan niệm sáng tác và ý thức cá nhân đã tạo ra một bước chuyển đáng chú ý. Với văn học các dân tộc thiểu số, mốc Đổi mới có thể được nhìn thấy khá rõ qua sự xuất hiện của một số tác giả thuộc vào thế hệ thứ hai. Tiêu biểu phải kể đến Y Phương và sau đó một quãng ngắn là Cao Duy Sơn. Năm 1984, Y Phương được trao giải A của tạp chí Văn nghệ Quân đội; đến năm 1987, tập thơ Tiếng hát tháng Giêng của ông được trao giải A của Hội Nhà văn Việt Nam. Nếu Y Phương đem đến cho văn học dân tộc thiểu số một giọng thơ Tày giàu bản sắc và có sức lan tỏa từ những năm đầu Đổi mới thì Cao Duy Sơn tạo dấu ấn rõ nét ở thể loại văn xuôi. Năm 1992, tiểu thuyết Người lang thang của ông được đánh giá là một trong hai tiểu thuyết hay nhất năm, nhận Giải Hữu nghị Việt - Nhật. Trong những sáng tác về sau, Cao Duy Sơn từng bước khẳng định một thế giới nghệ thuật riêng, trong đó không gian văn hóa Cô Sầu là nguồn cảm hứng bất tận. Các giải thưởng uy tín như giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Giải thưởng văn học ASEAN, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật lần lượt được trao cho không chỉ hai cây bút này mà còn cho nhiều cây bút dân tộc thiểu số khác từ sau Đổi mới. Những sự ghi nhận đó minh chứng cho sự bứt phá khỏi giới hạn địa phương, khẳng định vị thế vững chắc của văn học dân tộc thiểu số trong dòng chảy văn học chung.
Sự phát triển về đội ngũ cũng cho thấy rõ hơn quá trình này. Các công trình Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (1988), Nhà văn dân tộc thiểu số - Đời và văn (2003, 2004) cùng các tuyển tập của các chi hội, địa phương đã góp phần khẳng định diện mạo ngày càng phong phú của đội ngũ. Đặc biệt, Thơ dân tộc và miền núi đầu thế kỉ XXI (2011) giới thiệu 169 tác giả, Văn xuôi dân tộc và miền núi đầu thế kỉ XXI (2011) giới thiệu 63 tác giả - những con số này phần nào cho thấy sự tiếp nối của các thế hệ và sự mở rộng đáng kể của lực lượng sáng tác. Tuy nhiên, sự phát triển đội ngũ tác giả vẫn chưa đồng đều. Khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ vẫn còn thưa mỏng về thế hệ kế cận. Hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học dân tộc thiểu số cũng chưa thực sự mạnh mẽ, nhất là những công trình do chính các tác giả người dân tộc thiểu số thực hiện.
Cùng với sự trưởng thành của đội ngũ là sự phát triển của các thiết chế văn học. Năm 1991, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam được thành lập; năm 1997, Hội trở thành thành viên của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Các trại sáng tác, giải thưởng và hoạt động giao lưu, tọa đàm được tổ chức thường xuyên hơn. Sau 35 năm thành lập, tính đến nhiệm kì 2019-2024, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã phát triển được gần 1.500 hội viên thuộc các dân tộc và chuyên ngành khác nhau; riêng trại viết trẻ được duy trì qua nhiều năm, tạo điều kiện để nhiều tác giả trẻ trưởng thành và tham gia sâu hơn vào đời sống văn học.
Tuy nhiên, sự vận động mạnh mẽ của văn học các dân tộc thiểu số không chỉ căn cứ vào sự gia tăng của đội ngũ, hay số lượng tác phẩm. Những giải thưởng văn học quốc gia và quốc tế đã ghi nhận sự thay đổi tư thế của chủ thể sáng tạo trong văn học dân tộc thiểu số. Nhà văn dân tộc thiểu số xuất hiện với tư cách những con người kể chuyện về vùng đất, cộng đồng của mình, với những nỗ lực sáng tạo riêng. Họ chủ động kiến tạo và diễn giải đời sống nghệ thuật bằng những phương thức hiện đại, mới mẻ mà không xa lạ với văn hóa của mình. Một trong những nỗ lực và chủ động ấy thể hiện qua cách đặt nhan đề các tác phẩm. Núi, rừng, suối, sông, bản làng và những sinh hoạt văn hóa cụ thể trở thành chất liệu chính. Có thể kể đến: Xuân về trên núi, Rừng xanh, Tìm bạn rừng (Bàn Tài Đoàn); Đi tìm bóng núi, Hát với sông Năng (Dương Thuấn); Chiều biên giới, Những người con của núi, Lều nương (Lò Ngân Sủn); Suối làng, Mây vẫn bay về núi, Đầu nguồn mây trắng (Mai Liễu); Mắt rừng xanh, Con trai người Pa Dí (Pờ Sảo Mìn); Đàn then, Tháng Giêng tháng Giêng, một vòng dao quắm (Y Phương); Những chuyện ở lũng Cô Sầu, Non cao rừng thẳm (Cao Duy Sơn)... Những tên gọi ấy, ở những mức độ khác nhau, cho thấy không gian sống và kí ức văn hóa là một nguồn chất liệu đặc biệt quan trọng trong sáng tác. Và điều độc đáo còn đến từ cách biểu đạt. Từ thế hệ Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Y Điêng, Lò Ngân Sủn, Y Phương, Vương Anh, Pờ Sảo Mìn, Cao Duy Sơn… đến các tác giả trẻ hiện nay, có thể nhận thấy một nhu cầu tự thân trong việc tìm kiếm cách đi đến hiện đại từ truyền thống. Mạch nguồn truyền thống vì thế vừa là điểm tựa vừa là chất liệu để đổi mới. Văn học các dân tộc thiểu số bước ra khỏi không gian bản làng để đến với đông đảo bạn đọc nhưng không trở nên xa lạ với chính cộng đồng đã nuôi dưỡng mình.
Đi cùng với sự trưởng thành của đội ngũ là sự đa dạng hóa trong cách biểu đạt văn chương. Một thời gian dài, văn học các dân tộc thiểu số thường được đặt trong những khuôn mẫu như ngợi ca sự đổi đời của miền núi, cuộc sống mới hoặc tái hiện phong tục tập quán theo cái nhìn từ miền xuôi. Sau năm 1986, tinh thần Đổi mới đã giúp ý thức về bản sắc, bản lĩnh và vị thế cộng đồng được thể hiện rõ hơn. Những vấn đề phức tạp của đời sống hiện đại bắt đầu được nhìn từ nhiều chiều cạnh. Với văn học các dân tộc thiểu số, đây cũng là giai đoạn cái tôi sáng tạo tạo nên một bước ngoặt. Tiếng hát tháng Giêng của Y Phương có thể xem là một dấu hiệu sớm của sự chuyển dịch ấy. Sau dấu mốc này, xuất hiện ngày một nhiều hơn những sáng tác đi sâu hơn vào trải nghiệm cá nhân, thân phận con người và những va chạm giữa truyền thống với hiện đại.
Từ những năm 2000, trong sáng tác của nhiều nhà văn còn xuất hiện xu hướng “ra đi để trở về”. Y Phương, Lò Ngân Sủn, Cao Duy Sơn, Dương Thuấn, Mai Liễu... không lựa chọn hòa nhập vào trung tâm bằng cách rời bỏ không gian văn hóa của mình mà trở về với những chất liệu quen thuộc của bản làng, núi rừng, kí ức cộng đồng để xác lập và khẳng định căn tính. Sự va chạm với những vấn đề mới của đời sống như đô thị hóa, di cư và những đứt gãy văn hóa lại là cách thể hiện sự chủ động xác lập tư thế chủ thể rõ nét. Điều này có thể thấy khá rõ ở sáng tác của những cây bút từng sống và làm việc tại Hà Nội. Lò Ngân Sủn đặt Hà Nội bên cạnh Nà Rin để nhận diện sự khác biệt giữa hai không gian: “Hà Nội là của phố chợ, quán xá, nhà cửa nguy nga và tráng lệ”, còn Nà Rin là của thôn, của bản, của nhà tranh, vách đất (Hà Nội - Nà Rin). Sự đối sánh ấy giúp nhận rõ hơn nỗi thương nhớ và những khó nhọc của quê hương. Với Y Phương, sự va chạm ấy mang sắc thái gay gắt hơn. Thành phố hiện ra qua những “tường trắng”, những “ô vuông” và cảm giác bị bao vây, giam hãm, để rồi từ chính không gian ấy, nỗi nhớ về rừng núi, về quê nhà trở thành một lực kéo thường trực: “Cứ đi/ Cứ đi/ Đi đến khi nào nguôi ngoai/.../ Lại trở về ngôi nhà của mình/ Đầy ắp nỗi người” (Đầy ắp nỗi người). Nếu Lò Ngân Sủn và Y Phương nhìn thấy quê nhà rõ hơn trong thế tương phản với phố thị thì Dương Thuấn lại nhận ra cái khác lạ ấy bằng chính ý thức về nguồn cội: “Ở thành phố đã lâu không ngắm hoàng hôn/ Bữa nay ngồi cùng em trong quán đông/ Ung dung uống ly trà Đi mát/ Ta bỗng hỏi lòng: A, đâu phải hương xứ sở/ Ta lại tự trả lời:/ - Ồ, đây là hương tứ xứ! (Buổi chiều thành phố). Như vậy, việc bước vào một không gian văn hóa khác đã tạo ra khoảng cách cần thiết để các nhà văn, nhà thơ nhìn lại quê hương, nhận diện những giá trị thuộc về mình và từ đó chủ động xác lập tiếng nói riêng.
Tiếng nói riêng một phần quan trọng được thể hiện qua sự lựa chọn ngôn ngữ của các chủ thể sáng tạo. Việt Nam là một đất nước đa văn hóa và văn chương Việt Nam vì thế cũng là một nền văn chương đa ngôn ngữ. Trong quá trình phát triển của văn học các dân tộc thiểu số, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện biểu đạt mà còn gắn với ý thức về cộng đồng, về căn tính văn hóa. Về mặt lịch sử, quá trình khẳng định vị thế của các ngôn ngữ dân tộc luôn gắn với chính sách hình thành và phát triển chữ viết các dân tộc. Từ rất sớm, Nghị định số 206-CP ngày 27/11/1961 của Hội đồng Chính phủ phê chuẩn việc dùng chữ các dân tộc được hoàn thiện bằng Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980 về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số. Chính bởi vậy, giai đoạn những năm sau 1960 là thời kì nở rộ của sáng tác bằng tiếng dân tộc, từ thơ đến tiểu thuyết. Điều này cho thấy tiếng mẹ đẻ luôn giữ một vị trí đáng kể trong đời sống sáng tác các tác giả dân tộc thiểu số.
Sau Đổi mới, đặc biệt từ đầu thế kỉ XXI, việc sáng tác bằng tiếng dân tộc có biểu hiện suy giảm do những thay đổi của đời sống văn hóa xã hội, nhưng điều đó không đồng nghĩa với sự suy giảm của ý thức về ngôn ngữ. Nhà thơ Y Phương cho rằng “viết bằng tiếng Tày - Nùng, nếu hay thì còn gì bằng”, nhưng đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tác phẩm phải có người đọc, phải được hiểu, nếu sự pha tạp khiến người đọc không tiếp nhận được thì “chi bằng cứ viết bằng tiếng Việt”. Nhà thơ Mã A Lềnh lại lựa chọn viết bằng tiếng Việt nhưng cố gắng “phả hồn thơ dân tộc vào”, còn nhà văn Cao Duy Sơn khẳng định một cách dứt khoát: “Tiếng Việt là của chung. Dân tộc nào cũng có quyền dùng nó để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình.” Những quan niệm này cho thấy, sử dụng tiếng Việt hay tiếng mẹ đẻ không nhất thiết phải được nhìn như một lựa chọn loại trừ. Sự hiện diện của tiếng Việt trong văn học dân tộc thiểu số vì thế có thể được nhìn như một quá trình “nhập thân văn hóa”. Điều đáng chú ý chính là ở tư duy và cảm quan của chủ thể dân tộc thiểu số thẩm thấu vào ngôn ngữ chung, làm cho ngôn ngữ ấy trở nên đa dạng hơn. Sự vận động về ngôn ngữ cũng cho thấy bản sắc không phải một giá trị bất biến, được hình thành trong quá trình tiếp xúc, lựa chọn, chuyển dịch và sáng tạo. Một nhà văn dân tộc thiểu số sử dụng hai ngôn ngữ như hai con đường khác nhau để khẳng định sự hiện diện của mình.
Nhìn từ văn học các dân tộc thiểu số, hành trình của văn học Việt Nam hiện đại không chỉ là sự cộng hưởng của những tiếng nói khác biệt mà còn là quá trình các chủ thể từng bước tự biểu đạt và tự xác lập vị thế của mình trong đời sống văn học chung của đất nước. Từ cội nguồn văn hóa, những tiếng nói ấy chủ động làm mới truyền thống, lựa chọn cách biểu đạt và ngôn ngữ của riêng mình để tham dự vào một không gian văn chương ngày một rộng mở. Một nền văn học mạnh mẽ và thực sự thống nhất chính là nền văn học có khả năng dung chứa nhiều tiếng nói, nhiều sự khác biệt, trong đó mỗi tiếng nói được hiện diện bằng những trải nghiệm riêng. Bởi thống nhất trong đa dạng sẽ làm giàu thêm những hình dung về Việt Nam, mở thêm nhiều khả năng đối thoại với thế giới mà không bao giờ sợ đánh mất tiếng nói của chính mình.